HOCMOINGAY Báo SGTT.COM.VN ngày 4.7.2009 có bài "Bạn và tôi" ghi lại những nhàn đàm thấm thía, sâu sắc của Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Ngọc Trân và Thạch Thảo. Đồng thời cũng có bài viết khá hay "Hai nhà văn già và cô gái trẻ" của Minh Nguyễn viết về Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư và Trang Thế Hy. Một Nguyên Ngọc với “Chất tinh tuý và sang trọng của sự thô mộc một cách tự do”. Một Nguyễn Ngọc Tư " bản lĩnh và chuyên nghiệp, coi văn chương vừa là nghiệp, vừa là một trò chơi, vừa là cuộc đời, vừa là giấc mộng; Tư là nhà văn rất xã hội, nhưng xã hội một cách rất văn học, rất nghệ sĩ" Một Trang Thế Hy "người hiền của văn chương Nam Bộ"
BẠN VÀ TÔI
Phan Cẩm Thượng: Cũng như mọi người tuổi trung niên, tôi cũng trải qua thời thơ ấu gian nan và lúc nào cũng băn khoăn có việc làm, kiếm được tiền, song cuối cùng tôi mới thấy cách sống thế nào mới quan trọng. Vì thế nào ta cũng phải làm nghề gì đó, tiền cũng sẽ có ít hay nhiều. Tôi chọn nghệ thuật và nghiên cứu văn hoá cổ, làm bằng được dù cuộc sống như thế nào. Nhưng đó cũng không phải lối thoát, mặc dù sống với nghệ thuật hay vô cùng, rất tự do và toàn cái đẹp. Các triết gia Ấn Độ cho rằng từ thượng cổ đến nay, con người toàn được dạy cái bên ngoài mình, còn chính mình, bên trong mình là ai thì không bao giờ học, không hay biết gì cả. Tôi từng đi hội thảo xa với rất nhiều vị giáo sư tiến sĩ, mỗi vị mang theo một bọc thuốc, phòng không có máy điều hoà là không ngủ được, bàn rất nhiều chuyện to tát, nhưng hơi ốm một tí là cuống lên. Yoga hay thiền, khí công trước tiên là lối sống, sau đó mới là những phương pháp rèn luyện sức khoẻ. Lối sống đó đòi hỏi người ta quay về với bản thân mình, bao gồm cả việc hiểu gan thận mình đang ra sao, và từ bỏ những cái bên ngoài, những vật ngoại thân. Tôi nghĩ trong hoàn cảnh của chúng ta, rất nhiều người đang loạn tâm, nên cứ điềm tĩnh nhìn xung quanh và việc gì có ích cho cộng đồng thì làm.
Nguyễn Ngọc Trân - 76/10/14 Phan Tây Hồ, Q. Phú Nhuận, TP.HCM: Thưa anh Phan Cẩm Thượng, cách đây vài năm tôi tình cờ đọc được cuốn Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ pháp của anh, tôi cứ nghĩ anh đã đi tu thật rồi. Không ngờ, mới đây được đọc bài báo trên Sài Gòn Tiếp Thị, mới thấy, hoá ra anh đang “tu giữa chợ đời”. Cho tôi hỏi, để có đủ bản lĩnh và ý thức nhận ra những giá trị thật, giả giữa đời thường, phải cần những yếu tố nào? Để có một tinh thần mạnh mẽ như anh, liệu có cần ăn chay, niệm Phật?
Thạch Thảo - 15 Nguyễn Công Trứ, Nha Trang: Từ nhỏ tôi đã nghe câu: "Nhà cửa vạn gian ngả lưng ba thước. Thóc lúa đầy kho cơm bữa ba thưng". Càng lớn lên tôi càng hiểu người ta không cần quá nhiều tiền hay vật chất nói chung để sống, mà cần rất nhiều những giá trị tinh thần. Cái đó hoá ra lại dễ thấy: thiên nhiên, thơ văn, tranh ảnh, đời sống tình cảm, và nếu ta ngay từ nhỏ lấp đầy tâm hồn mình bằng những giá trị văn hoá đó, càng ít chỗ nghĩ đến miếng cơm, manh áo và chuyện thị phi. Ngược lại, tinh thần phong phú thì cũng không cần nhòm ngó sang người khác, cũng như có khả năng sống tốt bằng trình độ của mình. Điều đáng tiếc là con người bây giờ ngay từ nhỏ đã đầy đầu những thứ không cần thiết. Trẻ con học nhiều quá, trong khi các kiến thức khoa học và nhân văn cơ bản hoá ra lại không phải học nhiều, cứ thế mà thông minh trong cái u mê của mình, có thể đạt được rất nhiều thứ, bằng cấp, địa vị, tiền bạc, nhưng trong lòng lại trống rỗng, khi buồn chẳng biết kêu ai, khi ốm là đến bác sĩ, uống thuốc, không biết cách tự làm cho mình khoẻ. Tôi nghĩ rằng để nhận ra điều thật giả không khó, hai mặt đó lại là một phần của cuộc sống, nhưng nhận ra rồi thì có dám sống với cái thật không mới khó. Bản thân tôi cũng vậy. Tôi nghĩ không nhất thiết phải ăn chay, niệm Phật. Ăn chay hay ăn mặn là tuỳ theo thói quen và sức khoẻ của mình, không liên quan đến việc tu hay không. Còn niệm Phật để định tâm thì rất tốt, tự làm cho mình thanh tĩnh lại, nhưng chọn lấy một vài bộ kinh Phật có giá trị đọc hiểu càng tốt hơn, ví dụ như kinh Kim Cương, trong đó không có chút nào nói về thần thánh sự linh thiêng, mà chỉ nói về sự nhận thức chân thực. Tôi rất đồng tình với lời nói thật của anh “Khó khăn nhất không phải là thiếu tiền, cuộc sống chất lượng kém, mà chính là không nhìn thấy tương lai”. Thế hệ 7X của chúng tôi lớn lên và cảm thấy bất an, chuệnh choạng vào những năm đầu thập niên 90 – thời đất nước mới mở cửa. Nhiều luồng văn hoá du nhập trộn lẫn với việc cổ xuý mọi người làm kinh tế để kiếm tiền, và tôi cảm thấy mình bị xay nghiền trong những “trào lưu” đó, chính vì thế, chúng tôi phải đi học yoga, thiền, khí công… để tự cân bằng, tự đứng được. Nhưng quả thật, càng sống càng thấy hụt hẫng… Rất mong anh cho tôi một lời chia sẻ.
HAI NHÀ VĂN GIÀ VÀ MỘT CÔ GÁI TRẺ
Minh Nguyễn
SGTT - Mấy năm gần đây, hai nhà văn già Trang Thế Hy – Nguyên Ngọc thường hò hẹn mỗi năm có một ngày ngồi với nhau để uống ly rượu hội ngộ. Năm nay, một ngày hè, con đường đất vào nhà ông Trang Thế Hy hoa mua tím như dày hơn. Cuộc gặp gỡ giữa hai nhà văn già chỉ xoay quanh chuyện - tình - yêu - văn - chương - chữ - nghĩa. Câu chuyện của họ trở nên hào hứng khi cả hai đều “ham” một người, người đó là cô gái trẻ: Nguyễn Ngọc Tư
Người tình của văn chương
Họ quen nhau đã vài mươi năm, còn biết nhau thì lâu hơn nữa. Ở hai đầu đất nước, người này đọc của người kia một vài truyện ngắn, truyện vừa, một vài bài thơ. Dường như rất khác nhau trong cuộc sống nhưng họ lại có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều sống sâu đậm với kỷ niệm, có trí nhớ tuyệt vời, cùng thuộc làu những bài thơ, những đoạn văn bằng tiếng Pháp từ thời tiểu học ở trường Tây. Nguyên Ngọc lui cui dịch, cổ xuý cho Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Milan Kundera. Trang Thế Hy tìm đọc từ nguyên bản tiếng Pháp. Ông sửa một câu của M.Kundera: “Trí nhớ là một vũ khí của người yếu chống lại cường quyền” thành “Trí nhớ là một vũ khí của người yếu chống lại cái ác”. Khi tôi hỏi về việc này, Nguyên Ngọc nói, đó chính là sự thâm thuý và nhân hậu phương Đông mà chỉ Trang Thế Hy mới có. Cả hai cùng được tinh luyện về nhân cách và sáng tạo tại các chiến trường ác liệt nhất trong những năm tháng chiến tranh, chống Pháp rồi chống Mỹ. Trang Thế Hy hoạt động trong lòng địch, chịu đựng bom đạn ở vùng tam giác sắt Củ Chi. Nguyên Ngọc – người lính chiến thực thụ tại khu 5 và Tây Nguyên. Họ có cùng một tình yêu văn chương và trân trọng những tài năng trẻ. Chữ nghĩa đối với họ là điều thiêng liêng. Kỹ lưỡng từng chữ một. Có thể cách thể hiện tình yêu đó khác nhau. Trong nhiều lần nói về nghề viết văn và tâm thế của nhà văn, Trang Thế Hy tự gọi mình là “người tình thuỷ chung nhưng hờ hững của văn chương”. Ông giải thích thêm rằng ông không đủ đam mê để đắm say theo đuổi người tình ấy. Còn “hờ hững” – theo ông – “hàm chứa sự vương vấn, bịn rịn, lòng vẫn biết không thể sống trọn vẹn với nhau nhưng không đành lòng dứt bỏ. Một tình yêu không mãnh liệt nhưng đến chết vẫn còn yêu”. Và biết đâu, khi bước qua thế giới khác, tình yêu đó vẫn vậy. Tôi trộm nghĩ, với ông, hờ hững là cách giữ cho tình yêu văn chương vĩnh cửu mà thôi. “Còn Nguyên Ngọc đối với văn chương?” – tôi hỏi. Ông cười thật sảng khoái: “Là người tình thuỷ chung một cách sấn sổ. Đôi lúc bị đẩy ra nhưng cứ liều mạng nhảy vào, thành tâm, da diết và hồn nhiên”. Cứ thế, ông đang viết về những nếm trải của đời mình trong những khúc quanh lịch sử. Cùng lúc, ông dịch và hiệu đính những cuốn sách quý giá khác mà mình yêu thích: Nhẫn thạch của Atiq Rahimi, giải Goncourt 2008, đang chuẩn bị in nối bản lần hai và Nhiệt đới buồn – Claude Lévi-Strauss. Sự sấn sổ của Nguyên Ngọc là vậy đó. Ông đi nhiều hơn người trẻ, viết nhiều hơn người trẻ, cả những bức xúc xã hội mà kẻ sĩ không thể làm thinh. Thời gian đối với ông không ngừng lại. Ông bảo đó chính là cách thể dục đầu óc, làm chậm bớt sự già cỗi của tâm hồn và trí tuệ. Nhà văn Trung Trung Đỉnh một lần nhận xét: “Đố ai tìm được sự già nua và sự cũ kỹ trong văn chương cũng như cách sống của Nguyên Ngọc”. Còn với Trang Thế Hy, ông hay mượn lời của nhà văn Nga Erenburg: “Học làm người già là một khoa học đầy khó khăn” để nói về cách ứng xử của mình từ ngày “đi chỗ khác chơi”. Ông vẫn đọc rất nhiều, vẫn dõi theo những người trẻ.
Có một câu hỏi chung hơi cũ dành cho hai người: “Khi ngồi trước trang giấy trắng, ông nghĩ gì?”. Vẫn thế, theo cách rất Trang Thế Hy: “Cái gì mình không yêu mến hay chưa kịp yêu mến thì đừng giả bộ yêu mến”. Mọi sự giả bộ đối với Trang Thế Hy đều lố bịch. Còn Nguyên Ngọc, bao giờ cũng vậy, “quyết liệt yêu, quyết liệt giữ lấy sự chân thành và giữ lấy tự do cho chính mình”.
Tôi bỗng nhớ lời của cựu tổng thống Pháp F. Mitterrand: Lang bang phóng túng là bản chất của sự sáng tạo.
Về hai bức hoạ chân dung
Nhà văn Trang Thế Hy đón mọi người trong căn chái bề ngang chừng ba mét, chiều dài sáu mét vừa xây xong. Mùi sơn hãy còn. Đặt tay lên tường, sơn dính trắng. Chỗ này khi trước là khoảng sân nhỏ, có cây xoài, dưới gốc lủng lẳng những giò lan rừng… Có những giò lan trổ bông nhưng cũng có nhiều giò lan lưa thưa lá. Cái chái nhà nhỏ lắm, xây theo kiểu nhà tiền chế, mái vòm lợp tôn chỉ vừa đủ để bộ bàn nước bằng ximăng cẩn sành sứ của nhóm bạn Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Chức chở từ Sài Gòn xuống tặng ông cách đây ít lâu. Tự trào về cái chái nhà mới, Trang Thế Hy nói dõng dạc: “Há chẳng phải đời sống của ta được nâng cao ngang tầm với sự phát triển kinh tế đất nước đó sao”. Nụ cười của ông khi đó thật hóm hỉnh.
Ông mang bức chân dung do Nguyễn Trung vẽ, ông bảo vừa làm xong cái khung và từ nay, có chỗ cho tấm tranh này. Ông nói với mọi người rằng Nguyễn Trung không vẽ chân dung ông mà vẽ “nỗi buồn mang gương mặt Trang Thế Hy”. Một nhận xét xác đáng và rất Trang Thế Hy. Ông thường luận giải về nỗi buồn. Tôi nghe ông nói rất nhiều lần: viết văn trước hết là để tu thân, là đương đầu với nỗi buồn, để giảm đau, vượt lên nỗi đau và tồn tại.
Giống như Trang Thế Hy, Nguyên Ngọc cũng được hoạ sĩ Đinh Quang Tĩnh vẽ và post lên mạng một tấm chân dung. Hỏi về bức hoạ này, Nguyên Ngọc nói: “Hồi tôi làm báo Văn Nghệ, Đinh Quang Tĩnh có vẽ nhiều chân dung tôi. Có một số bức khá. Không hiểu vì sao anh ấy lại đưa ra bức mới này, bức kém nhất – không phải xấu hay đẹp trong bút pháp – mà vì hoàn toàn không có chút chất Nguyên Ngọc nào cả. Hôm trưng bày, anh Văn Như Cương ngồi cạnh tôi cũng bảo thế. Thôi cũng chẳng nên nhắc đến cuộc ấy làm gì”. “Thế chất Nguyên Ngọc là chất gì vậy, thưa ông?” – Tôi hỏi. “Chất tinh tuý và sang trọng của sự thô mộc một cách tự do” – ông nói.
Cả hai đều “ham” cô gái trẻ
Dông dài chuyện Đông – Tây – kim – cổ, những câu thơ tình tuyệt hảo của R. Tagore về tình yêu trong cuộc hò hẹn lần này của hai ông nhà văn già rồi cũng nhường lại cho câu chuyện văn chương của những người trẻ. Ông Trang Thế Hy kể, trước đây, ông và nhà văn Sơn Nam thường gặp nhau mỗi năm một lần vào những ngày đầu năm. Câu chào bằng tiếng Pháp thường được hiểu là: Có gì mới? Có một năm, ông Sơn Nam tự dưng trả lời ông dông dài: “Năm nay trong Nam có chuyện nông dân biểu tình, ngoài Bắc có Nguyễn Huy Thiệp viết truyện ngắn hay”. Chột dạ, ông sửa lại câu của Sơn Nam: “…Trong Nam trúng mùa, ngoài Bắc có Nguyễn Huy Thiệp viết truyện ngắn hay”. Thời đó, ông Nguyên Ngọc là người dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho văn chương của lớp Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Cả hai ông đọc gần như không sót và nhớ kỹ giọng điệu từng truyện của mỗi người. “Còn với Nguyễn Ngọc Tư?” – tôi hỏi. Được biết hai ông đọc khá kỹ từ tản văn, truyện ngắn đến Cánh đồng bất tận, Gió lẻ của cô. Nguyên Ngọc là người mail truyện Gió lẻ cho mọi người khi báo Sài Gòn Tiếp Thị chưa khởi đăng. Ông nói: “Gần đây, một số tạp bút của Nguyễn Ngọc Tư có hơi chững lại, không còn giữ được nhiều sự thâm trầm và sắc sảo như trước. Nhưng có lẽ cũng không sao, người ta viết lên xuống là thường. Tôi vẫn tin Nguyễn Ngọc Tư. Cô ấy rất có bản lĩnh. Một trong những nét bản lĩnh đó là cô luôn thấy văn chương của mình có vấn đề, luôn thấy cần thay đổi, đồng thời vẫn là mình. Gần đây, trong một bài viết, Tư đã nói rằng cô sợ mình “nhạt” đi, một người viết biết được như thế là rất giỏi. Chắc Tư còn tự thay đổi, sẽ khác đi, mà vẫn là Tư. Chỗ hay thứ hai của Tư (có lẽ gần giống Trang Thế Hy) là cô ấy vừa coi văn chương là chuyện rất quan trọng, thậm chí có lẽ Tư là nhà văn có chất chuyên nghiệp nhất hiện nay ở ta. Cô biết văn chương là chuyện trọng đại. Nhưng đồng thời cô cũng biết, nói cho cùng ra, đó cũng không phải là chuyện quan trọng nhất ở đời. Vừa là nghiệp, vừa là một trò chơi, vừa là cuộc đời, vừa là giấc mộng. Có đó, mà cũng không có gì cả. Cũng đừng quan trọng hoá nó. Cô ấy cũng có “cái chung thuỷ hờ hững” của Trang Thế Hy – người hiền của văn chương Nam bộ. Nếu thêm một đặc điểm nữa của Tư: Tư là một nhà văn rất xã hội, nhưng xã hội một cách rất văn học, rất nghệ sĩ. Không văn học “minh hoạ” hay “ám chỉ” như kiểu đang tầm thường, nhạt phèo bây giờ. Chính vì vậy, qua những bức xúc thời sự, Tư có cái tài biến nó thành cái nhân loại. Cánh đồng bất tận là một ví dụ đặc sắc”.
Họ có cùng một tình yêu văn chương và trân trọng những tài năng trẻ. Chữ nghĩa đối với họ là điều thiêng liêng. Kỹ lưỡng từng chữ một
Không khác với ý kiến của Nguyên Ngọc nói về Nguyễn Ngọc Tư, Trang Thế Hy hay kể những câu chuyện, những quan sát trực diện của mình về Tư. Ông bảo: “Con nhỏ đó tinh tế lắm. Nó dám nói rằng vì có một ông già trên 80 tuổi hò hẹn với nó nên nó phải ba chân bốn cẳng chạy nhanh tới gặp vì nếu trễ hẹn thì đâm ra thất thố”. Có một hôm, Tư đến thăm và ngủ lại nhà, đêm khuya, sợ Tư mệt, ông hỏi “Nhỏ buồn ngủ chưa?” – Tư trả lời gọn hơ: “Chú chưa ngủ sao con dám buồn ngủ được”. Đến hừng sáng, Tư tự quảy túi, len lén đi mà không chào từ biệt vì sợ ảnh hưởng đến giấc ngủ của ông. Ông hay dùng từ “viết thấy ghê” để chỉ những tạp bút sắc sảo và những truyện ngắn, truyện vừa có tầm khái quát cao của Nguyễn Ngọc Tư. Từ Cánh đồng bất tận đến Gió lẻ, Trang Thế Hy đã xem Tư như là người đồng thời, người chia sẻ được nỗi đau thân phận con người.
Trong câu chuyện bàn luận giữa hai nhà văn già và cô gái trẻ, tôi xen vào hỏi một câu: “Vậy Nguyễn Ngọc Tư “ham” hai nhà văn già này hay ngược lại?”. Đôi mắt sâu, tinh anh trên khuôn mặt nhăn nheo của Trang Thế Hy đang cười. Ông bảo: “Dường như cả ba người chúng tôi: Trang Thế Hy – Nguyên Ngọc – Nguyễn Ngọc Tư – đang “ham” nhau!”.
Tôi chưa gặp Tư để xác tín điều này.
Minh Nguyễn
Lưu trữ Blog
5 tháng 7, 2009
29 tháng 6, 2009
Chúng ta làm theo quy trình ngược?
HOCMOINGAY Nhà sử học Dương Trung Quốc trên báo Lao Động Cuối tuần số 26 ngày 28/06/2009. đã suy ngẫm về quy trình triển khai chính sách đối với người có công mà chúng ta đang làm. Ông nói lẽ ra Nhà nước nên chủ động đi tìm người có công để khen thưởng, đãi ngộ thì ta lại làm cái chuyện mọi người báo công để cấp trên xét thưởng. Chính vì thế đã làm phiền những người có công thực và tạo ra những kẻ cơ hội "chạy công giả" làm tốn kém tiền của và mất lòng tin của dân. ...
(LĐCT) - Kỳ họp Quốc hội vừa rồi, tôi có một điều muốn chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội mà không được vì đăng ký vừa đến lượt mình thì hết giờ chất vấn.
Nội dung này tôi cũng đã trao đổi bên hành lang với bà bộ trưởng. Đó là việc cho đến ngày hôm nay, cố Tổng Bí thư của Đảng là Nguyễn Văn Cừ vẫn chưa được cấp bằng truy tặng liệt sĩ. Cho dù, trong sách giáo khoa và nhiều sách báo đều nói đến việc ông bị thực dân Pháp giải ra pháp trường xử bắn cùng với nhiều vị lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Đông Dương sau khi cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại cách đây đã ngót... bảy chục năm rồi. Hỏi vì sao, thì câu trả lời thật đơn giản, chỉ có điều nghe ra thì hơi lạ, là "chưa có ai đứng ra đăng ký báo tử (!)".
Trên diễn đàn chất vấn của Quốc hội, khi có người đề cập đến những trường hợp tương tự thì câu trả lời cũng vẫn như vậy. Điều đó có nghĩa thủ tục ấy là một điều kiện tiên quyết. Đến ngày đi tiếp xúc cử tri, cũng như mọi chuyến đi lần trước, thế nào cũng lại gặp những cụ ông, cụ bà số đông là những cựu chiến binh của mấy cuộc chiến tranh với những tập hồ sơ dày cộp và nhàu nát đến than phiền rằng mấy chục năm nay làm không xong cái thủ tục "xin chính sách".
Có cụ tâm sự rằng tốn kém không ít tiền của và thời gian, lặn lội gõ không biết bao nhiêu cửa mà vẫn không xong. Đặt lên cân thì có khi các khoản chính sách cho không bằng cái mình đã bỏ ra, nhưng các cụ e sợ nhất là sau này cháu chắt nó không tin rằng mình đã đi "làm cách mạng". Có đứa cháu có lẽ vì thương ông, bà mà bảo "thôi chúng cháu không cần ông bà đi làm việc đó nữa, cứ để chúng cháu nuôi", nghe thế các cụ lại càng tủi.
Trong câu chuyện các cụ bảo rằng các cô cậu công chức trẻ có trách nhiệm thụ lý các hồ sơ thường chẳng mấy thông hiểu để thông cảm về cái thời của các cụ nên cứ đòi hỏi cả những cái mà không thể nào có, nhất là thời chiến, rồi bom đạn, nhà cháy, lụt bão, anh em đồng đội phát tán khắp nơi, lưu trữ chưa quen nền nếp, khó lòng mà đủ đầy các loại giấy tờ theo yêu cầu, đó là chưa kể có những lúc hồ sơ trên đường đi qua các cửa lại biến mất, phải làm đi làm lại...
Thật ra, nghiên cứu hệ thống pháp luật chính sách đã có thì không phải là không chu đáo. Với một cuộc cách mạng lấy dân làm gốc, với những cuộc kháng chiến "toàn dân vi binh", lại kéo dài vài, ba, bốn thập kỷ, thì đối tượng những người có công thật là đông đảo, đa dạng và đương nhiên vì thế làm chính sách là vô cùng phức tạp. Không biết bao nhiêu văn bản điều chỉnh, bổ sung với lòng thành muốn ai có công cũng được thưởng.
Cụ Hồ đã từng khái quát khi bàn về khen thưởng là làm sao cho đúng và kịp thời. Nếu bàn về sự đúng và sự kịp thời trong chính sách đối với người có công ta mới thấy nhiều điều phải nói.
Người nước ta vẫn biết đến nhiều điển tích và theo tập quán của người Trung Hoa, nên còn nhớ cái tích truyện gắn với sự tích Tết Hàn thực. Thời Xuân Thu Chiến Quốc loạn lạc, tại một quốc gia không lớn là nước Tấn, tình hình rối ren, các thế lực tranh giành quyền lực, Công tử Trùng Nhĩ cũng đang bươn chải trong cuộc tranh cạnh giành quyền lực đương thời. kéo dài tới 17 năm.
Xung quanh Công tử Trùng Nhĩ có nhiều người thân tín theo chủ để mong kiếm bổng lộc, lợi quyền khi chủ thành đạt. Trong số đó, có một người ở chức nhỏ là Giới Tử Thôi vốn người tận tuỵ nhưng khiêm nhường. Đến một lần gặp bước đường cùng, bầu đoàn đang đói khát thì Công tử Trùng Nhĩ được Giới Tử Thôi dâng lên một bát thịt đầy, cho chủ nhân qua được cơn bĩ cực. Bát thịt ấy theo tích truyện là cắt từ đùi của kẻ công bộc xả thân vì chủ.
Rồi cuối cùng Công tử Trùng Nhĩ thành đạt, giành được ngôi báu, trở thành Tấn Văn Công nổi danh trong chính sử. Lúc đó những người thân tín đều giành được những bổng lộc cho mình. Riêng Giới Tử Thôi hoặc không màng hoặc bị quên lãng nên ông trở về cùng mẹ sống bình dị nơi quê nhà.
Đến lúc Tấn Văn Công nhớ ra ân nhân đã cứu sống mình bèn vội tìm đến nhà để ban thưởng. Không rõ vì lòng tự ái hay tự trọng mà câu chuyện kể rằng hai mẹ con họ Giới đã bỏ nhà, trốn vào rừng sâu khiến nhà vua sốt ruột bèn nghĩ kế đem lửa đốt ba phía để mong ân nhân của mình ra khỏi rừng sâu để nhà vua có cơ đáp trả ơn xưa.
Nhưng kết quả là mẹ con họ Giới chết thiêu trong rừng, sự việc xảy ra vào ngày 3 tháng 3 năm ấy vì thế nhà vua ban lệnh hàng năm đến ngày này mọi người không đốt lửa để tưởng nhớ đến người xưa và chuyện cũ...
Tích truyện Tết Hàn thực có thể hiểu theo nhiều cách. Nhưng ứng vào cái việc đang nghĩ ngợi thì thấy rằng phải chăng quy trình triển khai chính sách đối với người có công ngược với quy trình lẽ ra phải làm.
Thay vì Nhà nước chủ động đi tìm người có công để khen thưởng, đãi ngộ thì ta lại làm cái chuyện mọi người báo công để cấp trên xét thưởng. Vì thế mà không chỉ tạo ra những phiền toái cho những người thực có công lại còn tạo ra cái nghịch lý giúp những kẻ cơ hội thay vì báo công thực lại đi "chạy công giả".
Chính trong trả lời chất vấn, bà bộ trưởng cũng phải nói đến hiện tượng "thương binh giả", "lão thành cách mạng giả". Điều ấy không chỉ ngốn của Nhà nước những khoản chi không nhỏ mà tệ hại hơn nó còn làm mất lòng tin của dân và chạm đến lòng tự trọng của nhiều người có công thực sự.
Hồi mới giành độc lập chúng ta nhớ đến hai lần Chủ tịch Chí Minh viết bài cho đăng trên báo như lời bố cáo yêu cầu các địa phương phát hiện nhân tài tiến cử cho quốc gia và nhận lỗi về mình vì đã chưa biết tới những người có tài được mời ra gánh việc nước. Đó cũng là cách ông cha ta đã làm khi nhiều triều đại đã ban "chiếu cầu hiền". Mà đã cầu hiền thì khi sự nghiệp thành công thì việc tìm người có công để ban thưởng cũng là lẽ đương nhiên.
Mới đây, nhân theo dõi đề tài nghiên cứu lịch sử kháng chiến vùng Nam Bộ, tôi được biết đến một nhân vật nay năm nay đã bước vào tuổi lục tuần. Ở độ tuổi đôi mươi, cô gái vùng Đất mũi Cà Mau ấy đã từng tham gia nhiều hoạt động vũ trang ở địa phương và trực tiếp lập chiến công lớn khi mưu trí và dũng cảm đánh đắm một hạm tàu lớn của Mỹ, cách đây đúng 40 năm (10.1969).
Chị kể rằng đánh thắng xong thì cũng là lúc chị trở về quê rồi sinh con, lo việc nhà, rồi thấy chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất hoà bình chị cũng chẳng có dịp liên hệ với đơn vị cũ. Vả lại nhớ đến nguyên tắc giữ gìn bí mật cho trận đánh, chị cũng chẳng bao giờ kể lại trận đánh với ai cả và đương nhiên cũng chẳng viết đơn báo công hay xin chính sách.
Mãi tới gần đây, phải nhờ một vị lão thành có uy tín, những người viết sử mới gặp được chị để lấy tư liệu và phải khó khăn lắm chị mới chịu "vi phạm nguyên tắc" kể lại chiến công xưa...
Tuy đã đứng tuổi, nhưng chị rất hồn nhiên xem những chiến công mà nhiều người đánh giá là "hiển hách" ấy như một cái gì rất bình thường mà hoàn cảnh đất nước khi đó khiến chị hành động như một lẽ thường tình. Hỏi lúc này chị ao ước gì nhất, thì câu trả lời cũng rất thật và hồn nhiên là được ra Hà Nội thăm Lăng Bác.
Cách đây đã lâu, trên mục "Nghĩ ngợi cuối tuần" tôi đã viết bài "Những tấm huân chương bị bỏ quên", thì mới đây, sau sáu thập kỷ kể từ ngày Bác Hồ ký sắc lệnh, những tấm huân chương ấy đã được trao.
Còn có biết bao nhiêu người có công mà chưa được ai biết tới thì chắc chắn là không ít, phải chăng một phần vì chúng ta làm theo quy trình ngược?
Dương Trung Quốc
(LĐCT) - Kỳ họp Quốc hội vừa rồi, tôi có một điều muốn chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội mà không được vì đăng ký vừa đến lượt mình thì hết giờ chất vấn.
Nội dung này tôi cũng đã trao đổi bên hành lang với bà bộ trưởng. Đó là việc cho đến ngày hôm nay, cố Tổng Bí thư của Đảng là Nguyễn Văn Cừ vẫn chưa được cấp bằng truy tặng liệt sĩ. Cho dù, trong sách giáo khoa và nhiều sách báo đều nói đến việc ông bị thực dân Pháp giải ra pháp trường xử bắn cùng với nhiều vị lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Đông Dương sau khi cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại cách đây đã ngót... bảy chục năm rồi. Hỏi vì sao, thì câu trả lời thật đơn giản, chỉ có điều nghe ra thì hơi lạ, là "chưa có ai đứng ra đăng ký báo tử (!)".
Trên diễn đàn chất vấn của Quốc hội, khi có người đề cập đến những trường hợp tương tự thì câu trả lời cũng vẫn như vậy. Điều đó có nghĩa thủ tục ấy là một điều kiện tiên quyết. Đến ngày đi tiếp xúc cử tri, cũng như mọi chuyến đi lần trước, thế nào cũng lại gặp những cụ ông, cụ bà số đông là những cựu chiến binh của mấy cuộc chiến tranh với những tập hồ sơ dày cộp và nhàu nát đến than phiền rằng mấy chục năm nay làm không xong cái thủ tục "xin chính sách".
Có cụ tâm sự rằng tốn kém không ít tiền của và thời gian, lặn lội gõ không biết bao nhiêu cửa mà vẫn không xong. Đặt lên cân thì có khi các khoản chính sách cho không bằng cái mình đã bỏ ra, nhưng các cụ e sợ nhất là sau này cháu chắt nó không tin rằng mình đã đi "làm cách mạng". Có đứa cháu có lẽ vì thương ông, bà mà bảo "thôi chúng cháu không cần ông bà đi làm việc đó nữa, cứ để chúng cháu nuôi", nghe thế các cụ lại càng tủi.
Trong câu chuyện các cụ bảo rằng các cô cậu công chức trẻ có trách nhiệm thụ lý các hồ sơ thường chẳng mấy thông hiểu để thông cảm về cái thời của các cụ nên cứ đòi hỏi cả những cái mà không thể nào có, nhất là thời chiến, rồi bom đạn, nhà cháy, lụt bão, anh em đồng đội phát tán khắp nơi, lưu trữ chưa quen nền nếp, khó lòng mà đủ đầy các loại giấy tờ theo yêu cầu, đó là chưa kể có những lúc hồ sơ trên đường đi qua các cửa lại biến mất, phải làm đi làm lại...
Thật ra, nghiên cứu hệ thống pháp luật chính sách đã có thì không phải là không chu đáo. Với một cuộc cách mạng lấy dân làm gốc, với những cuộc kháng chiến "toàn dân vi binh", lại kéo dài vài, ba, bốn thập kỷ, thì đối tượng những người có công thật là đông đảo, đa dạng và đương nhiên vì thế làm chính sách là vô cùng phức tạp. Không biết bao nhiêu văn bản điều chỉnh, bổ sung với lòng thành muốn ai có công cũng được thưởng.
Cụ Hồ đã từng khái quát khi bàn về khen thưởng là làm sao cho đúng và kịp thời. Nếu bàn về sự đúng và sự kịp thời trong chính sách đối với người có công ta mới thấy nhiều điều phải nói.
Người nước ta vẫn biết đến nhiều điển tích và theo tập quán của người Trung Hoa, nên còn nhớ cái tích truyện gắn với sự tích Tết Hàn thực. Thời Xuân Thu Chiến Quốc loạn lạc, tại một quốc gia không lớn là nước Tấn, tình hình rối ren, các thế lực tranh giành quyền lực, Công tử Trùng Nhĩ cũng đang bươn chải trong cuộc tranh cạnh giành quyền lực đương thời. kéo dài tới 17 năm.
Xung quanh Công tử Trùng Nhĩ có nhiều người thân tín theo chủ để mong kiếm bổng lộc, lợi quyền khi chủ thành đạt. Trong số đó, có một người ở chức nhỏ là Giới Tử Thôi vốn người tận tuỵ nhưng khiêm nhường. Đến một lần gặp bước đường cùng, bầu đoàn đang đói khát thì Công tử Trùng Nhĩ được Giới Tử Thôi dâng lên một bát thịt đầy, cho chủ nhân qua được cơn bĩ cực. Bát thịt ấy theo tích truyện là cắt từ đùi của kẻ công bộc xả thân vì chủ.
Rồi cuối cùng Công tử Trùng Nhĩ thành đạt, giành được ngôi báu, trở thành Tấn Văn Công nổi danh trong chính sử. Lúc đó những người thân tín đều giành được những bổng lộc cho mình. Riêng Giới Tử Thôi hoặc không màng hoặc bị quên lãng nên ông trở về cùng mẹ sống bình dị nơi quê nhà.
Đến lúc Tấn Văn Công nhớ ra ân nhân đã cứu sống mình bèn vội tìm đến nhà để ban thưởng. Không rõ vì lòng tự ái hay tự trọng mà câu chuyện kể rằng hai mẹ con họ Giới đã bỏ nhà, trốn vào rừng sâu khiến nhà vua sốt ruột bèn nghĩ kế đem lửa đốt ba phía để mong ân nhân của mình ra khỏi rừng sâu để nhà vua có cơ đáp trả ơn xưa.
Nhưng kết quả là mẹ con họ Giới chết thiêu trong rừng, sự việc xảy ra vào ngày 3 tháng 3 năm ấy vì thế nhà vua ban lệnh hàng năm đến ngày này mọi người không đốt lửa để tưởng nhớ đến người xưa và chuyện cũ...
Tích truyện Tết Hàn thực có thể hiểu theo nhiều cách. Nhưng ứng vào cái việc đang nghĩ ngợi thì thấy rằng phải chăng quy trình triển khai chính sách đối với người có công ngược với quy trình lẽ ra phải làm.
Thay vì Nhà nước chủ động đi tìm người có công để khen thưởng, đãi ngộ thì ta lại làm cái chuyện mọi người báo công để cấp trên xét thưởng. Vì thế mà không chỉ tạo ra những phiền toái cho những người thực có công lại còn tạo ra cái nghịch lý giúp những kẻ cơ hội thay vì báo công thực lại đi "chạy công giả".
Chính trong trả lời chất vấn, bà bộ trưởng cũng phải nói đến hiện tượng "thương binh giả", "lão thành cách mạng giả". Điều ấy không chỉ ngốn của Nhà nước những khoản chi không nhỏ mà tệ hại hơn nó còn làm mất lòng tin của dân và chạm đến lòng tự trọng của nhiều người có công thực sự.
Hồi mới giành độc lập chúng ta nhớ đến hai lần Chủ tịch Chí Minh viết bài cho đăng trên báo như lời bố cáo yêu cầu các địa phương phát hiện nhân tài tiến cử cho quốc gia và nhận lỗi về mình vì đã chưa biết tới những người có tài được mời ra gánh việc nước. Đó cũng là cách ông cha ta đã làm khi nhiều triều đại đã ban "chiếu cầu hiền". Mà đã cầu hiền thì khi sự nghiệp thành công thì việc tìm người có công để ban thưởng cũng là lẽ đương nhiên.
Mới đây, nhân theo dõi đề tài nghiên cứu lịch sử kháng chiến vùng Nam Bộ, tôi được biết đến một nhân vật nay năm nay đã bước vào tuổi lục tuần. Ở độ tuổi đôi mươi, cô gái vùng Đất mũi Cà Mau ấy đã từng tham gia nhiều hoạt động vũ trang ở địa phương và trực tiếp lập chiến công lớn khi mưu trí và dũng cảm đánh đắm một hạm tàu lớn của Mỹ, cách đây đúng 40 năm (10.1969).
Chị kể rằng đánh thắng xong thì cũng là lúc chị trở về quê rồi sinh con, lo việc nhà, rồi thấy chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất hoà bình chị cũng chẳng có dịp liên hệ với đơn vị cũ. Vả lại nhớ đến nguyên tắc giữ gìn bí mật cho trận đánh, chị cũng chẳng bao giờ kể lại trận đánh với ai cả và đương nhiên cũng chẳng viết đơn báo công hay xin chính sách.
Mãi tới gần đây, phải nhờ một vị lão thành có uy tín, những người viết sử mới gặp được chị để lấy tư liệu và phải khó khăn lắm chị mới chịu "vi phạm nguyên tắc" kể lại chiến công xưa...
Tuy đã đứng tuổi, nhưng chị rất hồn nhiên xem những chiến công mà nhiều người đánh giá là "hiển hách" ấy như một cái gì rất bình thường mà hoàn cảnh đất nước khi đó khiến chị hành động như một lẽ thường tình. Hỏi lúc này chị ao ước gì nhất, thì câu trả lời cũng rất thật và hồn nhiên là được ra Hà Nội thăm Lăng Bác.
Cách đây đã lâu, trên mục "Nghĩ ngợi cuối tuần" tôi đã viết bài "Những tấm huân chương bị bỏ quên", thì mới đây, sau sáu thập kỷ kể từ ngày Bác Hồ ký sắc lệnh, những tấm huân chương ấy đã được trao.
Còn có biết bao nhiêu người có công mà chưa được ai biết tới thì chắc chắn là không ít, phải chăng một phần vì chúng ta làm theo quy trình ngược?
Dương Trung Quốc
25 tháng 6, 2009
Bố cũng là người Thầy dạy tôi về cách sống

HOCMOINGAY. Thu Yên đã kể chuyện về Bố thật giản dị và xúc động: "Bây giờ có người vẫn ước ao giá như có được những người làm việc như ông trước đây... Hình ảnh ông với chiếc mũ rơm xông xáo trên cánh đồng khi bom Mỹ thả xuống giết hại bà con, và những câu chuyện khi họ gặp khó khăn được ông giải quyết có tình có lý; những người con mồ côi khi người cha đi chiến đấu không trở về cũng được địa phương quan tâm giúp đỡ. Ngay chuyện trong gia đình, nhiều chuyện chỉ sau khi ông mất chúng tôi mới được biết, và tôi thật sự xúc động khi người anh họ bên ngoại kể cho chúng tôi về sự giúp đỡ cưu mang của ông... Mỗi câu chuyện về ông là một bài học qúy giá cho chúng tôi. Cuộc sống bình dị, tự tin của ông đã để lại như một bài học. Bố cũng là người thầy dạy chúng tôi về cách sống và chúng tôi luôn tự hào về người Bố của mình" (Bố T.Y mặc áo trắng đứng sau bác Trường Chinh. Trong ngày giỗ, xin thắp nén hương để tưởng nhớ Người)

Bố tôi mồ côi từ nhỏ, sau khi ông bà nội tôi qua đời, chuyện ma chay thời phong kiến không đơn giản nên nhà cửa cũng phải bán. Bố tôi đi ở cho một nhà giàu ở ngay làng ven đô đó. Một lần vô tình ông đánh đổ bát điếu của sòng bạc. Bố tôi bị đánh một trận đòn. Ngay ngày hôm sau, Bố bỏ cậu ấm con nhà giàu ở nhà một mình và trốn khỏi làng. Cậu ấm chỉ phải ở nhà một mình thôi và khóc vì sợ, thế là cả họ tìm Bố tôi ráo riết ...
Lúc đó ông xuống làng Bưởi và được một người chủ xưởng giấy quý mến vì tính nhanh nhẹn và thông minh. Ông vừa làm vừa học nghề làm giấy bản ,một nghề rất vất vả. Chỉ năm 24 tuổi, ông đã quay trở về làng mở xưởng giấy và tạo điều kiện cho bà con lối xóm có công ăn việc lám. nhất là năm 45, ông đã cưu mang rất nhiều người qua nạn đói.
Cùng với công việc kinh doanh, cũng như bao người lúc đó, Bố tôi tham gia hoạt động cách mạng. Cơ sở của Bố tôi bảo vệ Bác Trường Chinh về làng hoạt động và xưởng giấy cất giữ tài liệu. Khi bị bại lộ, xưởng giấy của ông hoàn toàn bị phá sản.
Ông chuyển sang hoạt động du kích
Chuyện tình duyên của Bố tôi cũng thật đặc biệt. Bố tôi lấy vợ tảo hôn, khi cưới Bố mới mười một tuổi và Mẹ tôi mới lên 9 tuổi. Sau khi cưới, ông bà nội lần lượt qua đời. Hai người còn quá nhỏ nhưng hoàn cảnh éo le đã gắn bó hai người. Sau này, Mẹ tôi sinh toàn con gái. Thời ấy, lấy vợ lẽ thật đơn giản, nhất là Bố tôi là chủ xưởng giấy. Ông đẹp và tài ba, người có nét hoàn hảo như ông cũng hiếm, nhưng ông không lấy ai, mặc dù Mẹ tôi đã có nhã ý để ông lấy người bạn của mình. Mẹ tôi nói thời đó phong kiến nên lấy vợ lẽ để có con trai là chuyện bình thường.
Kể cả sau này Mẹ tôi mất trước Bố tôi hơn hai mươi năm nhưng ông vẫn đứng vậy. Lúc đó ông làm bí thư đảng ủy của xã, nhiều người gán ông với mấy cô công tác cùng trong huyện nhưng ông chẳng để ý. Những ngày cuối cùng, Bố tôi không ốm đau gì cả chỉ như cây đã héo nên ông rất tỉnh táo. Sáng nào, ông cũng hỏi hôm nay là ngày bao nhiêu. Chúng tôi biết ông muốn qua một cái giỗ của Mẹ tôi, nhưng ông đi trước một ngày.
Từ đó hai ngày liền giỗ Bố và Mẹ, dù bận mấy chúng tôi cũng nghỉ và làm giỗ. Một ngày mời khách và một ngày chỉ có con cháu trong nhà. Bố Mẹ tôi không có con trai, nhưng các cháu ngoại thì cũng được dăm cậu là con tria và lúc gặp nhau vào ngày giỗ tết chúng thường tranh nhau nhận mình giống ông ngoại nhất. Và cũng vào những ngày giỗ, chúng tôi thường được nghe bạn bè của ông và bà con lối xóm nói chuyện về ông nhiều lần được cất nhắc lên thành phố làm việc nhưng ông không đi.
Chúng tôi hiểu cái làng quê nhỏ bé thân thương vùng ngoại ô,nơi ông đã có lần bỏ làng mà ra đi ... bây giờ ông muốn xây dựng bằng chính khả năng của mình.
Có một bác hàng xóm, cứ đến ngày giõ đến thắp hương và đứng bên bàn thờ kể chuyện với Bố Mẹ tôi đủ thứ chuyện, cứ như thể Bố Mẹ tôi nghe được hết...
Bây giờ có người vẫn ước ao giá như có được những người làm việc như ông trước đây...Hình ảnh ông với chiếc mũ rơm xông xáo trên cánh đồng khi bom Mỹ thả xuống giết hại bà con, và những câu chuyện khi họ gặp khó khăn được ông giải quyết có tình có lý; những người con mồ côi khi người cha đi chiến đấu không trở về cũng được địa phương quan tâm giúp đỡ.
Ngay chuyện trong gia đình, nhiều chuyện chỉ sau khi ông mất chúng tôi mới được biết, và tôi thật sự xúc động khi người anh họ bên ngoại kể cho chúng tôi về sự giúp đỡ cưu mang của ông với gia đình bên ngoại.
- Lúc bấy giò làm gì ai có mà mua đất làm nhà, chỉ có ông là có điều kiện thôi, nhưng ông không bao giờ cho ai biết và hoàn toàn lấy tên các cụ mua cho con thôi ...
Và tôi cũng hiểu tình cảm của anh con bác tôi đối với Bố tôi rất kính trọng nhất là những ngày chúng tôi mỗi người mỗi ngả và những lúc bố tôi đau yếu.
Mỗi câu chuyện về ông là một bài học qúy giá cho chúng tôi. Cuộc sống bình dị, tự tin của ông đã để lại cho chúng tôi như một bài học. Bố cũng là người thầy dạy chúng tôi về cách sống.
Và chúng tôi luôn tự hào về người Bố của mình.
Thu Yên
21 tháng 6, 2009
Khơi dậy tiềm năng của chính họ
HOCMOINGAY. Giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn nạn nghèo đói là khơi dậy tiềm năng của chính họ. Đó là ý kiến của TS Otto Graf Lambsdorff, cựu Bộ trưởng Kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức (Nguồn: http://niemtin.free.fr/giaiquyetngheodoi.htm/
Cứu trợ cho người nghèo gần như trở thành lời hứa hẹn “cửa miệng” của các nhà từ thiện hoặc các chính khách trên thế giới ngày nay. Thế nhưng, liệu thành lập bộ máy quan liêu khổng lồ trong lĩnh vực an sinh xã hội có phải là giải pháp tốt nhất cho vấn nạn này hay không ? Sự hỗ trợ vật chất nhất thời có phải là cái mà người nghèo cần nhất ? Hay họ cần một cái khác bản chất hơn, cốt lõi hơn để tự khơi dậy tiềm năng của chính họ ?
Một thách thức lớn
Đói nghèo trên diện rộng vẫn là một vấn nạn của cộng đồng thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì năm 1988 có 1,2 tỷ người sống trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối với mức sống ít hơn 1 USD/ngày. Một nửa trong số đó nằm trong các khu vực Nam Á. Mặc dù trong những năm vừa qua tỉ lệ nghèo đói có giảm bớt, nhưng đây vẫn là một trong những vấn đề lớn nhất của nhân loại.
Một lần nữa, xin được nhắc lại những hậu quả thảm khốc mà đói nghèo gây ra. Trước hết, nó làm cho người ta luôn phải đau khổ vì đói khát và buộc con người phải thường xuyên lo lắng vì những mục tiêu hạ cấp nhất. Đói nghèo làm cho người ta trở thành cục cằn, nó không chỉ đẩy một số người đến những hành động bạo lực mà còn làm băng hoại quan hệ giữa người với người, nhất là trong gia đình. Nghèo đói là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hành động bạo hành đối với phụ nữ. Nhiều người phụ nữ Nam Á nói rằng: khi tình trạng kinh tế của người nghèo được cải thiện thì một trong những thay đổi rõ rệt nhất là sự hòa thuận trong gia đình gia tăng, cũng có nghĩa là bạo hành trong gia đình đã giảm.
Nghèo đói làm cho người ta không thể thể hiện được hết năng lực cá nhân của mình. Không được học hành, người nghèo không thể phát triển được các khả năng, không thể nâng cao được năng suất lao động. Trong thời đại của chúng ta, khi người ta nói rất nhiều và rất hay về vai trò của giáo dục và phát triển khả năng của con người thì vẫn đang tồn tại hàng tỷ người không có điều kiện học hành, bỏ phí những tiềm năng của mình.
Nhiều người không nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề này, họ cho rằng vấn đề chính đáng quan tâm nhất là nạn gia tăng dân số. Theo họ, nghèo đói trên diện rộng là lỗi của chính người nghèo. Đấy là một thái độ cực kỳ vô trách nhiệm, nó chẳng những không phù hợp với kinh nghiệm lịch sử mà còn đi ngược lại các lý thuyết kinh tế. Một nước đang giàu có không thể trở thành nghèo đi vì sinh suất cao. Kinh tế luôn luôn phát triển ở những thành phố đông dân chứ không phải ở các làng quê hẻo lánh. Còn trong lý thuyết kinh tế thì việc sản xuất và phân phối thu nhập quốc dân là một tiến trình động, phụ thuộc vào nhiều biến số mà dân số chỉ là một trong số đó. Nếu công nhận rằng mỗi người đều có thể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội thì ta phải công nhận rằng số dân cũng có ảnh hưởng tích cực đối với quá trình phát triển đó. Chỉ có trong các xã hội với hệ thống kinh tế rối loạn, trì trệ, thiếu năng động và không tạo điều kiện cho người dân thể hiện hết năng lực của mình thì việc gia tăng dân số mới thành vấn đề. Trong những điều kiện như thế vấn đề nghèo đói sẽ càng trầm trọng thêm. Người nghèo cảm thấy có lợi khi sinh thêm con, vì như thế là thêm nguồn lao động, là gia tăng thu nhập lúc còn trẻ và bảo đảm kinh tế cho tuổi già.
Hậu quả chính trị cũng không kém phần quan trọng. Nghèo đói đẩy người dân vào những quan hệ bất bình đẳng, tức là những quan hệ làm người ta mất tự do và trở thành đối tượng không được che chở trước những hành động độc ác của kẻ khác. Cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày làm cho người không còn thì giờ và sức lực tham gia vào đời sống chính trị của xã hội hay dân tộc. Quyền lợi của họ không được nói tới và vì vậy mà bị bỏ qua. Người nghèo thường bị buộc phải dựa dẫm vào một “kẻ bảo trợ”, có thể là một “cụ lớn” trong làng hay chủ khu “xóm liều” hoặc chủ thầu nào đó. Không còn lựa chọn nào khác, họ buộc phải bán quyền lợi chính trị của mình cho người bảo trợ để mong được an toàn. Khi các quan hệ chủ - tớ giữ vai trò chủ đạo, thí đó chính là nguy cơ nghiêm trọng đối với các nguyên tắc của quyền tự do cá nhân và những quyền bất khả xâm phạm của con người.
Mong muốn giúp đỡ là phản ứng tự nhiên trước tình trạng nghèo đói và chắc chắn rằng những người nghèo đến mức không thể cất đầu lên được thực sự cần đến sự giúp đỡ. Nhưng nếu cứ giúp đỡ mãi sẽ khiến họ trở nên lệ thuộc. Mặt khác chúng ta đã quên một khía cạnh quan trọng hơn nhiều: Trước đây người ta thường phải giải quyết vấn đề nghèo đói bằng chính nỗ lực của mình: bằng lao động cần cù, tiết kiệm, đầu tư cho con cái học hành, sẵn sàng di chuyển để tìm những cơ hội thuận lợi hơn, sẵn sàng đánh đổi, kể cả đổi chỗ làm việc. Dĩ nhiên là có những người suy sụp đến mức không thể tự lực được, nhưng đấy không phải là đa số.
Hầu hết người nghèo không cần sự giúp đỡ trực tiếp, họ cần được bình đẳng trong cơ hội và được pháp luật bảo vệ để có thể thoát khỏi sự áp chế của những kẻ muốn tước đoạt thành quả lao động của họ.Vì vậy chính sách Nhà nước cần hướng tới là tạo điều kiện cho tất cả các công dân, đặc biệt là người nghèo, cơ hội sở hữu tài sản tư nhân. Điều này giúp người ta độc lập về tài chính và như vậy là củng cố được tự do cá nhân.
Dĩ nhiên là có những trường hợp cần phải trợ cấp, nhất là để chặn đứng nạn đói sau những vụ thiên tai. Trợ cấp trong những trường hợp như thế sẽ hiệu quả hơn là kiểm soát giá cả, thí dụ như kiểm soát giá lương thực, thực phẩm, mà người ta thường áp dụng nhân danh bảo vệ người nghèo, nhưng những biện pháp như thế thường làm méo mó các động cơ kinh tế và sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Cố tình giữ giá lương thực thực phẩm thấp có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các điền chủ và nền nông nghiệp và sẽ làm cho nhiều nông dân nghèo, tức là đa số người nghèo trên thế giới, mất việc làm.
Chúng ta nên tìm những phương tiện giúp người nghèo có thêm tài sản như góp vào quĩ hưu bổng, bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm thất nghiệp, chứ không nên bắt người ta phải đóng thuế cao rồi lấy tiền phân phối lại cho người nghèo. Tiết kiệm hoặc bảo hiểm bắt buộc giúp cho các công ty tư nhân hoạt động hữu hiệu hơn (những công ty này có sự kiểm soát của Nhà nước, trong đó có yêu cầu về tái bảo hiểm). Còn thu thêm thuế để tái phân phối có thể tạo ra bộ máy quan liêu cồng kềnh, ăn hết phần lớn số tiền thu được.
Trong thời đại ngày nay, các Chính phủ cần tập trung trí tuệ tạo ra khung pháp lí phù hợp cho các ngân hàng tư nhân và các công ty bảo hiểm, đặc biệt là các tổ chức tín dụng đơn giản, dễ tiếp cận với người nghèo ở khu vực nông thôn, hoạt động. Cũng cần phải thành lập các định chế kiểm soát hoạt động của các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, còn chính các định chế này thì phải được bảo đảm là hoạt động khách quan, độc lập.
Giáo dục - vũ khí xóa đói giảm nghèo
Không nghi ngờ gì nữa, giáo dục là vũ khí xóa đói giảm nghèo hữu hiệu nhất. Nó cung cấp cho người ta kiến thức và tay nghề đủ sức cạnh tranh, tức là giúp họ tìm được công việc tốt hơn bố mẹ họ và như vậy là có thể bước lên những nấc thang cao hơn. Giáo dục phổ thông giúp giảm thiểu tình trạng kì thị phụ nữ. Giáo dục các bé gái giúp giảm thiểu một cách rõ rệt tỉ lệ sinh vì những người phụ nữ có học lấy chồng muộn hơn, biết cách phòng tránh thai và biết cách chăm sóc gia đình, đặc biệt là sức khỏe trẻ em.
Nếu mục đích của giáo dục là nâng cao tính năng động xã hội thì cần phải đặc biệt chú ý tới chất lượng giáo dục dành cho người nghèo. Chúng tôi nhấn mạnh “cần phải” là vì, điều làm người ta ngạc nhiên là nhiều nhà cải cách chỉ đổ nhiều công sức vào phát triển số lượng người được đào tạo. Họ muốn phát bằng cấp cho thật nhiều người mà hầu như không quan tâm đến chất lượng của những tấm bằng đó. Kết quả là sự phân tầng xã hội sẽ càng vững chắc hơn. Hiện tượng tương tự như thế xảy ra ở cả những nước phát triển, thí dụ như nước Đức, và nhiều nước đang phát triển.
Tại phần lớn các nước Nam Á, chất lượng học tập trong các trường công lập kém đến nỗi người dân phải chịu hi sinh về mặt tài chính chỉ để đưa con em vào các trường tư thục với chất lượng học tập cao hơn, và thường là được dạy bằng tiếng Anh. Nhưng ở nông thôn, các trường như thế là của hiếm, cho nên người nghèo ở đô thị và đa số dân nông thôn đành phải chấp nhận học ở các trường công lập hoặc không đi học nữa. Ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan, ít nhất là 40% ngân sách dành cho giáo dục được đổ vào các trường đại học mà sinh viên chủ yếu con em các gia đình trung lưu. Trong khi đó các trường cấp I không đủ cơ sở hạ tầng để đưa tất cả các trẻ em vào học, tức là không phải đứa trẻ nào cũng thoát nạn mù chữ.
Gia tăng hơn nữa quyền kiểm soát nhà trường cho người dân địa phương phải là bước tiến quan trọng trên con đường hiện đại hóa giáo dục. Điều đó có thể được thực hiện bằng cách chuyển trách nhiệm về giáo dục từ Bộ sang chính quyền huyện và chính quyền làng xã. Chính quyền Trung ương có thể chỉ tập trung sức lực vào việc đặt ra và đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn giáo dục mà thôi. Việc phân chia trách nhiệm như thế sẽ làm gia tăng tính minh bạch các khoản chi tiêu của nhà trường, vì phụ huynh học sinh sẽ dễ dàng kiểm soát những việc diễn ra ở huyện hoặc làng xã. Việc tách tổ chức qui định các tiêu chuẩn giáo dục ra khỏi những cơ quan hành pháp chắc chắn cũng sẽ nâng cao thêm chất lượng giáo dục.
Triệt để hơn nữa là ở các thành phố, Chính phủ có thể giúp người nghèo bằng cách trả tiền học phí cho con em họ và cho phép họ chọn lựa trường, thí dụ, bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng (voucher). Chính phủ thiết lập tiêu chuẩn và mục tiêu giáo dục rồi tập trung sức lực vào việc áp dụng và kiểm tra. Các trường công lập không còn nhận tài trợ từ ngân sách nữa mà sẽ phải tự hạch toán trên cơ sở thu hút thêm nhiều học sinh bằng cách cung cấp cho người học chất lượng giảng dạy tốt hơn. Hệ thống như thế sẽ giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường với nhau. Phụ huynh học sinh sẽ lựa chọn trường trên cơ sở chất lượng dạy và học, còn nhà trường sẽ buộc phải tìm những biện pháp hiệu quả nhất trong việc dạy và học. Khi chất lượng học tập của học sinh nghèo không phải là mục tiêu của cải cách giáo dục thì người nghèo sẽ vẫn bị tước mất phương tiện quan trọng nhất để phát triển, còn xã hội thì không khai thác được tiềm năng ở những con em của người nghèo.
Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
Do nhiều nguyên nhân, người nghèo dễ bị ốm đau. Hệ thống y tế kém chất lượng sẽ gây nên những căn bệnh hiểm nghèo và tình trạng nhiều người nghèo chết trẻ. Từng người và toàn xã hội phải trả giá đắt cho hệ thống như thế.
Mọi người đều công nhận rằng Nhà nước phải cung cấp cho dân chúng dịch vụ y tế chủ yếu. Tuy nhiên, ở nhiều nước hiện nay, dịch vụ y tế miễn phí có chất lượng cực kỳ thấp. Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, điều này đã thúc đẩy sự phát đạt của thị trường chăm sóc sức khỏe tư nhân. Tất cả những ai đủ sức trả tiền đều sử dụng dịch vụ này. Người nghèo cũng phải chi nhiều tiền cho dịch vụ tư nhân vì không có dịch vụ y tế miễn phí của Nhà nước, hoặc có cũng vô ích vì chỉ được vào bệnh viện công sau khi đã phải trả một khoản tiền lớn.
Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước có thể thử nghiệm nhiều biện pháp khác trong việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Thí dụ như cung cấp tín dụng, trợ giúp bảo hiểm y tế tư nhân và phi tập trung hóa - kể cả ngân sách – chuyển cho chính quyền địa phương.
Đáng buồn là những cuộc cải cách theo hướng tự do hóa trong lĩnh vực giáo dục và y tế thường hiếm khi được thực thi. Nguyên nhân không phải là vì chúng không thực tiễn mà do sự cản trở của một số nhóm lợi ích và những người đang lợi dụng hệ thống xin-cho. Họ chống lại mọi đề nghị cải cách bằng lập luận rằng thay đổi sẽ làm cho người nghèo càng thiệt thòi thêm.
Phạm Nguyên Trường dịch
Tiến sĩ Otto Graf Lambsdorff là cựu Bộ trưởng Kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, hiện giữ chức Chủ tịch Quĩ Friedrich Naumann
Nhận xét của Đại sứ Mỹ về tình trạng giáo dục tại Việt Nam - Phụng Nghi
Ngày 6 tháng 8 năm 2007, ông Michael W. Marine, đại sứ Hoa kỳ tại Việt nam đã đọc một bài diễn văn tại Phân khoa Kinh tế Shidler thuộc trường Đại học Hawaii ở Saigon.
Sau khi ca ngợi các thành quả Việt nam đạt được về kinh tế, về địa vị Việt nam trên chính trường quốc tế, và mối quan hệ càng ngày càng mở rộng giữa Hoa kỳ và Việt nam, ông đã đưa ra những nhận xét về tình trạng học vấn tại Việt nam ngày nay và vai trò của Hoa kỳ trong việc cải tiến nền giáo dục đó. Một phần bài phát biểu của ông như sau:
“Ở khắp nơi, người ta thấy tiềm năng, phấn khởi và hy vọng. Nhưng đối nghịch với nhiều thành công của mình, Việt nam đang đối diện với những thách đố quan trọng, mà thách đố về hệ thống giáo dục không phải là nhỏ. Trong khi sự tăng trưởng về kinh tế đã phát triển quá mức dự đoán, và người dân Việt tiếp tục đặt giáo dục làm ưu tiên hàng đầu, thì hạ tầng cơ sở cung cấp nguồn nhân lực vật lực tại đây đã không phát triển đủ để hỗ trợ cho nhu cầu tăng trưởng. Điều đó đúng ở mọi cấp bậc trong hệ thống giáo dục, nhưng tình trạng giáo dục cấp đại học tại Việt nam đặt ra những quan ngại đặc biệt.
Vai trò căn bản của các đại học là cung cấp một nền giáo dục hữu dụng về mặt xã hội và kinh tế, làm phát sinh hiểu biết và đổi mới. Theo ý kiến chung, các đại học Việt nam đã không làm tròn được các đòi hỏi thiết yếu này. Bản “Báo cáo về Phát triển trên Thế giới” năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt nam tụt lại phía sau rất xa các nước khác trong khu vực vì chỉ có 2% dân số được đi học đủ 13 năm hoặc hơn nữa. Cũng theo báo cáo này thì Việt nam đứng chót trong khu vực vì chỉ có 10% thanh thiếu niên trong hạng tuổi từ 20 đến 24 có ghi danh vào các trường đại học hoặc cao đẳng. Trái lại, Trung quốc có 15% sinh viên trong hạng tuổi này đã ghi danh, Thái lan có 41% và Nam Hàn có con số thật ấn tượng là 89%.
Một lý do làm cho con số sinh viên đại học Việt nam quá thấp là khả năng dung nạp rất hạn chế đến mức báo động của chính các trường đại học. Tháng qua, tại đây có 1,8 triệu học sinh dự cuộc tuyển sinh, tranh dành nhau 300 ngàn chỗ ngồi trong các trường đại học cả nước. Tuy nhỏ, nhưng con số đó cũng là một gia tăng đáng kể so với con số sinh viên ghi danh vào đại học năm 1990 khắp nước chỉ có 150 ngàn. Tuy nhiên, điều làm cho các chuyên viên phải bận tâm với thống kê đó, là con số giáo sư giảng dạy gần như không thay đổi đáng kể suốt 17 năm qua. Rõ ràng đây là một hệ thống giáo dục quá căng.
Nhiệm vụ thứ hai của một đại học là làm phát sinh ra trí thức và đổi mới. Về lãnh vực này Việt nam một lần nữa không theo kịp các quốc gia lân cận. Năm 2006, các giáo sư và sinh viên Đại học Quốc gia Seoul (Hán thành) công bố 4.556 ấn phẩm khoa học. Trường Đại học Bắc kinh có gần 3.000. Để so sánh ta thấy cả Đại học Quốc gia Hà nội và trường Kỹ thuật Quốc gia Hà nội chỉ thực hiện được 34 ấn phẩm.
Số đơn xin bằng sáng chế là thước đo hữu dụng để biết khả năng phát minh của một quốc gia. Báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho biết Trung quốc có 40.000 đơn xin bằng sáng chế, trong khi ở Việt nam chỉ có 2 đơn.
Chính phủ Việt nam cho thấy đã hiểu rõ tầm mức quan trọng của giáo dục cho công dân và thấy nhu cầu khẩn thiết phải có thay đổi. Có mong muốn thực sự về xã hội và chính trị để tạo ra cải tiến ở mọi cấp bậc học vấn tại Việt nam, và chính quyền đã thông qua một số nghị quyết quan trọng về pháp luật – liên quan đến giáo dục và quản trị đại học trong hệ thống giáo dục – mà sẽ có tác động đáng kể, chỉ với điều kiện là nếu được và sau khi được thực hiện đầy đủ. Trong khi nguồn nhân lực và các nỗ lực cải tiến từ trước tới nay vẫn không đủ, nhưng đã có cam kết và ý chí. Hoa kỳ muốn góp phần vào sự chuyển biến quan trọng này.
Hệ thống giáo dục Việt nam có ông Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn thiện Nhân, một học giả của chương trình Fulbright đã đậu bằng tiến sĩ Đại học Oregon, có theo vài chương trình hậu đại học tại Harvard, đã xác định các mục tiêu đặc biệt để thay đổi môi trường học vấn tại Việt nam.
Các mục tiêu này gồm: cung ứng nền giáo dục đại chúng - đặc biệt chú trọng vào nữ giới, người thiểu số và những người kém may mắn là thành phần chưa được phục vụ đúng mức trong hệ thống giáo dục hiện nay - cải thiện các chương trình huấn luyện giáo viên, và kiểm tra toàn bộ chương trình các môn học ở mọi cấp bậc trong cả nước. Kế hoạch của ông cũng kêu gọi phát triển một tiến trình liên tục và chính thức nhằm thẩm định và khen thưởng, chú tâm vào công tác huấn nghệ để trang bị cho lực lượng lao động của Việt nam vào thế kỷ 21, cộng tác với các cơ sở học vấn Đức và Hoa kỳ, nâng cấp nhiều trường đại học Việt nam lên hàng đầu và đạt tiêu chuẩn được quốc tế công nhận.
Như bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy, Việt nam rất cần nhiều người có văn bằng PhD ( Tiến sĩ ) cho các trường đại học đã “quá tải”, vì thế Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt mục tiêu huấn luyện 20.000 tiến sĩ mới từ nay đến năm 2020. Lý tưởng là 10.000 trong số đó sẽ nhận lãnh văn bằng tiến sĩ tại ngoại quốc, ít nhất 2.500 sẽ được huấn luyện tại Hoa kỳ.
Ngoài các mục tiêu đặc biệt này, chính quyền còn nhận thấy sự quan trọng của việc dạy ngoại ngữ - đặc biệt là tiếng Anh – cho các học sinh bắt đầu ngay ở bậc tiểu học, cũng như gia tăng khả năng về Kỹ thuật Thông tin.
Trong các lãnh vực này Hoa kỳ không những chỉ có thể giúp đỡ mà còn muốn làm người cộng tác với chính phủ và nhân dân Việt nam để giải quyết những thiếu sót và tạo lập một môi trường và hệ thống giáo dục mà người dân Việt nam có thể tự hào.
Một trong các trao đổi học vấn hàng đầu là chương trình Fulbright, thành lập năm 1946 nhằm gia tăng hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, hiện nay đã phát triển ra 140 nước. Chương trình này thành lập ở Việt nam năm 1992, nay nhận được đóng góp tài chánh nhiều nhất của chính phủ Mỹ.
Một cộng tác viên quan trọng nữa là Vietnam Education Foundation của Hoa kỳ. Từ ngày hoạt động (tháng 3-2003) cơ quan này đã đạt được nhiều thành quả trong sứ mạng trao đổi giáo dục và đào tạo kỹ năng trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật cho Việt nam.
Một số trường đại học toàn hảo – như Hawaii và Harvard – đã đi những bước quan trọng vào lãnh vực giáo dục hợp tác, và nhiều trường khác đang thăm dò khả năng hoạt động tại Việt nam.
Thỏa thuận với Texas Tech University đã tạo ra chương trình trao đổi đầu tiên để các sinh viên Việt nam có thể hoàn tất năm thứ hai của chương trình Tiến sĩ tại trường này để lấy bằng cấp tại Hoa kỳ. Những thỏa thuận như thế giữa Việt nam và các cơ sở giáo dục Hoa kỳ sẽ mở cửa cho nhiều thanh thiếu niên Việt nam bước vào hệ thống giáo dục cấp cao của Mỹ.
Trong lúc nền kinh tế Việt nam tăng trưởng mau chóng, chính quyền nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độ Anh ngữ cho công dân. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính yếu của thương mãi và do vậy là một thách đố đặc biệt cho thương gia Việt nam. Trong nhiều trường hợp, người dạy Anh ngữ lại không nói được chính ngôn ngữ này và ít được học về phương pháp dạy tiếng ngoại quốc. Nhóm Senior English Language Fellow của Hoa kỳ sẽ làm việc một năm ròng với một nhóm đặc biệt của Bộ Giáo dục để sửa đổi hoàn toàn chương trình giảng dạy Anh ngữ trong hệ thống giáo dục Việt nam, từ cấp tiểu học tới đại học, gồm cả việc huấn luyện các nhân viên giảng dạy.
Sau cùng Mỹ và Việt nam đang cộng tác chặt chẽ để lập Đoàn Hòa bình (Peace Corps), từ ngày thành lập (1961) đến nay đã có 187.000 người Mỹ tình nguyện phục vụ tại 139 quốc gia trong các lãnh vực giáo dục, nông nghiệp, y tế và HIV/AIDS, thương mãi và môi trường. Chương trình chính yếu nhất là dạy Anh ngữ, sẽ có ảnh hưởng quan trọng trong việc giảng dạy có hiệu quả ngôn ngữ này khắp nơi trong nước Việt nam.”
Remarks by Ambassador Michael W. Marine -
Challenges of Higher Education in Vietnam :
Possible Roles for the United States
University of Hawaii’s Shidler College of Business
Executive MBA Program
Ho Chi Minh City
August 6, 2007 - 10:30 a.m.
Dr. Augustine Vinh, MBA candidates, friends and colleagues, good morning. Thank you for inviting me to speak to you today. As you all probably know, this will be my last visit to Ho Chi Minh City as the United States Ambassador to Vietnam. I cannot think of a better way to mark the occasion than having an opportunity to exchange ideas on education, perhaps the key to Vietnam’s future.
As I was preparing these remarks, I did a little research on the University of Hawaii. The University has a motto which is included on its official website – in the original Hawaiian; it is quite lengthy, and virtually unpronounceable. But I learned that it means “Above all nations is humanity.” This seems a perfect guiding principle for an institution devoted to education, because the goals of any school should extend to the highest ideals of service and community. Dr. Vinh and the professors of the Shidler College of Business exemplify that commitment, and I thank them for the important role they play.
In my three years as the U.S. Ambassador to Vietnam, I have seen great changes taking place here. The bonds between our two countries have grown broader and deeper than perhaps any of us might have envisioned only a few years ago. While there are many reasons for this deepening relationship, I believe the two most important factors are a fundamental convergence of Vietnamese and U.S. interests in ensuring stability and security in this part of the world, and the growing exchanges between our governments and our people.
This is an extraordinary time for Vietnam. When the United States reestablished diplomatic ties with Vietnam in 1995, we found ourselves engaging with a nation that had struggled through decades of war, and that was just emerging from decades of poverty and limited interactions with the global community in areas of trade, investment, education and people to people interaction.
How our relationship has changed in twelve short years! Today, Vietnam is the 150th member of the World Trade Organization (WTO) and enjoys Permanent Normal Trade Relations with the United States. Last year, the Asia Pacific Economic Cooperation, or APEC summit hosted by Vietnam, brought leaders from twenty-one nations together, including President Bush. And in June, President Nguyen Minh Triet visited the United States, the latest in a growing list of high-level visits.
Economically, Vietnam is making major strides forward. The value of U.S. – Vietnam two-way trade will exceed $10 Billion dollars this year, up from $1.5 billion in 2001. The United States is Vietnam's top export market and its fourth largest foreign investor. The newest Asian Tiger, Vietnam expects to attract at least $15 billion in foreign direct investment commitments this year.
All around Vietnam, one sees energy, enthusiasm and hope. But set against its many successes, Vietnam faces significant challenges, not the least of which is its education system. While this country’s sustained economic growth has exceeded expectations, and the Vietnamese people continue to place an extremely high priority on education, the human resource infrastructure here has simply not developed sufficiently to support the growing demands. While this is true at all levels of the system, the state of higher education in Vietnam poses particular concerns.
The fundamental role of universities is to provide socially and economically beneficial education, and to generate knowledge and innovation. By all accounts, Vietnamese universities are failing to fulfill these critical obligations. According to a 2006 World Bank “World Development Report”, Vietnam lags well behind other countries in the region with only two percent of its population having received thirteen years or more of education. The same report notes that Vietnam placed last regionally in the percentage of 20 to 24 year olds enrolled in tertiary education, with only 10% in universities. By contrast, China has 15% of its college age students in college, Thailand enrolls 41%, and South Korea boasts an impressive 89%.
One reason for the low number of Vietnamese college students is the alarmingly limited capacity of the universities themselves. Last month, 1.8 million university candidates sat for exams here, competing for one of the 300,000 spots available nationwide. Though small, this number does represent a dramatic increase since 1990 when the number of student enrollments in universities nationwide was just over 150,000. What makes these statistics disturbing to experts, however, is the fact that the number of teachers has remained virtually unchanged in the last 17 years. Clearly, this is a system under strain.
The second role of a university is to generate knowledge and innovation. Here again, Vietnam is failing to keep up with its neighbors. In 2006, Seoul National University professors and students produced 4,556 scientific publications. Peking University produced close to 3,000. In comparison, both Vietnam National University and Hanoi University of Technology produced just 34 such publications.
The number of resident patent applications is a useful indicator of a country’s capacity for innovation. The 2006 World Bank report showed that 40,000 applications for patents were made in China, as opposed to two in Vietnam.
The Government of Vietnam has made very clear that it understands the importance of education to its citizens, and that it recognizes the urgent need for change. There is genuine social and political desire to effect major improvements at every level of academia in Vietnam, and the Government has passed a number of important legal resolutions – on universal education and governance in the educational system to name just two – that would have significant impact if and when they are fully carried out. While resources and implementation efforts have been insufficient thus far, it is apparent that, at the highest level of this government, there is commitment and will. The United States wants to be a part of this important transformation.
The Vietnamese education system has a real champion in Dr. Nguyễn Thiện Nhân, the Minister of Education and Training who just named to serve concurrently as a Deputy Prime Minister. A former Fulbright Scholar with an MA from the University of Oregon and several post-graduate study programs from Harvard and a former Vice Chairman of Ho Chi Minh City’s Provincial People’s Committee, Minister Nhân has enumerated specific goals to transform the scholastic environment in this country.
These objectives include offering universal access to education, with a particular emphasis on enrollment of girls, minorities and the disadvantaged who are underserved under the existing system, revamping teacher training programs, and overhauling the national curricula for all subjects at all levels. His plan also calls for the development of a consistent and formalized accreditation and assessment process, a new emphasis on vocational training to equip Vietnam’s workforce for the 21st Century, new partnerships with German and U.S. academic institutions, and the upgrading of several of Vietnam’s universities to top-tier and internationally recognized status.
As the World Bank report shows, Vietnam desperately needs more PhDs for its overburdened universities, so the Ministry of Education and Training aims to train 20,000 new doctoral graduates by 2020. Ideally, 10,000 of those will receive their doctorate degrees abroad, with at least 2,500 of them to be trained in the United States.
Beyond these specific goals, government leaders recognize the importance of foreign language acquisition – especially English - for students beginning at the primary school level, as well as increased competence in Information Technology.
In all of these areas, the United States not only can help, but wants to work as a partner with the Government and the people of Vietnam to address the deficiencies and create an academic environment and system of which every Vietnamese citizen can be proud.
One of the premier U.S. academic exchanges is the Fulbright Program. Designed to increase mutual understanding between people around the world, this program was established in 1946 and has since expanded to 140 countries. The program was set up in Vietnam in 1992 and today it receives one of the largest financial contributions from the United States Government of all Fulbright programs worldwide. This is an unquestionably successful program, but with a contribution from the Government of Vietnam, it could be expanded to provide graduate level training to even more Vietnamese scholars, thus creating some of the 20,000 new PhDs this country needs to teach its growing number of university students. I hope this will happen soon.
Here in Ho Chi Minh City, we are proud to support the Fulbright Economics Teaching Program, or FETP. The Fulbright Economics Teaching Program was established in 1994 with the twin objectives of supporting Vietnam’s burgeoning economic transition and market liberalization process by providing economics training in Vietnamese while also advancing our bilateral relationship through academic exchange.
FETP is a joint project between Harvard and the University of Economics here in Ho Chi Minh City. This groundbreaking level of cooperation has been an enormous success. FETP’s flagship course is its one-year program in applied economics and public policy. Currently, the FETP management is working with decision-makers in Washington D.C. and here in Vietnam to examine opportunities for expansion of its programs.
Another important American partner is the Vietnam Education Foundation, or VEF. Since it began its operations in March 2003, VEF has enjoyed many successes in its mission of educational exchange and capacity-building in science and technology for Vietnam. Over 200 VEF Fellows have been placed in graduate programs in top-tier U.S. research universities. One hundred and three leading U.S. research universities now participate in the cost-sharing VEF Alliance which assists in educating Vietnamese students, and VEF has also sponsored 48 scientists and experts from renowned U.S. institutions to deliver lectures and seminars at numerous Vietnamese host institutions. The dividends from the work of the VEF will benefit Vietnam’s educational system for decades.
While the United States is home to many of the world’s top “name brand” universities, our education strength lies in the remarkable depth and breadth of American academic institutions. With over 4,000 accredited colleges and universities to choose from, there is quite literally a school for everyone. A number of excellent schools – like the University of Hawaii and Harvard – have already made important inroads in cooperative education, and many others are exploring prospects for working in Vietnam.
The great school that organized tonight's event, the University of Hawaii’s Shidler College of Business, is a perfect example of the benefits of cooperative efforts in education. The University of Hawaii’s Executive MBA Program was first established in Vietnam in 2000 as a collaborative effort with Vietnam National University’s Hanoi School of Business. The University’s Shidler College of Business is a top 25-ranked school for international business and has a network of over 25,000 alumni world-wide. The program, a two-year, executive format program, allows participants to maintain full-time management positions while earning an MBA degree by offering classes in the evening and on weekends, all of which are taught by University of Hawaii faculty. Eighty-one Vietnamese students have graduated from the program to date, and thirty-one more will graduate in December 2007.
Shidler graduates have done very well, moving on to top jobs with global companies represented here in Vietnam, including Ernst and Young, KPMG and PriceWaterhouseCoopers. Here in Ho Chi Minh City, the University of Hawaii Development Center opened just last year and plans to offer the Executive MBA program beginning this October. Not only do the joint efforts of Vietnamese and American universities such as these add to their own reputations and expand their resources, but more importantly, they offer a previously unavailable opportunity to Vietnamese students who, in turn, can gain the skills needed to become powerful business leaders in any environment.
There are other examples as well. This past April, the Ministry of Foreign Affairs’ Institute of International Relations signed a Memorandum of Understanding with Texas Tech University. Their agreement created the first exchange program for Vietnamese graduate students that will enable them to complete the second year of their Master’s studies at Texas Tech and earn a U.S. degree. Agreements such as this one between Vietnamese partners and U.S. institutions will open the door to the enormous bounty of the American higher education system to more and more Vietnamese young people.
Each year, the American Association of Community Colleges co-hosts a conference here. They can now do so in partnership with the Vietnamese Association of Community Colleges, just established in September 2006. In March, the American – Vietnamese Community College Conference drew more participants from each country than ever before. This year, conference priorities were to share new information on the U.S. Community College model with Vietnamese counterparts, and to focus on teacher training and curriculum development, emphasizing computer and other science skills. In addition, educators from both countries examined ways of improving English language levels for teachers and students.
While Vietnam’s economy is moving ahead quickly, the government recognizes the urgent need of raising the English language level of its citizenry. English is, after all, the lingua franca of commerce and this represents a particular challenge to Vietnamese businesses. In too many cases, English is taught by instructors who do not speak the language themselves and have received scant training in how to teach a foreign language. However, this fall, in yet another indicator of our growing relationship with the Government of Vietnam, the Ministry of Education and Training will host a U.S. Government-funded Senior English Language Fellow. For a full year, this Senior Fellow will work with a special team at the Ministry to completely revamp the English language curriculum for the Vietnamese educational system. This curriculum will be used from primary school up through university level, and will include network training for teachers as well to enhance the quality of their efforts.
Finally, the United States and Vietnam are working closely to establish a Peace Corps program in this country. I hope all of you are familiar with the Peace Corps and its many outstanding programs. Since its creation in 1961, over 187,000 Americans have served as volunteers in 139 countries around the world. Volunteers work in education, agriculture, health and HIV/AIDS, Business and Environment sectors. One of the Peace Corp’s strongest programs is in English Language Teaching, and a Peace Corps presence in Vietnam could have a significant impact on how effectively English is taught throughout the country. We remain hopeful that we can swiftly reach an agreement with the Government to begin this wonderful volunteer program that more than seventy other countries have found so beneficial.
William Butler Yeats said that, “Education is not the filling of a pail, but the lighting of a fire.” As we look forward to the future of education in Vietnam, it is my fondest hope that the flame of learning will burn ever brighter and that its light will illuminate every corner of this beautiful and fascinating country.
The United States is proud to work with its Vietnamese partners to develop an educational system that will serve every student better, and light their way forward as they prepare to take their places with even more confidence and stronger competitive skills on the world’s stage.
Thank you, and with that I would be happy to take your questions.
Cứu trợ cho người nghèo gần như trở thành lời hứa hẹn “cửa miệng” của các nhà từ thiện hoặc các chính khách trên thế giới ngày nay. Thế nhưng, liệu thành lập bộ máy quan liêu khổng lồ trong lĩnh vực an sinh xã hội có phải là giải pháp tốt nhất cho vấn nạn này hay không ? Sự hỗ trợ vật chất nhất thời có phải là cái mà người nghèo cần nhất ? Hay họ cần một cái khác bản chất hơn, cốt lõi hơn để tự khơi dậy tiềm năng của chính họ ?
Một thách thức lớn
Đói nghèo trên diện rộng vẫn là một vấn nạn của cộng đồng thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì năm 1988 có 1,2 tỷ người sống trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối với mức sống ít hơn 1 USD/ngày. Một nửa trong số đó nằm trong các khu vực Nam Á. Mặc dù trong những năm vừa qua tỉ lệ nghèo đói có giảm bớt, nhưng đây vẫn là một trong những vấn đề lớn nhất của nhân loại.
Một lần nữa, xin được nhắc lại những hậu quả thảm khốc mà đói nghèo gây ra. Trước hết, nó làm cho người ta luôn phải đau khổ vì đói khát và buộc con người phải thường xuyên lo lắng vì những mục tiêu hạ cấp nhất. Đói nghèo làm cho người ta trở thành cục cằn, nó không chỉ đẩy một số người đến những hành động bạo lực mà còn làm băng hoại quan hệ giữa người với người, nhất là trong gia đình. Nghèo đói là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hành động bạo hành đối với phụ nữ. Nhiều người phụ nữ Nam Á nói rằng: khi tình trạng kinh tế của người nghèo được cải thiện thì một trong những thay đổi rõ rệt nhất là sự hòa thuận trong gia đình gia tăng, cũng có nghĩa là bạo hành trong gia đình đã giảm.
Nghèo đói làm cho người ta không thể thể hiện được hết năng lực cá nhân của mình. Không được học hành, người nghèo không thể phát triển được các khả năng, không thể nâng cao được năng suất lao động. Trong thời đại của chúng ta, khi người ta nói rất nhiều và rất hay về vai trò của giáo dục và phát triển khả năng của con người thì vẫn đang tồn tại hàng tỷ người không có điều kiện học hành, bỏ phí những tiềm năng của mình.
Nhiều người không nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề này, họ cho rằng vấn đề chính đáng quan tâm nhất là nạn gia tăng dân số. Theo họ, nghèo đói trên diện rộng là lỗi của chính người nghèo. Đấy là một thái độ cực kỳ vô trách nhiệm, nó chẳng những không phù hợp với kinh nghiệm lịch sử mà còn đi ngược lại các lý thuyết kinh tế. Một nước đang giàu có không thể trở thành nghèo đi vì sinh suất cao. Kinh tế luôn luôn phát triển ở những thành phố đông dân chứ không phải ở các làng quê hẻo lánh. Còn trong lý thuyết kinh tế thì việc sản xuất và phân phối thu nhập quốc dân là một tiến trình động, phụ thuộc vào nhiều biến số mà dân số chỉ là một trong số đó. Nếu công nhận rằng mỗi người đều có thể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội thì ta phải công nhận rằng số dân cũng có ảnh hưởng tích cực đối với quá trình phát triển đó. Chỉ có trong các xã hội với hệ thống kinh tế rối loạn, trì trệ, thiếu năng động và không tạo điều kiện cho người dân thể hiện hết năng lực của mình thì việc gia tăng dân số mới thành vấn đề. Trong những điều kiện như thế vấn đề nghèo đói sẽ càng trầm trọng thêm. Người nghèo cảm thấy có lợi khi sinh thêm con, vì như thế là thêm nguồn lao động, là gia tăng thu nhập lúc còn trẻ và bảo đảm kinh tế cho tuổi già.
Hậu quả chính trị cũng không kém phần quan trọng. Nghèo đói đẩy người dân vào những quan hệ bất bình đẳng, tức là những quan hệ làm người ta mất tự do và trở thành đối tượng không được che chở trước những hành động độc ác của kẻ khác. Cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày làm cho người không còn thì giờ và sức lực tham gia vào đời sống chính trị của xã hội hay dân tộc. Quyền lợi của họ không được nói tới và vì vậy mà bị bỏ qua. Người nghèo thường bị buộc phải dựa dẫm vào một “kẻ bảo trợ”, có thể là một “cụ lớn” trong làng hay chủ khu “xóm liều” hoặc chủ thầu nào đó. Không còn lựa chọn nào khác, họ buộc phải bán quyền lợi chính trị của mình cho người bảo trợ để mong được an toàn. Khi các quan hệ chủ - tớ giữ vai trò chủ đạo, thí đó chính là nguy cơ nghiêm trọng đối với các nguyên tắc của quyền tự do cá nhân và những quyền bất khả xâm phạm của con người.
Mong muốn giúp đỡ là phản ứng tự nhiên trước tình trạng nghèo đói và chắc chắn rằng những người nghèo đến mức không thể cất đầu lên được thực sự cần đến sự giúp đỡ. Nhưng nếu cứ giúp đỡ mãi sẽ khiến họ trở nên lệ thuộc. Mặt khác chúng ta đã quên một khía cạnh quan trọng hơn nhiều: Trước đây người ta thường phải giải quyết vấn đề nghèo đói bằng chính nỗ lực của mình: bằng lao động cần cù, tiết kiệm, đầu tư cho con cái học hành, sẵn sàng di chuyển để tìm những cơ hội thuận lợi hơn, sẵn sàng đánh đổi, kể cả đổi chỗ làm việc. Dĩ nhiên là có những người suy sụp đến mức không thể tự lực được, nhưng đấy không phải là đa số.
Hầu hết người nghèo không cần sự giúp đỡ trực tiếp, họ cần được bình đẳng trong cơ hội và được pháp luật bảo vệ để có thể thoát khỏi sự áp chế của những kẻ muốn tước đoạt thành quả lao động của họ.Vì vậy chính sách Nhà nước cần hướng tới là tạo điều kiện cho tất cả các công dân, đặc biệt là người nghèo, cơ hội sở hữu tài sản tư nhân. Điều này giúp người ta độc lập về tài chính và như vậy là củng cố được tự do cá nhân.
Dĩ nhiên là có những trường hợp cần phải trợ cấp, nhất là để chặn đứng nạn đói sau những vụ thiên tai. Trợ cấp trong những trường hợp như thế sẽ hiệu quả hơn là kiểm soát giá cả, thí dụ như kiểm soát giá lương thực, thực phẩm, mà người ta thường áp dụng nhân danh bảo vệ người nghèo, nhưng những biện pháp như thế thường làm méo mó các động cơ kinh tế và sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Cố tình giữ giá lương thực thực phẩm thấp có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các điền chủ và nền nông nghiệp và sẽ làm cho nhiều nông dân nghèo, tức là đa số người nghèo trên thế giới, mất việc làm.
Chúng ta nên tìm những phương tiện giúp người nghèo có thêm tài sản như góp vào quĩ hưu bổng, bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm thất nghiệp, chứ không nên bắt người ta phải đóng thuế cao rồi lấy tiền phân phối lại cho người nghèo. Tiết kiệm hoặc bảo hiểm bắt buộc giúp cho các công ty tư nhân hoạt động hữu hiệu hơn (những công ty này có sự kiểm soát của Nhà nước, trong đó có yêu cầu về tái bảo hiểm). Còn thu thêm thuế để tái phân phối có thể tạo ra bộ máy quan liêu cồng kềnh, ăn hết phần lớn số tiền thu được.
Trong thời đại ngày nay, các Chính phủ cần tập trung trí tuệ tạo ra khung pháp lí phù hợp cho các ngân hàng tư nhân và các công ty bảo hiểm, đặc biệt là các tổ chức tín dụng đơn giản, dễ tiếp cận với người nghèo ở khu vực nông thôn, hoạt động. Cũng cần phải thành lập các định chế kiểm soát hoạt động của các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, còn chính các định chế này thì phải được bảo đảm là hoạt động khách quan, độc lập.
Giáo dục - vũ khí xóa đói giảm nghèo
Không nghi ngờ gì nữa, giáo dục là vũ khí xóa đói giảm nghèo hữu hiệu nhất. Nó cung cấp cho người ta kiến thức và tay nghề đủ sức cạnh tranh, tức là giúp họ tìm được công việc tốt hơn bố mẹ họ và như vậy là có thể bước lên những nấc thang cao hơn. Giáo dục phổ thông giúp giảm thiểu tình trạng kì thị phụ nữ. Giáo dục các bé gái giúp giảm thiểu một cách rõ rệt tỉ lệ sinh vì những người phụ nữ có học lấy chồng muộn hơn, biết cách phòng tránh thai và biết cách chăm sóc gia đình, đặc biệt là sức khỏe trẻ em.
Nếu mục đích của giáo dục là nâng cao tính năng động xã hội thì cần phải đặc biệt chú ý tới chất lượng giáo dục dành cho người nghèo. Chúng tôi nhấn mạnh “cần phải” là vì, điều làm người ta ngạc nhiên là nhiều nhà cải cách chỉ đổ nhiều công sức vào phát triển số lượng người được đào tạo. Họ muốn phát bằng cấp cho thật nhiều người mà hầu như không quan tâm đến chất lượng của những tấm bằng đó. Kết quả là sự phân tầng xã hội sẽ càng vững chắc hơn. Hiện tượng tương tự như thế xảy ra ở cả những nước phát triển, thí dụ như nước Đức, và nhiều nước đang phát triển.
Tại phần lớn các nước Nam Á, chất lượng học tập trong các trường công lập kém đến nỗi người dân phải chịu hi sinh về mặt tài chính chỉ để đưa con em vào các trường tư thục với chất lượng học tập cao hơn, và thường là được dạy bằng tiếng Anh. Nhưng ở nông thôn, các trường như thế là của hiếm, cho nên người nghèo ở đô thị và đa số dân nông thôn đành phải chấp nhận học ở các trường công lập hoặc không đi học nữa. Ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan, ít nhất là 40% ngân sách dành cho giáo dục được đổ vào các trường đại học mà sinh viên chủ yếu con em các gia đình trung lưu. Trong khi đó các trường cấp I không đủ cơ sở hạ tầng để đưa tất cả các trẻ em vào học, tức là không phải đứa trẻ nào cũng thoát nạn mù chữ.
Gia tăng hơn nữa quyền kiểm soát nhà trường cho người dân địa phương phải là bước tiến quan trọng trên con đường hiện đại hóa giáo dục. Điều đó có thể được thực hiện bằng cách chuyển trách nhiệm về giáo dục từ Bộ sang chính quyền huyện và chính quyền làng xã. Chính quyền Trung ương có thể chỉ tập trung sức lực vào việc đặt ra và đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn giáo dục mà thôi. Việc phân chia trách nhiệm như thế sẽ làm gia tăng tính minh bạch các khoản chi tiêu của nhà trường, vì phụ huynh học sinh sẽ dễ dàng kiểm soát những việc diễn ra ở huyện hoặc làng xã. Việc tách tổ chức qui định các tiêu chuẩn giáo dục ra khỏi những cơ quan hành pháp chắc chắn cũng sẽ nâng cao thêm chất lượng giáo dục.
Triệt để hơn nữa là ở các thành phố, Chính phủ có thể giúp người nghèo bằng cách trả tiền học phí cho con em họ và cho phép họ chọn lựa trường, thí dụ, bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng (voucher). Chính phủ thiết lập tiêu chuẩn và mục tiêu giáo dục rồi tập trung sức lực vào việc áp dụng và kiểm tra. Các trường công lập không còn nhận tài trợ từ ngân sách nữa mà sẽ phải tự hạch toán trên cơ sở thu hút thêm nhiều học sinh bằng cách cung cấp cho người học chất lượng giảng dạy tốt hơn. Hệ thống như thế sẽ giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường với nhau. Phụ huynh học sinh sẽ lựa chọn trường trên cơ sở chất lượng dạy và học, còn nhà trường sẽ buộc phải tìm những biện pháp hiệu quả nhất trong việc dạy và học. Khi chất lượng học tập của học sinh nghèo không phải là mục tiêu của cải cách giáo dục thì người nghèo sẽ vẫn bị tước mất phương tiện quan trọng nhất để phát triển, còn xã hội thì không khai thác được tiềm năng ở những con em của người nghèo.
Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
Do nhiều nguyên nhân, người nghèo dễ bị ốm đau. Hệ thống y tế kém chất lượng sẽ gây nên những căn bệnh hiểm nghèo và tình trạng nhiều người nghèo chết trẻ. Từng người và toàn xã hội phải trả giá đắt cho hệ thống như thế.
Mọi người đều công nhận rằng Nhà nước phải cung cấp cho dân chúng dịch vụ y tế chủ yếu. Tuy nhiên, ở nhiều nước hiện nay, dịch vụ y tế miễn phí có chất lượng cực kỳ thấp. Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, điều này đã thúc đẩy sự phát đạt của thị trường chăm sóc sức khỏe tư nhân. Tất cả những ai đủ sức trả tiền đều sử dụng dịch vụ này. Người nghèo cũng phải chi nhiều tiền cho dịch vụ tư nhân vì không có dịch vụ y tế miễn phí của Nhà nước, hoặc có cũng vô ích vì chỉ được vào bệnh viện công sau khi đã phải trả một khoản tiền lớn.
Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước có thể thử nghiệm nhiều biện pháp khác trong việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo. Thí dụ như cung cấp tín dụng, trợ giúp bảo hiểm y tế tư nhân và phi tập trung hóa - kể cả ngân sách – chuyển cho chính quyền địa phương.
Đáng buồn là những cuộc cải cách theo hướng tự do hóa trong lĩnh vực giáo dục và y tế thường hiếm khi được thực thi. Nguyên nhân không phải là vì chúng không thực tiễn mà do sự cản trở của một số nhóm lợi ích và những người đang lợi dụng hệ thống xin-cho. Họ chống lại mọi đề nghị cải cách bằng lập luận rằng thay đổi sẽ làm cho người nghèo càng thiệt thòi thêm.
Phạm Nguyên Trường dịch
Tiến sĩ Otto Graf Lambsdorff là cựu Bộ trưởng Kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, hiện giữ chức Chủ tịch Quĩ Friedrich Naumann
Nhận xét của Đại sứ Mỹ về tình trạng giáo dục tại Việt Nam - Phụng Nghi
Ngày 6 tháng 8 năm 2007, ông Michael W. Marine, đại sứ Hoa kỳ tại Việt nam đã đọc một bài diễn văn tại Phân khoa Kinh tế Shidler thuộc trường Đại học Hawaii ở Saigon.
Sau khi ca ngợi các thành quả Việt nam đạt được về kinh tế, về địa vị Việt nam trên chính trường quốc tế, và mối quan hệ càng ngày càng mở rộng giữa Hoa kỳ và Việt nam, ông đã đưa ra những nhận xét về tình trạng học vấn tại Việt nam ngày nay và vai trò của Hoa kỳ trong việc cải tiến nền giáo dục đó. Một phần bài phát biểu của ông như sau:
“Ở khắp nơi, người ta thấy tiềm năng, phấn khởi và hy vọng. Nhưng đối nghịch với nhiều thành công của mình, Việt nam đang đối diện với những thách đố quan trọng, mà thách đố về hệ thống giáo dục không phải là nhỏ. Trong khi sự tăng trưởng về kinh tế đã phát triển quá mức dự đoán, và người dân Việt tiếp tục đặt giáo dục làm ưu tiên hàng đầu, thì hạ tầng cơ sở cung cấp nguồn nhân lực vật lực tại đây đã không phát triển đủ để hỗ trợ cho nhu cầu tăng trưởng. Điều đó đúng ở mọi cấp bậc trong hệ thống giáo dục, nhưng tình trạng giáo dục cấp đại học tại Việt nam đặt ra những quan ngại đặc biệt.
Vai trò căn bản của các đại học là cung cấp một nền giáo dục hữu dụng về mặt xã hội và kinh tế, làm phát sinh hiểu biết và đổi mới. Theo ý kiến chung, các đại học Việt nam đã không làm tròn được các đòi hỏi thiết yếu này. Bản “Báo cáo về Phát triển trên Thế giới” năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt nam tụt lại phía sau rất xa các nước khác trong khu vực vì chỉ có 2% dân số được đi học đủ 13 năm hoặc hơn nữa. Cũng theo báo cáo này thì Việt nam đứng chót trong khu vực vì chỉ có 10% thanh thiếu niên trong hạng tuổi từ 20 đến 24 có ghi danh vào các trường đại học hoặc cao đẳng. Trái lại, Trung quốc có 15% sinh viên trong hạng tuổi này đã ghi danh, Thái lan có 41% và Nam Hàn có con số thật ấn tượng là 89%.
Một lý do làm cho con số sinh viên đại học Việt nam quá thấp là khả năng dung nạp rất hạn chế đến mức báo động của chính các trường đại học. Tháng qua, tại đây có 1,8 triệu học sinh dự cuộc tuyển sinh, tranh dành nhau 300 ngàn chỗ ngồi trong các trường đại học cả nước. Tuy nhỏ, nhưng con số đó cũng là một gia tăng đáng kể so với con số sinh viên ghi danh vào đại học năm 1990 khắp nước chỉ có 150 ngàn. Tuy nhiên, điều làm cho các chuyên viên phải bận tâm với thống kê đó, là con số giáo sư giảng dạy gần như không thay đổi đáng kể suốt 17 năm qua. Rõ ràng đây là một hệ thống giáo dục quá căng.
Nhiệm vụ thứ hai của một đại học là làm phát sinh ra trí thức và đổi mới. Về lãnh vực này Việt nam một lần nữa không theo kịp các quốc gia lân cận. Năm 2006, các giáo sư và sinh viên Đại học Quốc gia Seoul (Hán thành) công bố 4.556 ấn phẩm khoa học. Trường Đại học Bắc kinh có gần 3.000. Để so sánh ta thấy cả Đại học Quốc gia Hà nội và trường Kỹ thuật Quốc gia Hà nội chỉ thực hiện được 34 ấn phẩm.
Số đơn xin bằng sáng chế là thước đo hữu dụng để biết khả năng phát minh của một quốc gia. Báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho biết Trung quốc có 40.000 đơn xin bằng sáng chế, trong khi ở Việt nam chỉ có 2 đơn.
Chính phủ Việt nam cho thấy đã hiểu rõ tầm mức quan trọng của giáo dục cho công dân và thấy nhu cầu khẩn thiết phải có thay đổi. Có mong muốn thực sự về xã hội và chính trị để tạo ra cải tiến ở mọi cấp bậc học vấn tại Việt nam, và chính quyền đã thông qua một số nghị quyết quan trọng về pháp luật – liên quan đến giáo dục và quản trị đại học trong hệ thống giáo dục – mà sẽ có tác động đáng kể, chỉ với điều kiện là nếu được và sau khi được thực hiện đầy đủ. Trong khi nguồn nhân lực và các nỗ lực cải tiến từ trước tới nay vẫn không đủ, nhưng đã có cam kết và ý chí. Hoa kỳ muốn góp phần vào sự chuyển biến quan trọng này.
Hệ thống giáo dục Việt nam có ông Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn thiện Nhân, một học giả của chương trình Fulbright đã đậu bằng tiến sĩ Đại học Oregon, có theo vài chương trình hậu đại học tại Harvard, đã xác định các mục tiêu đặc biệt để thay đổi môi trường học vấn tại Việt nam.
Các mục tiêu này gồm: cung ứng nền giáo dục đại chúng - đặc biệt chú trọng vào nữ giới, người thiểu số và những người kém may mắn là thành phần chưa được phục vụ đúng mức trong hệ thống giáo dục hiện nay - cải thiện các chương trình huấn luyện giáo viên, và kiểm tra toàn bộ chương trình các môn học ở mọi cấp bậc trong cả nước. Kế hoạch của ông cũng kêu gọi phát triển một tiến trình liên tục và chính thức nhằm thẩm định và khen thưởng, chú tâm vào công tác huấn nghệ để trang bị cho lực lượng lao động của Việt nam vào thế kỷ 21, cộng tác với các cơ sở học vấn Đức và Hoa kỳ, nâng cấp nhiều trường đại học Việt nam lên hàng đầu và đạt tiêu chuẩn được quốc tế công nhận.
Như bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho thấy, Việt nam rất cần nhiều người có văn bằng PhD ( Tiến sĩ ) cho các trường đại học đã “quá tải”, vì thế Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt mục tiêu huấn luyện 20.000 tiến sĩ mới từ nay đến năm 2020. Lý tưởng là 10.000 trong số đó sẽ nhận lãnh văn bằng tiến sĩ tại ngoại quốc, ít nhất 2.500 sẽ được huấn luyện tại Hoa kỳ.
Ngoài các mục tiêu đặc biệt này, chính quyền còn nhận thấy sự quan trọng của việc dạy ngoại ngữ - đặc biệt là tiếng Anh – cho các học sinh bắt đầu ngay ở bậc tiểu học, cũng như gia tăng khả năng về Kỹ thuật Thông tin.
Trong các lãnh vực này Hoa kỳ không những chỉ có thể giúp đỡ mà còn muốn làm người cộng tác với chính phủ và nhân dân Việt nam để giải quyết những thiếu sót và tạo lập một môi trường và hệ thống giáo dục mà người dân Việt nam có thể tự hào.
Một trong các trao đổi học vấn hàng đầu là chương trình Fulbright, thành lập năm 1946 nhằm gia tăng hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, hiện nay đã phát triển ra 140 nước. Chương trình này thành lập ở Việt nam năm 1992, nay nhận được đóng góp tài chánh nhiều nhất của chính phủ Mỹ.
Một cộng tác viên quan trọng nữa là Vietnam Education Foundation của Hoa kỳ. Từ ngày hoạt động (tháng 3-2003) cơ quan này đã đạt được nhiều thành quả trong sứ mạng trao đổi giáo dục và đào tạo kỹ năng trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật cho Việt nam.
Một số trường đại học toàn hảo – như Hawaii và Harvard – đã đi những bước quan trọng vào lãnh vực giáo dục hợp tác, và nhiều trường khác đang thăm dò khả năng hoạt động tại Việt nam.
Thỏa thuận với Texas Tech University đã tạo ra chương trình trao đổi đầu tiên để các sinh viên Việt nam có thể hoàn tất năm thứ hai của chương trình Tiến sĩ tại trường này để lấy bằng cấp tại Hoa kỳ. Những thỏa thuận như thế giữa Việt nam và các cơ sở giáo dục Hoa kỳ sẽ mở cửa cho nhiều thanh thiếu niên Việt nam bước vào hệ thống giáo dục cấp cao của Mỹ.
Trong lúc nền kinh tế Việt nam tăng trưởng mau chóng, chính quyền nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độ Anh ngữ cho công dân. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính yếu của thương mãi và do vậy là một thách đố đặc biệt cho thương gia Việt nam. Trong nhiều trường hợp, người dạy Anh ngữ lại không nói được chính ngôn ngữ này và ít được học về phương pháp dạy tiếng ngoại quốc. Nhóm Senior English Language Fellow của Hoa kỳ sẽ làm việc một năm ròng với một nhóm đặc biệt của Bộ Giáo dục để sửa đổi hoàn toàn chương trình giảng dạy Anh ngữ trong hệ thống giáo dục Việt nam, từ cấp tiểu học tới đại học, gồm cả việc huấn luyện các nhân viên giảng dạy.
Sau cùng Mỹ và Việt nam đang cộng tác chặt chẽ để lập Đoàn Hòa bình (Peace Corps), từ ngày thành lập (1961) đến nay đã có 187.000 người Mỹ tình nguyện phục vụ tại 139 quốc gia trong các lãnh vực giáo dục, nông nghiệp, y tế và HIV/AIDS, thương mãi và môi trường. Chương trình chính yếu nhất là dạy Anh ngữ, sẽ có ảnh hưởng quan trọng trong việc giảng dạy có hiệu quả ngôn ngữ này khắp nơi trong nước Việt nam.”
Remarks by Ambassador Michael W. Marine -
Challenges of Higher Education in Vietnam :
Possible Roles for the United States
University of Hawaii’s Shidler College of Business
Executive MBA Program
Ho Chi Minh City
August 6, 2007 - 10:30 a.m.
Dr. Augustine Vinh, MBA candidates, friends and colleagues, good morning. Thank you for inviting me to speak to you today. As you all probably know, this will be my last visit to Ho Chi Minh City as the United States Ambassador to Vietnam. I cannot think of a better way to mark the occasion than having an opportunity to exchange ideas on education, perhaps the key to Vietnam’s future.
As I was preparing these remarks, I did a little research on the University of Hawaii. The University has a motto which is included on its official website – in the original Hawaiian; it is quite lengthy, and virtually unpronounceable. But I learned that it means “Above all nations is humanity.” This seems a perfect guiding principle for an institution devoted to education, because the goals of any school should extend to the highest ideals of service and community. Dr. Vinh and the professors of the Shidler College of Business exemplify that commitment, and I thank them for the important role they play.
In my three years as the U.S. Ambassador to Vietnam, I have seen great changes taking place here. The bonds between our two countries have grown broader and deeper than perhaps any of us might have envisioned only a few years ago. While there are many reasons for this deepening relationship, I believe the two most important factors are a fundamental convergence of Vietnamese and U.S. interests in ensuring stability and security in this part of the world, and the growing exchanges between our governments and our people.
This is an extraordinary time for Vietnam. When the United States reestablished diplomatic ties with Vietnam in 1995, we found ourselves engaging with a nation that had struggled through decades of war, and that was just emerging from decades of poverty and limited interactions with the global community in areas of trade, investment, education and people to people interaction.
How our relationship has changed in twelve short years! Today, Vietnam is the 150th member of the World Trade Organization (WTO) and enjoys Permanent Normal Trade Relations with the United States. Last year, the Asia Pacific Economic Cooperation, or APEC summit hosted by Vietnam, brought leaders from twenty-one nations together, including President Bush. And in June, President Nguyen Minh Triet visited the United States, the latest in a growing list of high-level visits.
Economically, Vietnam is making major strides forward. The value of U.S. – Vietnam two-way trade will exceed $10 Billion dollars this year, up from $1.5 billion in 2001. The United States is Vietnam's top export market and its fourth largest foreign investor. The newest Asian Tiger, Vietnam expects to attract at least $15 billion in foreign direct investment commitments this year.
All around Vietnam, one sees energy, enthusiasm and hope. But set against its many successes, Vietnam faces significant challenges, not the least of which is its education system. While this country’s sustained economic growth has exceeded expectations, and the Vietnamese people continue to place an extremely high priority on education, the human resource infrastructure here has simply not developed sufficiently to support the growing demands. While this is true at all levels of the system, the state of higher education in Vietnam poses particular concerns.
The fundamental role of universities is to provide socially and economically beneficial education, and to generate knowledge and innovation. By all accounts, Vietnamese universities are failing to fulfill these critical obligations. According to a 2006 World Bank “World Development Report”, Vietnam lags well behind other countries in the region with only two percent of its population having received thirteen years or more of education. The same report notes that Vietnam placed last regionally in the percentage of 20 to 24 year olds enrolled in tertiary education, with only 10% in universities. By contrast, China has 15% of its college age students in college, Thailand enrolls 41%, and South Korea boasts an impressive 89%.
One reason for the low number of Vietnamese college students is the alarmingly limited capacity of the universities themselves. Last month, 1.8 million university candidates sat for exams here, competing for one of the 300,000 spots available nationwide. Though small, this number does represent a dramatic increase since 1990 when the number of student enrollments in universities nationwide was just over 150,000. What makes these statistics disturbing to experts, however, is the fact that the number of teachers has remained virtually unchanged in the last 17 years. Clearly, this is a system under strain.
The second role of a university is to generate knowledge and innovation. Here again, Vietnam is failing to keep up with its neighbors. In 2006, Seoul National University professors and students produced 4,556 scientific publications. Peking University produced close to 3,000. In comparison, both Vietnam National University and Hanoi University of Technology produced just 34 such publications.
The number of resident patent applications is a useful indicator of a country’s capacity for innovation. The 2006 World Bank report showed that 40,000 applications for patents were made in China, as opposed to two in Vietnam.
The Government of Vietnam has made very clear that it understands the importance of education to its citizens, and that it recognizes the urgent need for change. There is genuine social and political desire to effect major improvements at every level of academia in Vietnam, and the Government has passed a number of important legal resolutions – on universal education and governance in the educational system to name just two – that would have significant impact if and when they are fully carried out. While resources and implementation efforts have been insufficient thus far, it is apparent that, at the highest level of this government, there is commitment and will. The United States wants to be a part of this important transformation.
The Vietnamese education system has a real champion in Dr. Nguyễn Thiện Nhân, the Minister of Education and Training who just named to serve concurrently as a Deputy Prime Minister. A former Fulbright Scholar with an MA from the University of Oregon and several post-graduate study programs from Harvard and a former Vice Chairman of Ho Chi Minh City’s Provincial People’s Committee, Minister Nhân has enumerated specific goals to transform the scholastic environment in this country.
These objectives include offering universal access to education, with a particular emphasis on enrollment of girls, minorities and the disadvantaged who are underserved under the existing system, revamping teacher training programs, and overhauling the national curricula for all subjects at all levels. His plan also calls for the development of a consistent and formalized accreditation and assessment process, a new emphasis on vocational training to equip Vietnam’s workforce for the 21st Century, new partnerships with German and U.S. academic institutions, and the upgrading of several of Vietnam’s universities to top-tier and internationally recognized status.
As the World Bank report shows, Vietnam desperately needs more PhDs for its overburdened universities, so the Ministry of Education and Training aims to train 20,000 new doctoral graduates by 2020. Ideally, 10,000 of those will receive their doctorate degrees abroad, with at least 2,500 of them to be trained in the United States.
Beyond these specific goals, government leaders recognize the importance of foreign language acquisition – especially English - for students beginning at the primary school level, as well as increased competence in Information Technology.
In all of these areas, the United States not only can help, but wants to work as a partner with the Government and the people of Vietnam to address the deficiencies and create an academic environment and system of which every Vietnamese citizen can be proud.
One of the premier U.S. academic exchanges is the Fulbright Program. Designed to increase mutual understanding between people around the world, this program was established in 1946 and has since expanded to 140 countries. The program was set up in Vietnam in 1992 and today it receives one of the largest financial contributions from the United States Government of all Fulbright programs worldwide. This is an unquestionably successful program, but with a contribution from the Government of Vietnam, it could be expanded to provide graduate level training to even more Vietnamese scholars, thus creating some of the 20,000 new PhDs this country needs to teach its growing number of university students. I hope this will happen soon.
Here in Ho Chi Minh City, we are proud to support the Fulbright Economics Teaching Program, or FETP. The Fulbright Economics Teaching Program was established in 1994 with the twin objectives of supporting Vietnam’s burgeoning economic transition and market liberalization process by providing economics training in Vietnamese while also advancing our bilateral relationship through academic exchange.
FETP is a joint project between Harvard and the University of Economics here in Ho Chi Minh City. This groundbreaking level of cooperation has been an enormous success. FETP’s flagship course is its one-year program in applied economics and public policy. Currently, the FETP management is working with decision-makers in Washington D.C. and here in Vietnam to examine opportunities for expansion of its programs.
Another important American partner is the Vietnam Education Foundation, or VEF. Since it began its operations in March 2003, VEF has enjoyed many successes in its mission of educational exchange and capacity-building in science and technology for Vietnam. Over 200 VEF Fellows have been placed in graduate programs in top-tier U.S. research universities. One hundred and three leading U.S. research universities now participate in the cost-sharing VEF Alliance which assists in educating Vietnamese students, and VEF has also sponsored 48 scientists and experts from renowned U.S. institutions to deliver lectures and seminars at numerous Vietnamese host institutions. The dividends from the work of the VEF will benefit Vietnam’s educational system for decades.
While the United States is home to many of the world’s top “name brand” universities, our education strength lies in the remarkable depth and breadth of American academic institutions. With over 4,000 accredited colleges and universities to choose from, there is quite literally a school for everyone. A number of excellent schools – like the University of Hawaii and Harvard – have already made important inroads in cooperative education, and many others are exploring prospects for working in Vietnam.
The great school that organized tonight's event, the University of Hawaii’s Shidler College of Business, is a perfect example of the benefits of cooperative efforts in education. The University of Hawaii’s Executive MBA Program was first established in Vietnam in 2000 as a collaborative effort with Vietnam National University’s Hanoi School of Business. The University’s Shidler College of Business is a top 25-ranked school for international business and has a network of over 25,000 alumni world-wide. The program, a two-year, executive format program, allows participants to maintain full-time management positions while earning an MBA degree by offering classes in the evening and on weekends, all of which are taught by University of Hawaii faculty. Eighty-one Vietnamese students have graduated from the program to date, and thirty-one more will graduate in December 2007.
Shidler graduates have done very well, moving on to top jobs with global companies represented here in Vietnam, including Ernst and Young, KPMG and PriceWaterhouseCoopers. Here in Ho Chi Minh City, the University of Hawaii Development Center opened just last year and plans to offer the Executive MBA program beginning this October. Not only do the joint efforts of Vietnamese and American universities such as these add to their own reputations and expand their resources, but more importantly, they offer a previously unavailable opportunity to Vietnamese students who, in turn, can gain the skills needed to become powerful business leaders in any environment.
There are other examples as well. This past April, the Ministry of Foreign Affairs’ Institute of International Relations signed a Memorandum of Understanding with Texas Tech University. Their agreement created the first exchange program for Vietnamese graduate students that will enable them to complete the second year of their Master’s studies at Texas Tech and earn a U.S. degree. Agreements such as this one between Vietnamese partners and U.S. institutions will open the door to the enormous bounty of the American higher education system to more and more Vietnamese young people.
Each year, the American Association of Community Colleges co-hosts a conference here. They can now do so in partnership with the Vietnamese Association of Community Colleges, just established in September 2006. In March, the American – Vietnamese Community College Conference drew more participants from each country than ever before. This year, conference priorities were to share new information on the U.S. Community College model with Vietnamese counterparts, and to focus on teacher training and curriculum development, emphasizing computer and other science skills. In addition, educators from both countries examined ways of improving English language levels for teachers and students.
While Vietnam’s economy is moving ahead quickly, the government recognizes the urgent need of raising the English language level of its citizenry. English is, after all, the lingua franca of commerce and this represents a particular challenge to Vietnamese businesses. In too many cases, English is taught by instructors who do not speak the language themselves and have received scant training in how to teach a foreign language. However, this fall, in yet another indicator of our growing relationship with the Government of Vietnam, the Ministry of Education and Training will host a U.S. Government-funded Senior English Language Fellow. For a full year, this Senior Fellow will work with a special team at the Ministry to completely revamp the English language curriculum for the Vietnamese educational system. This curriculum will be used from primary school up through university level, and will include network training for teachers as well to enhance the quality of their efforts.
Finally, the United States and Vietnam are working closely to establish a Peace Corps program in this country. I hope all of you are familiar with the Peace Corps and its many outstanding programs. Since its creation in 1961, over 187,000 Americans have served as volunteers in 139 countries around the world. Volunteers work in education, agriculture, health and HIV/AIDS, Business and Environment sectors. One of the Peace Corp’s strongest programs is in English Language Teaching, and a Peace Corps presence in Vietnam could have a significant impact on how effectively English is taught throughout the country. We remain hopeful that we can swiftly reach an agreement with the Government to begin this wonderful volunteer program that more than seventy other countries have found so beneficial.
William Butler Yeats said that, “Education is not the filling of a pail, but the lighting of a fire.” As we look forward to the future of education in Vietnam, it is my fondest hope that the flame of learning will burn ever brighter and that its light will illuminate every corner of this beautiful and fascinating country.
The United States is proud to work with its Vietnamese partners to develop an educational system that will serve every student better, and light their way forward as they prepare to take their places with even more confidence and stronger competitive skills on the world’s stage.
Thank you, and with that I would be happy to take your questions.
21 tháng 5, 2009
Đọc lại chín câu chuyện nhỏ của GS Bùi Trọng Liễu.

HOCMOINGAY. Báo Tuần Việt Nam đã đăng bài viết của Giáo sư Bùi Trọng Liễu (Nguyên giáo sư đại học, Paris, Pháp) "Chín câu chuyện nhỏ và những bức xúc lớn của ngành giáo dục" gồm: Cắm hoa giả làm cây, Chuyện mua kính và đại học đẳng cấp; Đẽo cày giữa đường và cải cách giáo dục; Con khỉ mặc lễ phục và bệnh thành tích; Gian lận thi cử - xưa và nay; Học trò nghèo và cơ hội học hành; Bệnh xã hội và phong trào "nói không"; Đọc chữ người và quyết sách; Dạy khỉ và mục tiêu đại học Top 200. Lời văn nhẹ nhàng, hài hước nhưng sâu sắc, thâm trầm. Nhiều ẩn dụ có thể là lời khuyên chân thành nhưng cũng có thể là lời chỉ trích bóng gió tùy theo mối quan hệ và ngữ cảnh ... Tôi chép bài viết về trang hocmoingay để đọc lại và suy ngẫm. Tôi dừng lại lâu nhất ở câu: "Tôi mong rằng các quan chức có trách nhiệm, biết phân biệt được đâu là lời trung thực và hợp lý, đâu là lời bàn hão." (ảnh đèn dầu từ internet)
CHÍN CÂU CHUYỆN NHỎ VÀ NHỮNG BỨC XÚC LỚN TRONG NGÀNH GIÁO DỤC
Bùi Trọng Liễu
(Nguyên giáo sư đại học, Paris, Pháp)
TUANVIETNAM. Có chuyện có thật, có những chuyện là giai thoại, mang tính ngụ ngôn, GS. Bùi Trọng Liễu (Nguyên GS đại học, Paris, Pháp) tập hợp lại thành một khối nhất quán để minh họa cho những bức xúc đang tồn tại trong ngành giáo dục.
Câu chuyện thứ nhất: Cành hoa cắm giả làm cây
Năm 1960, Hồ Chủ Tịch phát động phong trào "trồng cây", cụ lại có câu nổi tiếng, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Nhưng không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa của câu "trồng người".
Cũng năm 1960, cụ về thăm quê. Về đến nhà khách tỉnh ủy Nghệ An, cụ phát hiện ra ngoài vườn có những cành hoa cắm xuống đất, giả như cây trồng, để đón cụ. Cụ đã nghiêm khắc phê phán coi đó là một căn bệnh phô trương hình thức.
Hiện nay, đọc thông tin về kế hoạch và đề án đào tạo nhân lực, nhiều người trong và ngoài nước không khỏi hoang mang, hoài nghi về sự khả thi của một số đề án này, với những số liệu và mốc thời gian. E rằng những con người mà những đề án này giả định là sẽ đào tạo ra, cũng như những cành cây không rễ, cắm xuống đất cho có số lượng, chứ không phải là thực sự trồng cây, trồng người.
Câu chuyện thứ hai: Chuyện mua kính và ĐH đẳng cấp
Thuở nhỏ, tôi có học trong một cuốn Giáo khoa thư, câu chuyện sau đây: Có một bác nông dân, ra tỉnh, vào một hàng kính, hỏi mua một cặp kính trắng. Chủ hiệu đưa cho bác một trang sách để bác thử đọc. Bác thử tất cả các cặp kính của hiệu mà vẫn không vừa lòng.
Chủ hiệu đâm nghi hỏi: "Thế bác đã biết đọc chưa đã?". Bác ta nổi giận gắt lên: "Nếu tôi biết đọc rồi, thì tôi đi mua kính làm gì!". Té ra bác ấy thấy mấy người già đọc sách thường đeo kính, nên ngỡ rằng cứ đeo kính lên thì đọc được chữ mà chẳng cần phải học.
Ngày nay, có một số người Việt Nam, "cưỡi ngựa xem hoa" nước ngoài, quáng mắt ngỡ rằng cứ có vài chục héc-ta đất, xây campus với những tòa nhà hoành tráng, trang bị bàn ghế cho bảnh, thư viện đầy ắp sách, phòng làm việc đầy ắp máy tính, phòng thí nghiệm có máy móc tối tân, v..v. mà chẳng cần chú ý giảng viên có trình độ tương xứng hay không, sinh viên học hành thế nào, để rồi vào khoảng năm 2020 Việt Nam cũng sẽ có những đại học đẳng cấp, lọt vào top 200 trường ĐH hàng đầu thế giới chẳng hạn. Dễ vậy sao?
Câu chuyện thứ ba: Đẽo cày giữa đường và cải cách Giáo dục
Trong kho truyện cổ Việt Nam, có chuyện "Đẽo cày giữa đường": Có anh nông dân kiếm được thanh gỗ, muốn đẽo cái cày. Thay vì nhờ sự cố vấn của những người thợ lành nghề, anh mang gỗ ra ngồi giữa đường để "đẽo cày". Kẻ qua người lại, mỗi người góp một ý, người thì nói phải đẽo thế này, người thì nói phải đục thế kia. Đẽo một lúc thì thanh gỗ teo lại. Kẻ qua người lại, hỏi, thì anh đành nói là anh đang "đẽo cái chìa vôi" (chìa vôi là cái que nhỏ như chiếc đũa, một đầu để quệt vôi, một đầu nhọn, dùng để têm trầu). Lại mỗi người góp một ý, người thì nói phải vót thế này, người thì nói phải gọt thế kia. Một lúc sau, người qua lại hỏi anh đang làm gì, thì anh gắt lên: "Tôi đang vót cái tăm xỉa răng".
Có hiện tượng là quá nhiều người được hỏi ý và góp ý về Giáo dục Đào tạo, trong đó có cả những người không có kinh nghiệm gì trong vấn đề. Tôi mong rằng các quan chức có trách nhiệm, biết phân biệt được đâu là lời trung thực và hợp lý, đâu là lời bàn hão. Tuy nhiên, còn có vấn đề biết đấy, nhưng có nghe hay không nghe. Thi hào Nguyễn Khuyến có bài thơ "Anh giả điếc":
Trong thiên hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
Chẳng ai ngờ "sáng tai họ, điếc tai cày"…
Còn tại sao lại giả điếc thì lại là một vấn đề khác!
Câu chuyện thứ tư: Con khỉ mặc lễ phục và bệnh thành tích
Theo "Sử ký" của Tư Mã Thiên: Khoảng năm 206 trước Công nguyên, Hạng Vũ (người đất Sở, sau là Tây Sở Bá vương) và Lưu Bang (người đất Bái, sau là Hán Cao tổ) khởi binh để diệt nhà Tần, hai phía tiến vào đất Quan Trung (nơi có kinh đô Hàm Dương của nhà Tần).
Lưu Bang vào trước, lấy được đất Quan Trung và kinh đô Hàm Dương của nhà Tần, nhưng ít quân hơn Hạng Vũ, nên phải chịu lép vế tạm nhường cho Hạng Vũ. Sau khi đã đem binh vào thành Hàm Dương, giết vua Tần Tam Thế (đã đầu hàng), đốt cung A Phòng, thu của cải châu báu, gái đẹp, Hạng Vũ muốn đem quân về phía đông.
Có Hàn Sinh khuyên Hạng Vũ rằng: "Đất Quan Trung bốn phía có núi sông che chở, đất đai phì nhiêu, có thể đóng đô ở đấy để xây dựng nghiệp bá". Hạng Vũ không nghe. Hàn Sinh thất vọng, trở ra, nói lén: "Người ta nói rằng người nước Sở giống như con khỉ đội mũ người; quả thực là đúng". Hạng Vũ biết được, sai bắt Hàn Sinh bỏ vào vạc dầu mà nấu cho chết. (Theo người xưa, lời khuyên của Hàn Sinh là hợp lý. Tại Hạng Vũ không nghe, cho nên đó là một trong những nguyên nhân Hạng Vũ bị thua trong vụ Hán Sở tranh hùng, rốt cục phải tự tử chết).
Có nguồn cho rằng Hàn Sinh ngụ ý nói con khỉ bắt chước hình thức, đội mũ (mặc "lễ phục") như người, nhưng chỉ chốc lát thì bản chất của nó cũng sẽ lộ ra, về tri thức khỉ vẫn chỉ là khỉ. Câu nói đó rất là nặng. Người Pháp có câu "Bộ áo thày tu chẳng có thể biến người mặc thành tu sĩ được" cũng na ná ý nghĩa như câu nói của Hàn Sinh, nhưng nhẹ nhàng hơn về cách phát biểu.
Hy vọng rằng trong xã hội ta, công luận cũng thấy rõ rằng bằng cấp rởm, danh hiệu tiếm xưng, ngồi nhầm ghế, phô trương kỷ lục, vv. thì dù có mặc "lễ phục" cũng không che đậy được.
Câu chuyện thứ năm: Gian lận thi cử - xưa và nay
Trong cuốn "Vũ Trung tuỳ bút" của Phạm Đình Hổ, ông kể: Thời Lê mạt, người ta đồn là ông Nguyễn Hoãn, khi đi thi tiến sĩ, bài văn sách là do bài của sáu văn sĩ làm giúp cho trước. Lời đồn kể rằng vì thuở ấy bố ông Nguyễn Hoãn, là Phong quận công Hiệu đang làm Tham tụng (nghiã là Tể tướng), quyền to, các quan khác đều sợ. Khi ấy có một ông quan bị khiển trách, phải bãi chức. Một hôm, ông này được triệu vào tướng phủ, nhưng ngồi đợi lâu ở nhà trong mà không được yết kiến.
Ngồi mãi, không có gì làm, ông ta chợt thấy trên kỷ có một đầu đề văn sách, mở ra xem đọc đi đọc lại thuộc hết cả. Suốt ngày được kẻ hầu người hạ khoản đãi rất tử tế, đến chiều ra về mà vẫn không thấy quan Tham tụng hỏi đến, không hiểu ra sao. Đến khi phủ chúa (chúa Trịnh) triệu tập các quan văn thần vào soạn đề thi, thì ông quan ấy cũng được triệu vào, ông ta liền đề nghị cái đầu đề văn sách đọc được bữa trước trong tướng phủ. Khoa ấy, ông Nguyễn Hoãn đỗ Hội nguyên.
Sau, ông Nguyễn Hoãn lần lượt được giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền, làm tới Thái phó, tước quận công.
Ngày xưa người ta cũng biết ngượng, nên gian lận thi cử cũng còn giấu giếm làm lén. Ngày nay là thời kinh tế thị trường, đại trà ồ ạt, tôi ở xa không biết tình hình số liệu thực sự như thế nào?
Câu chuyện thứ sáu: Học trò nghèo và cơ hội học hành
Trong cuốn "Quốc văn giáo khoa thư" lớp sở đẳng, có chuyện ông Châu Trí: thuở trẻ ông học giỏi, nhưng nhà nghèo, phải đến ở nhờ chùa Long Tuyền; không có tiền mua dầu thắp đèn, phải đi quét lá đa, tối đốt lửa mà học. Đến khi đỗ giải nguyên, thiên hạ mừng tặng ông bài thơ:
Một anh trò kiết chùa Long Tuyền,
Ai ngờ nay lại đỗ giải nguyên.
Ở đời không có việc gì khó,
Người ta lập chí phải nên kiên.
Đó là ngày xưa, bên cạnh những chuyện lem nhem như chuyện ông Nguyễn Hoãn vừa kể trên, xã hội rất trọng những người nhà nghèo, có ý chí vươn lên.
Còn ngày nay, thì sao? Có những học sinh, sinh viên nghèo, sống trong cảnh rất khó khăn, nhưng vẫn cố gắng học hành nghiêm chỉnh; khi ra trường, vào đời, có được sử dụng "ngang tầm" với con cháu các "đại gia" không?
Câu chuyện thứ bảy: Bệnh xã hội và phong trào "nói không"
Cuốn "Cổ học tinh hoa" của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, dẫn Liệt nữ truyện: Tương truyền Mạnh Tử, thuở nhỏ mồ côi cha sớm, mẹ nuôi dạy rất nghiêm túc. Nhà ở gần nghĩa địa, thấy người ta đào chôn lăn khóc, về nhà cũng bắt chước đào chôn lăn khóc; bà mẹ thấy thế, nói: "Chỗ này không phải chỗ con ta ở được"; rồi dọn nhà ra gần chợ.
Mạnh Tử ở gần chợ, thấy người ta buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước đùa buôn bán điên đảo: bà mẹ lại nói: "Chỗ này cũng không phải chỗ con ta ở được"; bèn dọn nhà đến ở gần trường học. Mạnh Tử ở gần trường, thấy trẻ đua nhau học tập lễ phép, sách vở, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép, sách vở; bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói: "Chỗ này là chỗ con ta ở được đây".
Sau Mạnh Tử trở thành nhà hiền triết lớn. Đấy là chuyện Tàu. Còn người xưa nước ta thì có câu: "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", cũng để nói ảnh hưởng rất lớn của môi trường xã hội đối với giáo dục đạo đức con người.
Ngày nay, ngoài xã hội có nhiều chuyện đảo điên, mà trong trường học cũng có chuyện đảo điên. Vậy thì "nói không" với những gì và áp dụng "nói không" với biện pháp nào, để cho có hiệu quả?
Câu chuyện thứ tám: Đọc chữ người và quyết sách
Trong cuốn "Lều chõng", tác giả Ngô Tất Tố có viết trong chương 5, câu chuyện này (tôi tóm tắt): Cụ Nguyễn Công Hoàn là bậc danh sĩ đời Lê, văn hay, học rất uẩn súc, nhưng thi mãi không đỗ. Ông Nguyễn Công Lân là con, sức học tuy còn kém cụ rất xa, nhưng mà văn chương hoạt bát, ngoài hai mươi tuổi đã đỗ hương cống, rồi lại đỗ luôn tiến sĩ. Có một khoa, ông Lân đã làm chủ khảo, cụ Hoàn vẫn còn cắp quyển đi thi, và cũng lại hỏng như trước.
Thế rồi đến khi việc trường đã xong, ông Lân về nhà thăm cha. Đầu tiên, cụ hỏi ngay: "Khoa này có được quyển nào khá không?". Ông con ngay thật thưa rằng: "Có một quyển khá, chỉ vì phải câu tứ lục thất niêm, không thể lấy đỗ". Cụ Nguyễn liền gặng: "Câu tứ lục ấy thế nào? Có nhớ không?". Ông con thưa rằng có nhớ và đọc như vầy: "Lưu hành chi hóa tự tây đông, nam bắc vô tư bất phụ/ Tạo tựu chi công tự Cảo Mân, Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng".
Rồi thì ông ấy lại tiếc ngậm ngùi mà rằng: "Nếu như câu dưới, họ đảo hai chữ "Cảo Mân" ra làm "Mân Cảo", cho đúng niêm luật, thì hai câu ấy hay biết chừng nào". Cụ Hoàn không đợi cho con hết lời, vác gậy phang luôn chừng vài chục gậy. Và cụ nghiến răng nghiến lợi, chửi mắng tàn nhẫn. Cụ bảo ông con dốt nát như thế mà đi chấm trường, chôn sống biết bao nhiêu người.... Thì ra hai câu tứ lục ấy chính ủa cụ, ý cụ đặt như thế này: "Lưu hành chi hóa tự Tây, Đông Nam Bắc vô tư bất phục/ Tạo tựu chi công tự Cảo, Mân Kỳ Phong dĩ mạc bất hưng".
Chữ Nho vốn không có dấu phẩy. Trong hai câu đó, câu trên tất phải ngắt đến chữ "Tây", câu dưới tất phải ngắt đến chữ "Cảo". Chứ nếu ngắt như kiểu ông Lân, một đằng ngắt đến chứ "Đông", một đằng ngắt đến chữ "Mân" thì không có nghĩa gì cả.
Bởi vì nhà Chu khởi ở phương Tây, đóng kẻ chợ ở đất Cảo, người ta chỉ có thể nói: "Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây, các phương Đông Nam Bắc đâu đâu cũng phục. Cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, các xứ Mân Kỳ Phong đều cũng dấy theo".
Chứ ai lại nói: "Cái thói trôi đi nổi tự phương Tây phương Đông... cái công đắp dựng gây từ xứ Cảo, xứ Mân?". Nhưng vì bốn chữ Tây Đông Nam Bắc và bốn chữ Cảo Mân Kỳ Phong đặt liền với nhau, nếu câu trên ngắt đến chữ Đông, thì câu dưới cũng lại ngắt đến chữ Mân, như thế, chẳng những thất niêm mà còn vô nghĩa nữa!
Ngày nay, phải chăng cũng có những người, tuy đã được học hành tương đối nghiêm túc, nhưng đọc văn bản, tài liệu của người khác, của nơi khác, của nước khác, rồi dễ dàng ngỡ là mình hiểu mà kỳ thật ra không hiểu; và từ đó có thể có những quyết định mang lại tai hại khôn lường?
Câu chuyện cuối cùng: Dạy khỉ và mục tiêu ĐH Top 200
Có câu chuyện cổ tích: Người hầu già của một ông vua già xin vua trao vàng cho mình để cất công dạy cho một con khỉ lớn tập nói và cả quyết rằng sẽ dạy được khỉ biết nói. Vua hỏi bao lâu thì khỉ nói được, người hầu nói phải mươi năm. Vua trao vàng cho y, để đài thọ y dạy khỉ. Câu chuyện không kết luận, nhưng người nghe chuyện, tất nhiên hiểu khỉ sẽ không bao giờ biết nói, và người khờ không phải là người hầu, y hẳn ước đoán rằng mươi năm thì khỉ và người đều đã chết. Lẽ ra nhà vua phải biết mục tiêu có khả thi hay không.
Kết luận có thể rút ra là những tác giả các đề án hoành tráng ngày nay, định mốc "đến năm 2020, đến năm hai nghìn bao nhiêu đó thì sẽ có thế này thế nọ", và những vị hạ bút ký chấp nhận và cho giải ngân, liệu đến thời gian đó còn ngồi đó để nhận trách nhiệm của mình không, hay các vị cùng thân nhân sẽ đang phơi phới ngao du nơi Bồng Lai tiên đảo nào đó, kệ cho nhóm hậu sinh "sống chết mặc bay"?
Hiện nay, trong Giáo dục Đào tạo có nhiều bất cập, một số giải pháp đưa ra lại cũng bất cập, càng gây ra sự hoang mang. Vậy mà trong giới quan chức hay trong quần chúng, vẫn có người chấp nhận, bảo vệ. Chấp nhận vì ngây thơ không biết, hay là biết nhưng giả bộ ngây thơ?
Nguồn: Tuần Việt Nam.Net
http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/5628/index.aspx
Từ tháng 2 - 2010, đào tạo tiến sĩ theo Quy chế mới
HOCMOINGAY. Báo Nhân dân Điện tử (NDĐT) ngày 19 tháng 5 năm 2009 đăng bài "Từ tháng 2-2010, đào tạo tiến sĩ theo Quy chế mới": Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ra thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT ban hành Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ thay thế các quyết định trước đây về tuyển sinh và đào tạo sau đại học. Từ kỳ tuyển sinh tháng 2- 2010, các cơ sở đào tạo tiến sĩ sẽ thực hiện theo Quy chế này.
Theo đó, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ đối với người có bằng thạc sĩ là 3 năm tập trung liên tục; đối với người có bằng tốt nghiệp đại học là 4 năm tập trung liên tục. Trường hợp nghiên cứu sinh không theo học tập trung liên tục được và được cơ sở đào tạo chấp nhận thì chương trình đào tạo và nghiên cứu của nghiên cứu sinh phải bảo đảm có tổng thời gian học và nghiên cứu như trên, trong đó, có ít nhất 12 tháng tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Thời gian tuyển sinh: mỗi năm, tùy theo nhu cầu và chỉ tiêu tuyển sinh, cơ sở đào tạo tổ chức từ một đến hai kỳ tuyển nghiên cứu sinh vào tháng 2 và tháng 8 theo hình thức xét tuyển.
Quy chế quy định người dự tuyển phải có đủ trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế về chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án. Cụ thể, thủ trưởng cơ sở đào tạo quy định môn ngoại ngữ và trình độ ngoại ngữ của người dự tuyển trên cơ sở yêu cầu của chuyên ngành và chương trình đào tạo và khả năng đạt yêu cầu về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệ luận án.
Về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệ luận án, nghiên cứu sinh phải có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau đây: a) Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ tại nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh; b) Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ ở trong nước mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh không qua phiên dịch; c) Có bằng tốt nghiệp đại học ngành tiếng Anh; d) Có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT 61 điểm hoặc TOEFL ITP (nội bộ) 500 điểm hoặc IELTS 5.0 trở lên hoặc tương đương. Trình độ ngoại ngữ tương đương được xác định theo chuẩn B1, B2 của Khung Châu Âu Chung. Nếu không, nghiên cứu sinh phải có chứng chỉ ngoại ngữ của những trung tâm khảo thí ngoại ngữ trong nước có uy tín, có kết quả đánh giá năng lực người học tương đương với kết quả đánh giá của các trung tâm khảo thí ngoại ngữ quốc tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích nghiên cứu sinh viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh; khuyến khích nghiên cứu sinh đăng bài trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh phải viết báo cáo khoa học; viết ít nhất hai bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học có phản biện độc lập, theo danh mục tạp chí do đơn vị chuyên môn quy định. Đồng thời, nghiên cứu sinh phải dành thời gian tham gia vào các hoạt động chuyên môn, trợ giảng, nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên thực tập hoặc nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo theo sự phân công của đơn vị chuyên môn.
Nghiên cứu sinh không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ với các thành viên Hội đồng cấp trường hoặc viện trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án như đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng; không được tiếp xúc để lấy các bản nhận xét luận án của các thành viên Hội đồng, các nhà khoa học, các tổ chức khoa học.
Quy chế mới quy định luận án tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu khoa học độc đáo, sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu, có đóng góp về mặt lý luận, chứa đựng những tri thức hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu hoặc giải quyết sáng tạo các vấn đề đang đặt ra với một ngành khoa học hoặc thực tiễn xã hội. Luận án phải có những đóng góp mới về mặt học thuật, được trình bày bằng ngôn ngữ khoa học, vận dụng những lý luận cơ bản của ngành khoa học để phân tích, bình luận các luận điểm và kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài luận án, trên cơ sở đó đặt ra vấn đề mới, giả thuyết mới có ý nghĩa hoặc các giải pháp mới để giải quyết các vấn đề đặt ra của luận án và chứng minh được bằng những tư liệu mới. Tác giả luận án phải có cam đoan danh dự về công trình khoa học của mình.
Luận án tiến sĩ có khối lượng khoảng 100 trang A4, trong đó trên 50% là trình bày các kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh.
Về việc bảo vệ luận án, nếu luận án không được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện thông qua thì nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án và đề nghị bảo vệ lần thứ hai muộn nhất trước 24 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; không tổ chức bảo vệ luận án lần thứ ba.
Từ kỳ tuyển sinh đào tạo tiến sĩ tháng 2- 2010, các cơ sở đào tạo sẽ bắt đầu thực hiện theo Quy chế mới.
Ngọc Trác
Nguồn: http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?to...article=147885
Theo đó, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ đối với người có bằng thạc sĩ là 3 năm tập trung liên tục; đối với người có bằng tốt nghiệp đại học là 4 năm tập trung liên tục. Trường hợp nghiên cứu sinh không theo học tập trung liên tục được và được cơ sở đào tạo chấp nhận thì chương trình đào tạo và nghiên cứu của nghiên cứu sinh phải bảo đảm có tổng thời gian học và nghiên cứu như trên, trong đó, có ít nhất 12 tháng tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Thời gian tuyển sinh: mỗi năm, tùy theo nhu cầu và chỉ tiêu tuyển sinh, cơ sở đào tạo tổ chức từ một đến hai kỳ tuyển nghiên cứu sinh vào tháng 2 và tháng 8 theo hình thức xét tuyển.
Quy chế quy định người dự tuyển phải có đủ trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế về chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án. Cụ thể, thủ trưởng cơ sở đào tạo quy định môn ngoại ngữ và trình độ ngoại ngữ của người dự tuyển trên cơ sở yêu cầu của chuyên ngành và chương trình đào tạo và khả năng đạt yêu cầu về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệ luận án.
Về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệ luận án, nghiên cứu sinh phải có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau đây: a) Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ tại nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh; b) Có bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hoặc tiến sĩ ở trong nước mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Anh không qua phiên dịch; c) Có bằng tốt nghiệp đại học ngành tiếng Anh; d) Có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT 61 điểm hoặc TOEFL ITP (nội bộ) 500 điểm hoặc IELTS 5.0 trở lên hoặc tương đương. Trình độ ngoại ngữ tương đương được xác định theo chuẩn B1, B2 của Khung Châu Âu Chung. Nếu không, nghiên cứu sinh phải có chứng chỉ ngoại ngữ của những trung tâm khảo thí ngoại ngữ trong nước có uy tín, có kết quả đánh giá năng lực người học tương đương với kết quả đánh giá của các trung tâm khảo thí ngoại ngữ quốc tế. Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khích nghiên cứu sinh viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh; khuyến khích nghiên cứu sinh đăng bài trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh phải viết báo cáo khoa học; viết ít nhất hai bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học có phản biện độc lập, theo danh mục tạp chí do đơn vị chuyên môn quy định. Đồng thời, nghiên cứu sinh phải dành thời gian tham gia vào các hoạt động chuyên môn, trợ giảng, nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên thực tập hoặc nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo theo sự phân công của đơn vị chuyên môn.
Nghiên cứu sinh không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ với các thành viên Hội đồng cấp trường hoặc viện trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án như đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng; không được tiếp xúc để lấy các bản nhận xét luận án của các thành viên Hội đồng, các nhà khoa học, các tổ chức khoa học.
Quy chế mới quy định luận án tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu khoa học độc đáo, sáng tạo trong lĩnh vực nghiên cứu, có đóng góp về mặt lý luận, chứa đựng những tri thức hoặc giải pháp mới có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học của lĩnh vực nghiên cứu hoặc giải quyết sáng tạo các vấn đề đang đặt ra với một ngành khoa học hoặc thực tiễn xã hội. Luận án phải có những đóng góp mới về mặt học thuật, được trình bày bằng ngôn ngữ khoa học, vận dụng những lý luận cơ bản của ngành khoa học để phân tích, bình luận các luận điểm và kết quả đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài luận án, trên cơ sở đó đặt ra vấn đề mới, giả thuyết mới có ý nghĩa hoặc các giải pháp mới để giải quyết các vấn đề đặt ra của luận án và chứng minh được bằng những tư liệu mới. Tác giả luận án phải có cam đoan danh dự về công trình khoa học của mình.
Luận án tiến sĩ có khối lượng khoảng 100 trang A4, trong đó trên 50% là trình bày các kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh.
Về việc bảo vệ luận án, nếu luận án không được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện thông qua thì nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án và đề nghị bảo vệ lần thứ hai muộn nhất trước 24 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; không tổ chức bảo vệ luận án lần thứ ba.
Từ kỳ tuyển sinh đào tạo tiến sĩ tháng 2- 2010, các cơ sở đào tạo sẽ bắt đầu thực hiện theo Quy chế mới.
Ngọc Trác
Nguồn: http://www.nhandan.org.vn/tinbai/?to...article=147885
17 tháng 5, 2009
Đọc lại và suy ngẫm về ý kiến của nguyên Bộ trưởng Lê Huy Ngọ

HOCMOINGAY. Huy Đức. Blog Osin. Lê Huy Ngọ trong vai nông dân. Chúng ta hãy quan sát những người nông dân phải lên thành phố ở nhà thuê, ăn cơm bụi, thu nhập của những người đó dù có đạt 2 triệu cũng khó mà đủ sống. trong khi nếu cũng những người đó vẫn ở nông thôn, lao động trong các cơ sở công nghiệp dịch vụ tại chỗ, thì mức lương khoảng một triệu là đã rất ổn rồi. Phải thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang đa dạng hơn, có công nghiệp, có dịch vụ. Phải đầu tư hạ tầng phục vụ nông dân. Làm sao giữ chân được thanh niên, làm sao trí thức có thể về nông thôn nếu như ở đấy không có nước sạch, không có điện… Đừng bỏ quên nông dân trong những điều kiện thiếu thốn ở làng. Đừng để cho những nông dân phải vật vã trên những góc phố đô thị để lây lất kiếm sống. Hầu hết người dân Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc từ nông dân. Đừng vội quên nguồn cội. Hãy đặt mình trong hoàn cảnh của cha anh mình trước khi ban hành một chính sách nào đó. Không nhà nước nào có thể lo hết mọi thứ. Tích tụ ruộng đất chỉ là một vấn đề cụ thể. Cái lớn hơn trong phương pháp tiếp cận theo tôi là, mọi chính sách đều phải đặt người nông dân vào vai trò trung tâm, phải làm sao để người nông dân trở thành chủ thể quyết định những vấn đề của họ (Hình tư liệu của Hoàng Kim: Bộ trưởng Lê Huy Ngọ thăm Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc năm 2001).
LÊ HUY NGỌ TRONG VAI NÔNG DÂN
Ông Lê Huy Ngọ thường được gọi là “Bộ trưởng nông dân”. Có lẽ vì ông đã có hơn 10 năm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (1997-2007). Và có lẽ vì ông đã từng lăn lộn rất nhiều từ khi còn làm Bí thư hai tỉnh Vĩnh Phú và Thanh Hóa. Có không ít điều, về nông nghiệp và nông thôn, ông Ngọ tích lũy được từ khi đang tại chức. Nhưng cũng có những điều ông chỉ có thể thực sự nói ra khi không còn giữ một chức vụ gì.
Thưa ông, ông nghĩ gì về “tam nông”, một vấn đề đang được bàn luận?
Chính sách “tam nông” bắt đầu từ Trung Quốc. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế là cần thiết, tuy nhiên tôi cũng muốn lưu ý rằng, bài học “cải cách ruộng đất” cho thấy, trong các vấn đề về nông dân, không phải thành công nào của Trung Quốc đem áp dụng vào Việt Nam cũng được.
Thưa ông, dường như “kinh nghiệm Trung Quốc” không được đề cập trong các thảo luận gần đây, nhưng vì sao ông lại có vẻ như không hài lòng với “tam nông”?
Tam nông là nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Nói thì dài dòng vậy nhưng tựu trung của 3 vấn đề này chỉ là nông dân. Nông dân thì làm nông nghiệp và ở nông thôn. Trong một nước nông nghiệp và có tới 73% dân số là nông dân như Việt Nam, nông dân vẫn luôn là “hậu phương”, là nên tảng tạo ra sự ổn định về chính trị. Chỉ khi giải quyết được vấn đề nông dân thì các vấn đề khác mới có cơ may giải quyết.
Đồng ý với ông rằng nông dân phải là vấn đề trung tâm, tuy nhiên, có thể “tam nông” cũng là một cách tiếp cận?
Chỉ khi nông dân được xác định là trung tâm của một chính sách, thì chính sách ấy mới có thể phát huy. Cải cách ruộng đất, chia ruộng cho dân nghèo là một chính sách nhắm vào nông dân. Khi người dân yên tâm có ruộng, hàng vạn thanh niên nông thôn mới sẵn sàng lên đường. Hòa bình lập lại, ruộng đất được tập trung vào các tập đoàn, hợp tác xã cho các tham vọng nông nghiệp, nông thôn lớn, thì người nông dân “ra rìa”. Đến khi “khoán sản phẩm”, giao ruộng lại để cho nông dân tự làm thì không những giải quyết được vấn đề lương thực cho cả nước mà chính nông dân còn đi đầu “đổi mới tư duy”.
Theo ông thì như thế nào để xác định một chính sách đã coi nông dân là trung tâm?
Hãy quan sát từ những hiện tượng: bên cạnh ầm ầm thủy điện chỉ là những nông dân đứng nhìn; rồi chính những người dân đã hiến đất để làm nhà máy điện lại là những người cuối cùng sống trong những vùng không có điện. Tương tự, khi lấy đất làm khu công nghiệp (KCN), nông dân cũng bị đặt ra bên lề. Nông dân chưa được coi là trung tâm, là chủ thể của quá trình quy hoạch, thu hồi đất và xây dựng các công trình ấy. Họ chưa được hỏi đầy đủ và chưa được tham gia các quá trình đàm phán như là một chủ thể của quá trình này.
Thưa ông, nông dân chưa được coi là chủ thể tham gia các quá trình đàm phán phải chăng là bởi các bên vẫn quan niệm đất đai thuộc sở hữu toàn dân chứ không phải là của nông dân?
Vâng, đó là mấu chốt. Từ bao đời nay, đất đai vừa là nhu cầu căn bản, vừa là khát vọng lớn nhất của người nông dân. Đất đai là cuộc sống và cũng là văn hóa. Thái độ của chúng ta đối với đất đai đã biến nông dân, từ vị trí lẽ ra là người làm chủ lại trở thành những người đóng vai trò mờ nhạt trong những tiến trình thay đổi đó.
Thưa ông, tại sao đất đai cứ nhất định phải là “sở hữu toàn dân”?
Khi tôi còn làm, trong lãnh đạo có những người sợ rằng, mai đây, nhu cầu công nghiệp hóa đất nước sẽ cần đất đai nhiều, giao sở hữu cho dân rồi làm sao thu hồi. Cái gốc của vấn đề là, chúng ta vẫn coi tập thể, kinh tế nhà nước đóng vai trò “định hướng”. Khi nhà nước đã là định hướng thì làm sao đất đai có thể được giao sở hữu cho người dân. Giờ đây thì chúng ta đã có những bài học để thấy, “vô chủ” như tình trạng quản lý đất đai hiện này làm sao trở thành “nền tảng”; hiệu quả kinh tế thấp như khối kinh tế quốc doanh thì sẽ “định hướng” đất nước tới nơi nào.
Thưa ông, đất đai nói là thuộc sở hữu toàn dân nhưng thực ra lại đang nằm trong tay của chính quyền cơ sở. Sự lạm quyền trong việc thu hồi đất của nông dân để giao cho các nhà kinh doanh đang khiến cho 85% khiếu kiện của nhân dân hiện có liên quan đến vấn đề ruộng đất, vì sao nhà nước không nhận thấy để tháo sớm “ngòi nổ” này?
Có lẽ phải bắt đầu từ các hiện tựơng xảy ra trong nông dân. Có thời kỳ ở nông thôn, nông dân nhận khoán chui; giờ đây, nông dân đang phải bán ruộng chui với bao nhiêu tiêu cực. Các doanh nghiệp đang mua đất của nông dân để làm sân golf, KCN bằng cách ép giá. Bởi vì đất của nông dân mà họ đâu có được thảo luận giá với người mua. Các doanh nghiệp chủ yếu làm ăn với chính quyền địa phương, chính quyền bằng nhiều cách khác nhau đã gây áp lực để người dân nhận một khoản “đền bù” không hợp lý. Nếu người nông dân bán ruộng dựa trên quyền sở hữu của họ, tôi tin là họ sẽ cân nhắc hơn, không chỉ về giá.
Theo ông, nên giải quyết vấn đề này thế nào?
Cho dù đất đai, về danh nghĩa, thuộc sở hữu của ai thì quyền sử dụng đất của nông dân vẫn là tài sản, việc định giá tài sản đó vẫn phải áp dụng cơ chế thị trường để giải quyết. Tuy nhiên, “sở hữu toàn dân” trên thực tế đã bộ lộ rằng, không những những “ưu việt” mà ta mong không đạt được, quyền lực thực tế về đất đai đã rơi vào tay của một số cá nhân nắm quyền ở các địa phương. Những tiêu cực trong vấn đề quản lý thu hồi và giao đất không những đã tác động tới tiến trình sử dụng hiệu quả đất đai mà còn khiến cho mâu thuẫn giữa nhà nước và nông dân trở thành một vấn đề chính trị. Chính vì thế, theo tôi chúng ta cũng không nên ngần ngại sửa một vài điều trong Hiến Pháp. Cái gì cũng vậy, có danh chính ngôn thuận thì mới có minh bạch vừa tránh được tiêu cực vừa tạo ra nền tảng ổn định cho cả chính trị và xã hội.
Một quy định khác trong Luật Đất đai có liên quan đến nông dân là “hạn điền”, thưa ông, hạn chế tích tụ ruộng đất cũng đang là một nguyên nhân khiến cho nông nghiệp không thể nào phát triển?
Bình quân ruộng đất của cả nước hiện nay chỉ có 1000m2/nông dân; một hộ ở đồng bằng sông Hồng chỉ có 3600m2 và một hộ ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 5000m2. Muốn cho nông dân thoát nghèo thì chính sách đất đai phải làm sao để chuyển nông nghiệp truyền thống sang một nền nông nghiệp hiện đại tạo ra giá trị cao. Với quy mô đất đai như vậy thì không thể nào thực hiện được. Tất nhiên, muốn có những vùng sản xuất hàng hóa lớn cũng có thể thực hiện bằng cách “dồn điền đổi thửa”; các hộ nông dân có thể liên kết lại để áp dụng khoa học kỹ thuật. Nhưng không đơn giản để thực hiện điều này, theo tôi, tích tụ ruộng đất là một quy luật không thể cưỡng lại.
Thưa ông, những người không ủng hộ tích tụ ruộng đất biện minh rằng, tích tụ sẽ khiến cho một số nông dân bán ruộng trở thành thất nghiệp. Trong khi đó, nhà nước lại đang ủng hộ nhiều doanh nghiệp “thu hồi” hàng ngàn hecta ruộng của nông dân để làm sân golf hoặc KCN. Hai quá trình này đâu có gì khác nhau và lý lẽ này liệu có còn đủ sức thuyết phục?
Như tôi đã nói, làm sân golf, KCN hay tích tụ ruộng đất để hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp đều có tính hai mặt. Tuy nhiên, nếu như quá trình này diễn ra minh bạch, nông dân là chủ thể đàm phán và có thể tham gia ngay từ đầu thì họ sẽ không bị đặt ra bên lề. Đừng nghĩ, cho tích tụ, nông dân sẽ ồ ạt bán ruộng. Ruộng đất là cuộc sống của cả gia đình họ, nhà nước không thể nào lo lắng cho họ hơn chính họ được đâu.
Thưa ông, công nghiệp hóa không chỉ theo một hướng áp đặt như nhà nước vẫn làm, mang nhà máy về xây dựng trên đất ruộng, mà công nghiệp hóa còn có thể xuất hiện tự nhiên bắt đầu từ việc tích tụ ruộng đất, làm nảy sinh nhu cầu cơ giới hóa, hiện đại hóa, nhu cầu phát triển đa dịch vụ tại nông thôn, tại sao nhà nước lại không cho tích tụ để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa tự nhiên đó?
Chúng ta hãy quan sát những người nông dân phải lên thành phố ở nhà thuê, ăn cơm bụi, thu nhập của những người đó dù có đạt 2 triệu cũng khó mà đủ sống. trong khi nếu cũng những người đó vẫn ở nông thôn, lao động trong các cơ sở công nghiệp dịch vụ tại chỗ, thì mức lương khoảng một triệu là đã rất ổn rồi. Phải thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang đa dạng hơn, có công nghiệp, có dịch vụ. Phải đầu tư hạ tầng phục vụ nông dân. Làm sao giữ chân được thanh niên, làm sao trí thức có thể về nông thôn nếu như ở đấy không có nước sạch, không có điện… Đừng bỏ quên nông dân trong những điều kiện thiếu thốn ở làng. Đừng để cho những nông dân phải vật vã trên những góc phố đô thị để lây lất kiếm sống. Hầu hết người dân Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc từ nông dân. Đừng vội quên nguồn cội. Hãy đặt mình trong hoàn cảnh của cha anh mình trước khi ban hành một chính sách nào đó. Không nhà nước nào có thể lo hết mọi thứ. Tích tụ ruộng đất chỉ là một vấn đề cụ thể. Cái lớn hơn trong phương pháp tiếp cận theo tôi là, mọi chính sách đều phải đặt người nông dân vào vai trò trung tâm, phải làm sao để người nông dân trở thành chủ thể quyết định những vấn đề của họ.
Huy Đức thực hiện
(Nguồn: http://www.blogosin.org/?p=480)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)