Lưu trữ Blog

7 tháng 2, 2010

Nguyên Ngọc: Đi xa để lại nghĩ về gần


HOCMOINGAY. Sáng sớm ở Luang Prabang của nước Lào, khoảng từ 5h, không gì hay bằng ra đường và ngắm các nhà sư đi khất thực...
Lạ thay là một dân tộc, là những con người, suốt đời, suốt ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng lại dậy thật sớm, dọn mình thật thanh khiết rồi ra ngồi lặng lẽ và cung kính bên đường để chờ làm công việc hẳn là tự nguyện nhất trong những công việc ở đời. Mở đầu một ngày sống như vậy thì thật khó làm điều ác trong ngày. Và một chút nhận xét nữa: ở đây người ta sống chậm. Không quan tâm, không ham hố tốc độ. Hình như giữa sự thâm trầm của tu, chùa, sư và sự thanh thản của cuộc sống hằng ngày chẳng có mấy khoảng cách.

Tôi cũng đã được thấy các sư đi khất thực ở Sài Gòn. Rất khác, và cũng có thể ở đấy lại có cái hay khác: những người tu hành đi xin ăn giữa chợ đời chen chúc, xô bồ, cũng là tu nhưng là "tu giữa chợ". Là một thứ triết lý  tu hành thâm thuý riêng chăng?...

Ở Lào khác hẳn. Từ mờ sáng, người ta ra ngồi ven đường, mỗi người một vuông đệm nhỏ hay một chiếc ghế mây thấp, đàn bà thì quỳ, đàn ông xếp bằng, giỏ xôi đặt trước mặt. Rất sớm và rất trang trọng. Người ta bảo mình phải chờ sư, không được để sư chờ mình.

Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng hiến. Các sư đi thành đoàn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt, một khoảnh khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn vào cuộc lầm bụi hằng ngày. Cũng có khi nhận thức ăn xong, các sư dừng lại, hát một bài kinh ngân nga, cảm ơn và chúc phúc...

Lạ thay là một dân tộc, là những con người, suốt đời, suốt ngày nào cũng vậy, mỗi buổi sáng lại dậy thật sớm, dọn mình thật thanh khiết rồi ra ngồi lặng lẽ và cung kính bên đường để chờ làm công việc hẳn là tự nguyện nhất trong những công việc ở đời.
Mở đầu một ngày sống như vậy thì thật khó làm điều ác trong ngày. Và một chút nhận xét nữa: ở đây người ta sống chậm. Không quan tâm, không ham hố tốc độ. Hình như giữa sự thâm trầm của tu, chùa, sư và sự thanh thản của cuộc sống hằng ngày chẳng có mấy khoảng cách.

Một chị bạn cùng đi chiêm ngưỡng cảnh khất thực buổi sáng còn chỉ cho tôi một chi tiết: một bà cụ, sau khi dâng thức ăn cho sư, dành lại một ít xôi trong giỏ, bà trở về nhà, chậm rãi đi đến từng cây trong vườn, kính cẩn gắn những vón xôi nhỏ lên các chạc cây: bà "cho cây ăn". Dâng xôi cho sư và lại dâng xôi cho cây...

Ở Luang Prabang tôi được biết một điều: cả thành phố không nhà nào cao quá hai tầng, cố đô nép mình khiêm nhường bên bờ sông Mekong đoạn này rất êm ả, và bất cứ ai muốn chặt một cây nhỏ, ngay trong vườn riêng của mình, đều phải xin phép, rất khó khăn. 
Tôi bỗng nhớ đến Tây Nguyên, ngày trước trên ấy khi phải chặt một cây trong rừng, người ta cẩn trọng làm lễ xin phép rừng và tạ lỗi với cây. Có gì đó gần nhau quá giữa bà cụ Luang Prabang dâng xôi cho sư rồi lại dâng xôi cho cây, đều kính cẩn như nhau, và người Tây Nguyên của tôi thấy mình có lỗi với rừng, với cây mỗi khi buộc phải làm đau cây, đau rừng.

Giống quá, tự trong một chiều sâu rất sâu nào đó mà Luang Prabang vẫn giữ được, còn Tây Nguyên của tôi đang mất. Đến Luang Prabang, tôi đi xa để lại nghĩ về gần...

Sau mấy ngày ở phố Luang Prabang, tôi ra vùng ngoại ô, dừng lại ở bản Xiêng Đa của người Lào Lum. Vừa qua ở Xiêng Đa đã tổ chức lễ  Buot Ton May, phong sư cho các cây trong rừng. Làng kéo nhau vào rừng, mỗi người mang theo một tấm vải dài màu vàng, cắt thành những rẻo mỏng, đem buộc vào từng cây.

Cây được buộc vải vàng cũng như người được khoác áo cà sa, được đánh thức tính Phật, được phong sư. Và khi con người đánh thức tính Phật ở cây thì cũng tự đánh thức tính Phật ở mình. Cây được phong sư là vì trong cây vốn đã có chất sư. Ở Lào tất cả thanh niên lớn lên đều phải qua mấy năm ở chùa, cũng là để đánh thức tính Phật vốn sẵn trong mỗi con người.

Buot Ton May cũng lại gợi suy ngẫm đến cách nghĩ về tự nhiên và con người ở bên này. Ở đây, giữa tự nhiên, cây cỏ, với con người có gì khác nhau?

Trong tác phẩm Nhiệt đới buồn nổi tiếng, Claude Lévi-Strauss kể rằng người Bororo Nam Mỹ vẽ lên mặt những hình khác nhau để tự phân biệt, tự tách mình ra khỏi tự nhiên, chưa vẽ mặt thì con người còn hoang dã như tự nhiên, có hình vẽ trên khuôn mặt rồi con người mới trở thành văn hoá, thành xã hội, cao lên, cao hơn tự nhiên. Và xã hội thì có đẳng cấp. Mỗi đẳng cấp khác nhau vẽ mặt theo những huy hiệu đẳng cấp vậy.

Hoá ra người Lào Lum ở Xiêng Đa không cảm thấy có nhu cầu đó, họ không cảm thấy có nhu cầu đó để được cao lên cho bằng tự nhiên, thậm chí họ cố đánh thức dậy ở mình một cái chất nào đó để được cao lên cho bằng tự nhiên.

Hoặc cũng có thể hiểu cách khác: để không từ "tự nhiên" mà tụt xuống thành "văn hoá", tức thấp hơn. Cũng chính Claude Lévi-Strauss, ở một chỗ khác, trong tác phẩm Tư duy man dã, lại viết rằng "tư duy man dã đã không phải là tư duy của người man dã, mà là một thuộc tính phổ quát của tinh thần con người, biểu hiện chẳng hạn trong thơ và nghệ thuật".

Hình như người Xiêng Đa có biết - rất có thể tự trong bản năng thuần khiết, chứ không phải bằng ý thức - những tìm tòi và trăn trở kiểu Strauss ấy và có câu trả lời riêng của họ. Họ không sợ sự man dã.
Nói như Strauss, họ là những nhà thơ và đầy chất nghệ thuật. Họ không có nhu cầu tách mình ra khỏi tự nhiên, không sợ còn là tự nhiên thì không có, chưa có văn hoá. Bởi họ tin rằng trong tự nhiên có văn hoá. Con người đi tìm văn hoá trong hoà nhập với tự nhiên.

Người Xiêng Đa đánh thức dậy trong mình chất cây, chất rừng, chất tự nhiên mà họ coi là cao quý nhất - cái mà chúng ta coi là man dại và đã đánh mất, vứt bỏ, giày xéo trong cuộc đua chen để trở thành hiện đại.

Người Xiêng Đa, tôi được biết, cũng không đứng ngoài cuộc đua chen hiện đại, và trong cuộc đua ấy họ đã thắng theo lối của họ. Vừa qua, nhiều thế lực bên ngoài, kiêu căng hùng hổ có, dụ dỗ ranh ma có, đổ vào mua rừng Xiêng Đa, thậm chí mua đất rồi đưa người đến theo một tính toán đồng hoá lâu dài. Người Xiêng Đa trả lời giản dị, nhẹ nhàng: họ không bán Phật.

Đến nay rừng Xiêng Đa vẫn xanh ngút đại ngàn.

Đến  Xiêng Đa bây giờ có thể mua được những tấm thổ cẩm thật đẹp do các cô gái Xiêng Đa thong thả dệt trên các khung cửi của từng nhà. Các cô không dùng màu hoá học để nhuộm chỉ, thổ cẩm Xiêng Đa toàn màu tự nhiên của cây, của lá, của rừng. Mộc, bền, tinh khiết, đậm đà.

Mà, như ta đã biết, rừng, cây ở đây cũng là Phật, trong thổ cẩm dưới tay các cô gái Xiêng Đa có chất Phật... thâm thuý thay, một đất nước có tục khất thực đẹp quá buổi sáng, lại biết rằng có Phật trong cả những vật dụng hằng ngày.

Các cô gái Xiêng Đa dệt thổ cẩm có thu nhập khoảng 1 triệu kíp, tức là 2 triệu đồng VN một tháng. Vừa rồi có 20 hộ người Khơ Mú xin chuyển đến sống cũng bà con Xiêng Đa, được người Xiêng Đa nhận.

Chị Xy, chị Văn người Lào Lum Xiêng Đa dạy cho các chị người Khơ Mú nghề thổ cẩm, không chỉ dệt mà cả nhuộm bằng cây, lá rừng, tạo nên màu tự nhiên đẹp và quý. Người Khơ Mú không theo đạo Phật.

Cũng không sao, người Xiêng Đa bảo nói cho đúng Phật không phải là một tôn giáo, mà là một cách hiểu về cuộc đời, một cách sống, Phật có trong bất cứ ai...
Vậy đó, kết quả của một tư duy.

Tôi mới chỉ đến Xiêng Đa một thoáng. Đang rủ một số bạn mùa xuân này trở lại Luang Prabang, trở lại Xiêng Đa. Mùa xuân, đến, nhìn, gặp rừng và người, để nghĩ thêm về một cách tồn tại trên đời, cũng là hay, đúng không?

Nguyên Ngọc

(Tuổi Trẻ Tết 2010)

3 tháng 2, 2010

Cây súng và cây bút


HOCMOINGAY. Hồ Phương. Báo Nhân dân. "...Tôi vẫn còn có cây bút. Và "nhờ trời" vẫn còn túc tắc dùng được "vũ khí" này, vào khi này khi khác, và cùng với những người cùng thời vẫn còn có chỗ đứng trong đời sống văn chương xem ra có nhiều điều mới, lạ. Và tôi vẫn không nguôi thương nhớ người anh của tôi, người đồng chí đã hy sinh, càng không quên vị tướng anh hùng (Vương Thừa Vũ, ảnh Wikipedia) xuất thân từ công nhân đã có tầm nhìn, tầm suy nghĩ đáng kính biết bao. Ông đã có một tầm văn hóa không giống như văn hóa học đường thuần túy, mà là từ ánh sáng của Cách mạng và từ cuộc chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. "Anh có hai vũ khí"...
 
ND - Thiếu tướng, nhà văn Hồ Phương là một trong những nhà văn - chiến sĩ nổi tiếng của văn học cách mạng Việt Nam với nhiều tác phẩm được bạn đọc mến mộ. Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ðảng, qua bài viết dưới đây, ông kể lại về bước đầu văn chương của mình; và qua câu chuyện của ông có thể thấy, đối với nhà văn, khi tình yêu văn chương gắn liền với tình yêu đất nước và được dẫn dắt bởi lý tưởng của Ðảng, thì có thể sáng tạo nên những tác phẩm sống cùng bạn đọc, đồng thời nhà văn sẽ tìm được chỗ đứng của mình giữa lòng dân tộc.

Thuở nhỏ tôi là đứa trẻ ham nghe kể chuyện. Tôi có mấy ông anh, trong đó một ông hơn tôi năm tuổi rất mê truyện, cả truyện ta cả truyện tây, đọc xong thường kể cho tôi nghe. Muốn nghe quá, nhưng có hôm bận hoặc vì sao đó ông không kể, tôi van nài cũng không được. Hồi ấy, hằng ngày, cha chúng tôi thường cho mỗi con một hào làm tiền ăn quà. Nhiều khi tôi nhịn quà, "đút lót" cho ông anh, để được nghe kể chuyện. Tất nhiên, tiền thì ông không chê. Nhưng, mua bánh về lại chia cho tôi một nửa. Thế là hai anh em cùng ăn, ăn xong, tôi ngồi há hốc mồm ra nghe Không gia đình, Những người khốn khổ, Pôn và Viếc-gi-ni,... lại cả Thủy hử, Tam quốc, Liêu trai chí dị... Dần dần tôi cũng tự đọc thêm cả sách truyện của Tự lực văn đoàn, Tân dân, Ðời mới, Hàn Thuyên... rồi đọc các báo Ngày nay, Phong Hóa... nữa. Rồi ông anh tôi vào đại học và lên Hà Nội... Xa anh ấy tôi rất buồn, bắt đầu thi thoảng ngồi viết, viết cho mình... Tôi thường viết về con tàu Long Môn vàng khè chuyên chạy đường sông Hồng từ Hà Nội xuống Nam Ðịnh, Thái Bình và ngược lại. Ðó là con tàu có quá nhiều kỷ niệm với thuở ấu thơ của tôi. Quê tôi ở Hà Ðông, cha tôi lại làm việc ở một huyện xa xôi thuộc Thái Bình. Hằng năm tôi được theo cha về quê một lần để ăn Tết, bằng đường sông Hồng với con tàu Long Môn. Chỉ được mấy ngày vui và gặp mẹ ở quê nhà (mẹ tôi phải quán xuyến việc ở nhà, thi thoảng mới xuống Thái Bình vài ngày), sau đó tôi lại phải theo cha ra đi. Sông nước mênh mang, nỗi nhớ mẹ, nhớ anh, cùng tiếng còi tàu rền rĩ xa vắng sao mà buồn, buồn vô hạn (cho đến bây giờ tất cả hình ảnh cùng tiếng còi tàu ấy dường như vẫn còn in sâu và vang vọng mãi trong lòng tôi). Tôi cũng viết cả về cái phố huyện đìu hiu nơi cha con tôi đang sống ở đó.

Rồi một lần anh tôi từ Hà Nội xuống thăm, tình cờ thấy những tờ tôi viết còn giữ lại. Anh đọc xong, rất ngạc nhiên: "Em viết hay ai đây? Em viết để làm gì?" - "Em cũng không biết nữa". Ông anh hay kể chuyện ấy nói: "Em viết được đấy, nhưng buồn quá". "Thì em nghĩ em thấy thế nào viết thế thôi". Anh gật đầu: "Em nói cũng phải, cuộc sống của chúng ta bây giờ có lẽ thế cả, nghèo khổ và đáng buồn. Có gì vui đâu? Có gì để hy vọng?"... Hai hôm sau, anh đã phải trở về Hà Nội. Lúc chia tay anh nói thêm "Lớn lên chút nữa em sẽ hiểu. Bây giờ cứ viết đi. Anh cầu mong sau này em có thể viết tốt". Cũng không ngờ sau đó, tháng 7-1945, gia đình tôi được tin anh bị thực dân Pháp bắt vì là "sinh viên cộng sản Việt Minh". Cha tôi cuống lên, về Hà Nội tìm mọi cách "chạy" cho anh. Nhưng vô hiệu. Cả gia đình tôi chao đảo, tuyệt vọng. Nhưng may thay chỉ mấy tháng sau, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Cũng dịp ấy tôi cũng được về Hà Nội học. Nhưng còn mừng hơn: anh đã được trở về. Mừng không sao nói hết. Tuy nhiên cũng chỉ được gần một năm, anh tôi lại ra đi. Hôm ấy cả nhà ngạc nhiên: thấy anh mặc quân phục, đội mũ ca-lô đeo sao vàng. Anh cho biết, anh cùng một số bạn được điều vào quân đội và đưa một Chi đoàn đi Nam Tiến. Nói sao cho hết nỗi xúc động và vinh hạnh của cả gia đình tôi khi ấy... Anh ra đi được vài tháng thì toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Ðến lượt tôi, tôi cũng trở thành bộ đội, cùng đơn vị lên Việt Bắc sáp nhập vào Ðại đoàn 308 - Ðại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta. Theo lời anh, tôi tiếp tục viết. Bản thân cuộc sống và chiến đấu đầy gian lao nhưng vô cùng anh dũng của quân và dân ta cũng thúc giục tôi phải ghi chép lại... Hơn thế nữa, đã sớm có tờ Tạp san của Hội Văn nghệ thường xuyên phát xuống các đơn vị và địa phương, nhiều bài mang những ý kiến trao đổi của các nhà văn lớn, các nhà lý luận bàn về các quan điểm văn học - nghệ thuật của Ðảng trong chiến tranh và trong thời đại mới. Ðã có cả những cuộc tranh luận rất thẳng thắn và hữu ích trên một số báo chí cũng về các vấn đề văn hóa - văn nghệ... Bọn trẻ chúng tôi lúc bấy giờ đã đọc và vỡ vạc ra được nhiều. Từ đó, tôi viết khá liên tục. Cho tới cuối 1948 tôi mới nhận được thư của anh trai từ dưới Khu 3 gửi lên. Anh cho biết, do nhu cầu, anh được điều về mặt trận Hà Nội - Hà Ðông nhận công tác. Anh viết không nhiều và cụ thể về anh, mà hỏi tôi rất nhiều, về sức khỏe, công tác, đặc biệt anh không quên hỏi có viết được gì không? Và anh nhắc: Hãy viết tiếp đi, tất cả sẽ có ích đấy.

Tôi rất vui, và có thư trả lời anh ngay, không quên kể cho anh về những gì tôi đã viết, được in một số bài trên các báo lớn, được dư luận chú ý. Trong đó tôi kể lại trường hợp Thư nhà trong số 13 của Tạp chí Văn nghệ - Hội Văn nghệ kháng chiến, cho anh hay: Sau khi truyện ngắn ấy ra đời được hai, ba tháng, một hôm tôi được gọi lên gặp Ðại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ - người được mệnh danh là "hùm xám" - ông kiêm cả Bí thư Ðảng ủy và Chính ủy (đồng chí Song Hào về Sư đoàn 308 năm 1951). Ðược gọi lên, không biết việc gì, tôi cũng lo lo. Ông rất nghiêm. Khi gặp, ông hỏi tôi có phải là người viết Thư nhà không? Tôi càng lo. Khéo ông sẽ kỷ luật tôi về "tội" đã chiến đấu mà còn mê viết văn! Nhưng ông tươi cười nói, đại ý: Ông rất bận, ít khi đọc được sách báo, nhưng thấy anh em cho biết là Ðại đoàn ta có người viết truyện Thư nhà được hoan nghênh rộng rãi lắm, ông bảo kiếm về cho ông xem. Ðọc xong, ông rất thích, nên muốn gặp tác giả cũng để hoan nghênh. Rồi ông nghiêm trang nói: "Bây giờ anh có hai vũ khí trong tay đấy, một là cây súng, hai là cây bút. Vậy hãy dùng cả hai vũ khí ấy mà chiến đấu góp phần giải phóng đất nước!". Tôi không thể ngờ một vị tướng lại có cử chỉ đẹp và ý nghĩ hay như vậy. Tôi thật sự cảm kích, cảm ơn ông và hứa sẽ cố gắng.

Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, trong năm 1950 tôi đã được tin: anh tôi đã bị bọn Pháp giết hại. Bấy giờ mới được biết là anh được về phụ trách công tác tình báo trong nội thành và đã bị lộ, chưa rõ nguyên nhân. Tôi bị choáng mất một thời gian khá dài sau mới dần dần bình phục.

Cho tới hôm nay, tuổi đã cao, tôi không còn cây súng cụ thể như thời còn là lính của "hùm xám" Vương Thừa Vũ. Tuy nhiên, theo lời ông, tôi vẫn còn có cây bút. Và "nhờ trời" vẫn còn túc tắc dùng được "vũ khí" này, vào khi này khi khác, và cùng với những người cùng thời vẫn còn có chỗ đứng trong đời sống văn chương xem ra có nhiều điều mới, lạ. Và tôi vẫn không nguôi thương nhớ người anh của tôi, người đồng chí đã hy sinh, càng không quên vị tướng anh hùng xuất thân từ công nhân đã có tầm nhìn, tầm suy nghĩ đáng kính biết bao. Ông đã có một tầm văn hóa không giống như văn hóa học đường thuần túy, mà là từ ánh sáng của Cách mạng và từ cuộc chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. "Anh có hai vũ khí"...
 
Thiếu tướng, nhà văn HỒ PHƯƠNG 

Người theo dõi