30 tháng 12, 2010

Sự im lặng của núi


HỌC MỖI NGÀY
. "
Sự im lặng của núi" là bài viết của tác giả Nguyễn Đình Chú đối với học giả Cao Xuân Huy: "Một bi kịch đã diễn ra đối với phương Đông là nhiều giá trị tinh thần, trong đó có truyền thống triết học rất mực cao siêu (dĩ nhiên cao siêu nhưng vẫn có hạn chế) đã từng có vị trí, có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội phương Đông nay bị hạ bệ, bị mai một. Sự thật đau xót là chính không ít người phương Đông đã tham gia tích cực vào sự hạ bệ này, mặc dù cũng chính họ là người rất mực yêu quý phương Đông. Và quả thật tôi đã từ những suy nghĩ đó, mà đến với cuốn sách Tư tướng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của học giả Cao Xuân Huy."

Sự im lặng của núi
(Bài viết về học giả Cao Xuân Huy
Giáo sư Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội từ 1951 - 1960 - Giải thưởng Hồ Chí Minh )
Nguyễn Đình Chú
Tôi có cái may mắn được sinh ra trên đất Nghệ cùng quê với học giả Cao Xuân Huy. Cụ người Diễn Châu, tôi người Nghi Lộc, hai huyện liền nhau và 2 nhà cách nhau chỉ chưa đầy hai chục cây số. Tôi lại con một nhà Nho có dính bảng tú tài vào khoa Giáp Ngọ (1894), cùng khoa với Tú Xương) nên ngay từ lúc bắt đầu học chữ Hán, lập tô in ấy chữ "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng" trên bảng gỗ, tôi đã được nghe cha kể về gia thế cụ Thượng Cao (tức là Cao Xuân Dục, ông nội của học giả Cao Xuân Huy) quê Diễn Châu, với tất cả sự kính nể, tôn sùng. Điều này dĩ nhiên đã chi phối cách nghĩ của tôi sau này về học giả Cao Xuân Huy và con trai cụ, anh bạn Cao Xuân Hạo. Riêng về cụ Huy, thì ngay khi bắt đầu đi học trường Pháp - Việt, tôi cũng đã được nghe các thầy giáo cũng với thái độ sùng kính kể cho nghe nhiều chuyện. Nào là: cụ Huy cùng với Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Bính... là mấy nhà văn hoá, khoa học giỏi nhất tỉnh Nghệ thời Tây. Cụ Huy đã từng tranh luận và thắng cuộc về triết học với một người Pháp hồi ở Huế. Cụ Huy am hiểu, say mê và đặc biệt là sống theo triết lý Lão Trang là "vô vi" đã bị hiểu theo kiểu nôm na, dung tục và dĩ nhiên là không đúng, tức là: không làm gì cả, cái gì cũng chẳng coi là gì cả. Ví như: đi đường gặp mưa, người ta thì mau chân rảo bước, tìm nơi ẩn náu, còn cụ thì cứ từng bước mà đi. Đang ngồi đọc sách, kẻ trộm vào lấy quần áo phơi ở sân, trông thấy, cũng mặc. Hôm sau kẻ trộm lại đến lấy, lại trông thấy, thì chỉ hỏi nhẹ: mấy thứ hôm qua lấy chưa đủ mặc à. Nhiều chuyện được kể về cụ Huy như vậy, chẳng hay chính xác tới đâu, nhưng đã để lại trong tuổi thơ của tôi, ấn tượng về một bậc siêu nhân, khác lạ giữa trần gian là Cao Xuân Huy.
Năm 1951, trường Dự bị đại học mở ở hai địa điểm là Nghệ An và Thanh Hoá sau đó mới quy về một nơi là Thanh Hoá. Nhân dịp giáo sư Trần Văn Giàu mà bấy giờ dư luận coi là người có tài hùng biện, có tài diễn thuyết hay nhất nước Nam, vừa từ Việt Bắc vào Thanh Hoá dạy dự bị đại học và có sang dạy cho phân hiệu Nghệ An. Tôi đi nghe và đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy bậc siêu nhân Cao Xuân Huy với gương mặt thanh tú, có cặp mắt tinh anh hiền từ, trên miệng như lúc nào cũng đang sắp cười mà không cười, tay cầm đèn dầu hoả (vì lớp học phải học ban đêm), tay cầm chiếc ghế xếp, đến ngồi ngoài sân đình nghe Giáo sư Giàu giảng về triết học.
Kế đó, từ năm 1954 đến 1957 là sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi chính thức được làm học trò giáo sư Cao Xuân Huy về hai môn là Tâm lý học và Logíc học. Phải nói là lúc này, Giáo sư Cao Xuân Huy đối với số đông thuộc thế hệ sinh viên chúng tôi chưa phải là vị thầy có tiếng tăm lừng lẫy. Lý do là vì Giáo sư Cao Xuân Huy viết quá ít. Vả chăng lại chưa được dạy đúng vào chỗ giỏi nhất, cao siêu nhất của mình. Bấy giờ triết học phương Đông cổ truyền đâu đã có chỗ đứng trong nền giáo dục, kể cả giáo dục đại học.
Từ năm 1957 đến 1960, với tư cách trợ lý, tôi lại được trường đại học sắp xếp chỗ ở chung nhà với Giáo sư Cao Xuân Huy và cả với các giáo sư khác: Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Nhị tại ngôi nhà 16 Đ ngõ Hai, Hàng Chuối. Do đó tôi lại biết thêm về cụ. Biết cụ, té ra ở thời thanh niên cũng từng tham gia phong trào ái quốc sôi nổi bị chính quyền thực dân bắt giam và sau đó đuổi không cho dạy học ở trường công phải ra dạy trường tư và đọc trên Đông Pháp thời báo xuất bản ở Sài Gòn tôi thấy đăng một bức thư của một số trí thức trong đó có Trần Phú (sau đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương) và Cao  Xuân Huy gửi vào Huế bày tỏ niềm ngưỡng mộ cụ Phan Bội Châu, lúc này vừa mới bị đưa về giam lỏng tại Bến Ngự ở gần cụ Huy suốt ba năm, tôi thấy cụ rất ít nói mặc dù cặp mắt lúc nào cũng vui và miệng lúc nào cũng như sắp cười mà không cười như ngày đầu tôi đã thấy. Ngày ấy có dư luận cụ Huy là người mê Lão - Trang không nhập thân được vào chủ nghĩa Mác trong khi mọi trí thức Hà Nội hầu như đã hướng hẳn vào con đường độc đạo là chủ nghĩa Mác.
Từ năm 1961 trở đi, tôi chuyển chỗ ở. Cụ Huy cũng chuyển công tác từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội về Viện Văn học. Tuy vậy thỉnh thoảng tôi vẫn được gặp cụ ở Viện Văn học, ở nhà người con rể, anh bạn Văn Tâm. Cứ mỗi lần gặp là mỗi lần vui sướng vì được gần gũi một nhân cách cao thượng, một hình ảnh hấp dẫn về trí tuệ, về học vấn mặc dù trước sau cụ vẫn là người ít nói. Tôi gặp cụ Huy theo kiểu "đối diện đàm tâm" không như gặp cụ Mai thì trò chuyện hết điều này điều khác và thường phải sợ thầy hỏi lục vấn như là kiểm tra chuyện đọc sách vở của mình. Giáo sư Cao Xuân Huy sau 1975 vào Sài Gòn sống với con trai là anh Cao Xuân Hạo. Mấy lần vào Sài Gòn tôi có đến thăm cụ và vẫn là theo kiểu "đối diện đàm tâm" nhưng trong lòng tôi thì vẫn vui vô cùng. Ngày cụ qua đời có người mách với tôi: Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho người đến tìm con gái cụ là chị Cao Thị Cam (vợ anh Văn Tâm) sống ở Hà Nội hỏi địa chỉ trong Sài Gòn để gửi vòng hoa tới viếng. Kế đó lại có tin tại Thành phố Hồ Chi Minh có đường đặt tên Cao Xuân Huy. Tôi thầm nghĩ: đáng khen cho ai đó đã có con mắt xanh trong khi làm mưu sĩ cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh. Ở Sài Gòn, có đường phố Cao Xuân Huy là đẹp thêm thành phố rất nhiều.
Học giả Cao Xuân Huy đã sống, đã đi qua giữa cõi đời như thế và người đời đã đối xử với cụ như thế, thiết tưởng cũng đã là thoả đáng rồi, nhưng chuyện lại không chỉ dừng ở đây. Sau 13 năm cụ đã hoá thân vào Đạo, vào vũ trụ, hôm nay trước mắt chúng ta lại bỗng nhiên có cuốn sách: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu mà tác giả là Cao Xuân Huy. Thú thật, đối với tôi đây là một hiện tượng gây xúc động lớn. Tôi biết sức mình chưa thể hiểu hết, càng chưa dám nói là hiểu đúng, để nhận xét đúng giá trị của cuốn sách dày 790 trang in này. Nhưng trong sự cảm nhận bồng bột ban đầu, tôi vẫn muốn coi nó là một hiện tượng đột khởi trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tính từ xa xưa tới nay, với một số ý nghĩ cũng là ban đầu về nó như sau:
 1. Trước hết nó là sản phẩm của một đời im lặng mà là một thứ im lặng đặc biệt. Ở đây cần nói thêm về cái im lặng này. Bởi nó là sự im lặng không chỉ là do cá tính thông thường ta đã quen gặp, mà còn là có liên quan đến cả một truyền thống triết học xưa cũ của phương Đông. Tôi muốn cho rằng truyền thống triết học mang tính hướng nội nhiều hơn là hướng ngoại của phương Đông, trong đó có quan niệm "thuật nhi bất tác", "dư dục vô ngôn, tứ thời hành yên, vạn vật dục yên, thiên hà ngôn tai" (ta không muốn nói đâu, bốn mùa đi lại, vạn vật sinh trưởng, trời có nói gì đâu) của Khổng Tử, chủ trương “vô ngôn thông", "bất lập văn tự”, “ngôn ngữ loạn đảo” của Phật giáo và cả lý thuyết "bất ngôn chi giáo", "Tri giả bất ngôn, Ngôn giá bất trí" của Lão Tử... chắc chắn là có ảnh hưởng sâu sắc đến sự ít nói, ít viết của học giả Cao Xuân Huy. Và tôi muốn nói đây là sự im lặng của núi. Núi của tri thức. Núi của trí tuệ. Núi của sự suy tư, của sự nghiền ngẫm. Cuốn sách Tư tưởng phương Đông... của học giả Cao Xuân Huy trong cảm nghĩ ban đầu của tôi hiện tại trước hết là như thế. Tôi nói điều này là ít nhiều có sự so sánh với người này, người khác từng có nhiều công trình về triết học phương Đông mà tôi cũng ít nhiều đã và vẫn kính phục. Nhân dây xin được nhắc lại câu chuyện được nghe kể về một nhà Đông phương học nổi tiếng, cỡ lớn của Liên Xô cũ đầu những năm 70 đến Hà Nội sau khi gặp cụ Huy đã bái phục tôn lên bậc thầy và cho là người hiếm hoi của thế giới hiện thời. Nếu chuyện kể này là đúng sự thật thì hẳn là hỗ trợ cho cái điều tôi vừa nói.
2. Sức hấp dẫn của cuốn sách với tôi cũng là sức hấp dẫn của một tư thế và một khả năng tư duy triết học. Vốn là một người từng được phân công làm trợ lý lịch sử triết học cho Giáo sư Trần Đức Thảo nhưng rồi sự bất thành, phải quay lại nghiệp văn chương song tôi vẫn tìm đọc được ít nhiều các sách triết học thì thấy một tình trạng là: có tác giả chuyên sâu, thậm chí là rất sâu kiến thức triết học phương Tây nhưng với triết học phương Đông cổ đại thì hầu như không biết gì. Ngược lại có những người chuyên viết về triết học phương Đông trung đại thì với triết học phương Tây cũng chỉ là lảo thảo. Riêng với công trình Tư tưởng phương Đông của cụ Huy tuy nội dung chính là nói về triết học phương Đông nhưng tầm nhìn, thế nhìn lại là bao trùm cả Đông Tây, lại là mang tính vĩ mô nhân loại lịch sử, vĩ mô toàn thế giới. Đúng là thế! Học giả Cao Xuân Huy đã tỏ ra là người cùng một lúc, am hiểu khá sâu, khá kỹ lịch sử triết học phương Đông lẫn lịch sử triết học phương Tây theo tinh thần phán đoán, nhận xét một cách có chủ kiến và bằng một năng lực tư duy triết học vốn mang đặc trưng trừu tượng cao siêu để từ đó tạo ra hệ thống tư tưởng triết học riêng của mình.
Đọc cuốn sách Tư tưởng phương Đông tôi có cảm tưởng nó là tư tưởng phương Đông nhưng cũng là tư tưởng Cao Xuân Huy, nhất là xét ở cấp độ hệ thống, ở phương diện tổng kết và đề xuất. Từ lâu, dư luận vẫn cho rằng cụ Huy là nhà Đạo học, nghĩa là theo triết học Lão - Trang nhưng đọc vào công trình này dễ thường có cảm tưởng nói như thế chưa chắc đã đúng hẳn, bởi học giả Cao Xuân Huy là hiện tượng còn rộng hơn cả Đạo học. Trong Tư tưởng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy, cái phần để được người đọc chú ý nhiều nhất và cũng là phần tác giả có nhiều trí tuệ nhất có lẽ là phần đầu nói về chủ toàn và chủ biệt hai ngả rẽ trong triết học Đông Tây. Trong đó cái chủ toàn quả thật là nét đặc trưng bản chất nhất của triết học phương Đông cổ đại mà học giả Cao Xuân Huy đã giúp người đọc hiểu rõ hơn đâu hết. Nhưng ở đây rõ ràng cũng không chỉ là một sự tường thuật, một sự miêu tả đơn thuần mà còn là một sự phân tích, một sự đánh giá, một hệ thống lý giải mới trên cơ sở so sánh vĩ mô mang đậm dấu ấn sáng tạo của bản thân học giả họ Cao.
 Để thấy rõ hơn nữa bản lĩnh triết học của học giả Cao Xuân Huy, tôi muốn trở lại với tình hình giao lưu văn hoá – tư tưởng Đông - Tây trong khoảng hai thế kỷ qua trên xứ sở phương Đông. Như mọi người đã biết, trong thời cổ đại, nhân loại có ba nền văn minh lớn thì trong đó hai là thuộc phương Đông. Đó là văn minh cổ đại Ấn Độ và văn minh cổ đại Trung Hoa. Trong khi phương Tây chỉ có một là nền văn minh Cổ đại Hy-La. Nhưng qua thời trung đại thì do những điều kiện khác nhau, phương Tây đã bứt lên, tạo ra một nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần phong phú, bề thế, trong khi đó thì phương Đông đã tỏ ra là chậm phát triển. Bởi thế mà từ giữa thế kỷ XIX đã phải chịu sự tấn công, áp đảo toàn diện của phương Tây. Ở đây quy luật của sự áp đảo là quy luật giữa cái mạnh và cái yếu: do mạnh mà áp đảo được; do yếu mà bị áp đảo Nhưng chuyện không chỉ thế. Bởi kẻ mạnh không phải cái gì cũng hay. Ngược lại kẻ yếu không phải cái gì cũng dở. Có điều một khi đã có sự áp đảo thì cái dở của kẻ mạnh cũng thành chiến thắng và cái hay của kẻ yếu cũng thành chiến bại.. Quy luật vừa nói đây đã thể hiện khá rõ trong tình hình giao lưu văn hoá, tinh thần Đông - Tây tại nhiều nước phương Đông trong hai thế kỷ qua. Trong cuộc giao lưu văn hoá này, sự.nâng đỡ của văn hoá tinh thần phương Tây đối với phương Đông quả là rất lớn nhưng sự áp đảo của nó đối với phương Đông cũng không nhỏ.
Một bi kịch đã diễn ra đối với phương Đông là nhiều giá trị tinh thần, trong đó có truyền thống triết học rất mực cao siêu (dĩ nhiên cao siêu nhưng vẫn có hạn chế) đã từng có vị trí, có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội phương Đông nay bị hạ bệ, bị mai một. Sự thật đau xót là chính không ít người phương Đông đã tham gia tích cực vào sự hạ bệ này, mặc dù cũng chính họ là người rất mực yêu quý phương Đông. Và quả thật tôi đã từ những suy nghĩ đó, mà đến với cuốn sách Tư tướng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy, và có thể nói tôi đã không thể giấu nổi sự thần phục cái tư thế triết học, cái tư thế học thuật của học giả siêu nhân họ Cao. Tôi muốn nói như thế này được chăng: Cụ Huy đã không chịu bất cứ sự áp đảo nào mà đứng vững, đứng trên, đứng ngoài tất cả để suy nghiệm, để tìm tòi, để tạo ra ít ra là một giả thuyết khoa học có tầm vóc nhân loại, để nhân loại tuỳ ý mà phán xét mà đồng tình hay không đồng tình nhưng hẳn là không dễ gì bác bỏ với ai đó là người biết rõ thế nào là sự tìm tòi vất vả đối với chân lý khoa học ở tầm cỡ lớn.
4. Cuốn sách Tư tưởng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy thực ra chưa phải đã bao gồm hết mọi vấn đề của lịch sử tư tưởng đã có ở phương Đông. Ngay phần nói về tư tưởng Việt Nam trong cái gọi là tư tưởng phương Đông này thì quả thật là còn ít ỏi chưa đủ độ bề thế so với phần nói về tư tưởng Trung Hoa. Nhưng những gì cụ Huy đã phát biểu về tư tưởng Việt Nam vẫn là thể hiện cách nghĩ hết sức độc đáo của cụ, một học giả lớn. Luận điểm của cụ về cá tính Việt Nam là "nước" đành là có dấu vết của tư tưởng triết học Lão Tử nhưng vẫn là một luận điểm đáng cho chúng ta suy ngẫm mặc dù tác giả chỉ mới nói qua. Rồi quan điểm của cụ về tư tưởng triết học và văn hoá của Tự Đức nói riêng, của Triều Nguyễn nói chung rõ ràng cũng để lộ bản lĩnh riêng của cụ mà có thể có người đồng tình, có người không hẳn đã đồng tình. Riêng tôi thì đồng tình bởi từ lâu tôi đã không muốn nghĩ về triều Nguyễn, về Tự Đức một cách quá đơn giản như đó đây từng bắt gặp.
Trong một bài viết về Giáo sư Trần Đức Thảo trong dịp qua đời, Giáo sư Trần Văn Giàu có nói: Nếu Việt Nam có một người đáng gọi là triết gia thì đó là Giáo sư Trần Đức Thảo, Giàu này chỉ là giáo sư triết học. Tôi rất mong rằng hôm nay đọc xong Tư tưởng phương Đông của Giáo sư Cao Xuân Huy, Giáo sư Trần Văn Giàu sẽ nói bổ sung cho, mặc dù tự tôi cũng có thể làm việc bổ sung đó.
 
                                                                        Nguyễn Đình Chú

Nguồn: http://www.viet-studies.info/NguyenDinhChu_ImLangCuaNui.htm

Đọc thêm:

GS Cao Xuân Huy với "Tư tưởng phương Đông" (1950 - 1960 - 1979)

Công trình “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của giáo sư Cao Xuân Huy, được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1995, dày 446 trang gồm 3 phần:
- Phần I: Chủ toàn và chủ biệt, hai ngã rẽ trong triết học Đông Tây, nêu 7 vấn đề lớn: các bi kịch của sự đồng nhất hoá, phương thgức chủ toàn và phương thức chủ biệt của tư tưởng; Thiết vấn pháp của bản thể luận; bản thể và nguyên lý đồng nhất tính; vận động, phát triển về không gian và thời gian; tri giác về thế giới, do lai của ý thức
- Phần II: Tư tưởng Việt Nam từ truyền thống tới canh tân, nêu 4 nội dung: Lê Quý Đôn và học thuyết lý khí; Tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức; chủ thuyết canh tân của Nguyễn Trường Tộ; một giả thuyết làm việc trong quá trình nghiền ngẫm lịch trình tư tưởng dân tộc.
- Phần III: Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc, gồm 11 vấn đề: Xã hội và tư tưởng cổ đại Trung Quốc; Khổng Tử; Lão Tử; Mặc Tử; Mạnh Tử; Trang Tử; Tuân Tử; Pháp gia và Hàn Phi; sơ lược về sách Liệt Tử và học thuyết Dương Chu; Tổng luận Chu Dịch; Tư tưởng triết học Phật giáo Lục Triều, Tuỳ, Đường

Đây là kết quả thể hiện công phu và quá trình nghiền ngẫm lâu dài của tác giả về tư tưởng phương ĐỒng có những kiến giải minh triết và sâu sắc. Nhà nước đã đánh giá cao công trình này, truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996
Giáo sư Cao Xuân Huy sinh ngày 28/5/1900 tại Diễn Châu, Nghệ An, mất năm 1983

GS. Cao Xuân Huy với các cán bộ Viện Văn học
GS. Cao Xuân Huy (thứ 3 từ trái sang, hàng đầu) cùng các học trò
admin [Trang Tin tức Sự kiện] 

16 tháng 12, 2010

Biến đổi khí hậu tác hại đồng bằng Cửu Long

HOCMOINGAY. Thời tiết bất thường ở Việt Nam, nơi cần nắng thì mưa tầm tã, nơi cần lũ thì không có lũ, dự báo xâm nhập mặn sẽ diễn ra sớm và khốc liệt ở đồng bằng sông Cửu Long. Phải chăng Việt Nam bắt đầu chịu tác động của khí hậu biến đổi. Theo tin Nam Nguyên, phóng viên RFA

Báo Nông Nghiệp Việt Nam bản tin trên mạng ngày 7/12 tường thuật hội nghị sản xuất lúa đông xuân 2010-2011 vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ở Bạc Liêu ghi nhận, Tổng cục Thủy lợi dự báo xâm nhập mặn sẽ diễn ra sớm và sâu hơn những năm trước, lượng mưa 11 tháng của năm 2010 ở đồng bằng sông Cửu Long kém hơn hẳn mọi năm, ước tính giảm khoảng 15%.

Hai ngày sau, hãng thông tấn Reuters của Anh Quốc có bài viết từ Long Xuyên nhận định là, đất canh tác nhiễm mặn chỉ là một trong nhiều thách thức cấp thời về môi trường đang gia tăng ở Việt Nam, tình trạng càng thêm tồi tệ vì ảnh hưởng biến đổi khí hậu. Khả năng điều phối của chính phủ để thực hiện các biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu đang bị thử thách.

Lũ, hạn, biển mặn xâm nhập

Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên, ông Nguyễn Văn Thặng Phó Tổng Cục Trưởng Thủy Lợi nhận định:

“Khí hậu biến đổi rất là thất thường, người ta cứ nói biến đổi khí hậu nước biển dâng là bài toán tương lai, nhưng thực ra mấy năm nay hàng ngày chúng ta luôn bị cái thất thường ấy của thời tiết.

Ví dụ như năm nay miền Trung lũ chồng lũ, thiết kế thủy lợi phục vụ sản xuất cũng không đặt vấn đề lũ chồng lũ. Trong khi đồng bằng sông Cửu Long mùa lũ mà không có lũ thì chắc chắn ảnh hưởng thời vụ.

Ở đồng bằng sông Hồng thông thường mực nước lũ trên sông mười mét thì năm nay chỉ khoảng trên 6 mét, dự báo ngang Hà Nội có thể chỉ còn 0,1 mét. Các hồ thủy điện thì cạn kiệt, so với năm ngoái hụt khoảng 1,7 tỷ m3 cho ba hồ thủy điện, so với mực nước thiết kế thì bị hụt khoảng 4,4 tỷ m3. Nói chung khí hậu thất thường, lượng mưa ‘dữ’ đấy chính là biến đổi khí hậu.”


Thu hoạch giảm

Báo Cần Thơ điện tử trong bản tin về hội nghị sản xuất vụ đông xuân 2010-2011 vùng đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận Sở NN&PTNT các tỉnh thành kiến nghị Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long sớm đưa ra nhiều giống lúa chịu mặn, chịu ngập và chịu hạn trước tác động biến đổi khí hậu. Theo tờ báo, riêng tỉnh Bạc Liêu diện tích vụ đông xuân 2010-2011 phải cắt giảm 3.000 héc-ta so với vụ trước nhằm đề phòng tác động của xâm nhập mặn.

Một người trồng lúa vùng ven biển dễ ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long phát biểu với chúng tôi:

“Thông thường đến giữa tháng 12 âm lịch là cao điểm mặn xâm nhập ở quê tôi, có những cống tự động để ngăn mặn nhưng tôi thấy mỗi năm xâm nhập mặn càng vô sâu thêm trong đất liền. Những giống lúa kháng được mặn là nói vậy thôi, mặn trên 3 phần ngàn cây lúa nào cũng bị ảnh hưởng, làm không có năng suất.”

Theo Reuters, nhiều nghiên cứu cho thấy Việt Nam là một trong những nước chịu nhiều thiệt hại nhất của tình trạng biến đổi khí hậu, điển hình như mực nước biển dâng cao và thời tiết bất thường.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long bị đe dọa đặc biệt, nơi này làm ra một nửa sản lượng lúa của cả nước và cung cấp gần như toàn bộ lượng gạo hàng hóa xuất khẩu đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ nhì thế giới. Khoảng 1/5 dân số 86 triệu của Việt Nam sống tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi là một trong những vùng đa dạng sinh thái hàng đầu trái đất.

Báo cáo của chính phủ Việt Nam hồi năm ngoái cho thấy 1/3 vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập chìm nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m. Các vùng ven biển khác cũng chìm dưới nước, thời tiết thất thường sẽ tác động lũ lụt, hạn hán và làm giảm sản lượng lúa thu hoạch.

Khảo cứu của Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế trong năm nay ước tính nếu nước biển dâng thêm 17cm, kèm theo những biến đổi thời tiết có thể làm giảm 18,4% sản lượng lúa trên toàn Việt Nam vào năm 2030.

Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Dương Văn Ni Giám đốc Trung tâm Đa dạng Sinh học Hòa An Trường Đại học Cần Thơ nhận định, tác hại của biến đổi khí hậu đến sớm hơn hay nói cách khác đang xảy ra.

Theo ông, có thể thấy sự rủi ro của Đồng bằng sông Cửu Long trên ba góc độ, thứ nhất là qui hoạch bất cập về nguồn nước giữa các tỉnh thành. Thứ hai là các nước hai bên dòng Mekong tận dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp và thứ ba là thủy điện bậc thang được các nước xây dựng trên dòng Mekong.

Trời kêu ai nấy dạ

TS Dương Văn Ni nhận định là cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm để giúp đỡ người dân thích nghi với tình trạng môi trường thay đổi ở đồng bằng sông Cửu Long.

“Nếu chúng ta có một hệ thống cảnh báo sớm và chính xác, tôi nghĩ rằng với kinh nghiệm vốn sống sẵn có của người dân thì người ta có thể thích nghi được.

Đưa ra một hệ thống cảnh báo sớm là chuyện không dễ dàng. Đồng bằng sông Cửu Long ở cuối nguồn một con sông lớn, muốn cảnh báo phải có hết thông tin trên lưu vực thượng nguồn sông Cửu Long, đây là một thách thức rất lớn, nhiều quốc gia ở phía thượng nguồn chúng ta chưa sẵn sàng chia xẻ thông tin. Thiếu những nguồn thông tin như vậy thì việc đòi hỏi chương trình dự báo hay cảnh báo sớm quả là một thách thức không nhỏ.”


Theo TS Dương Văn Ni, người dân đồng bằng sông Cửu Long do điều kiện tự nhiên, đã sống từ hàng trăm năm nay trong bối cảnh không thuận lợi. Ở từng vùng người dân thích nghi nhiều mặt để duy trì cuộc sống và có sản xuất tốt, vùng ven biển họ chuyển đổi sản xuất bớt lệ thuộc nước ngọt, thí dụ chuyển từ trồng lúa sang mô hình vừa lúa vừa tôm, hoặc nơi nào mặn quá thì chuyển hẳn sang nuôi tôm, cua, cá kèo những loài có thể thích nghi với nước mặn.

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long nói với chúng tôi là họ tự mình đối phó với xâm nhập mặn bằng nhiều cách và mỗi lần thất bại là một bài học đầy tốn kém:

“Vụ đông xuân năm rồi nước mặn xâm nhập, người ta tự khoan ‘cây nước’ tức là khoan giếng nước ngầm. Mỗi héc-ta khoan hai giếng dùng máy rút nước ngầm lên, lượng dầu để rút chi phí quá cao, năm nay họ bỏ vì không hiệu quả, có người làm tới mười mấy giếng khoan sau mới thấy không hiệu quả. Trước đây nhà nước cũng khuyến khích khoan giếng ngầm để đối phó với mặn.

Bây giờ một là người ta xạ giống ngắn ngày, khi cây lúa được hai tháng thì bơm nước, thời điểm mặn chưa xâm nhập sâu vẫn còn nước ngọt bơm lên giữ lại không cho thoát ra tới khi cắt lúa, làm như vậy năng suất lúa không được cao nhưng cũng đỡ hơn là thất trắng .”


Từ hai năm qua chính phủ Việt Nam đã thiết lập Chương trình mục tiêu quốc gia đối phó với biến đổi khí hậu. Trong dịp trả lời Nam Nguyên về vấn đề đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước canh tác, TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long phát biểu:

“Chính phủ đã có hướng qui hoạch lại vùng trồng lúa, thứ hai nghiên cứu những giống lúa thích nghi với biến đổi khí hậu như nắng nóng, khô hạn, ngập mặn, ngập úng …thứ ba là bố trí giống cây trồng cho phù hợp, thứ tư là áp dụng kỹ thuật thích ứng thích nghi với biến đổi khí hậu. Cuối cùng là tìm cách phối hợp với các nước trong vùng tạo mối liên kết trong vấn đề nước sông Mekong. Đặc biệt các nước Đông Dương cần ngồi lại với nhau vì nước sông Mekong không chỉ ảnh hưởng cho một mình Việt Nam.”

Đối với nông dân đồng bằng sông Cửu Long, trồng trọt đánh bắt nuôi thủy sản mọi thứ trông ở trời, dù trong hoàn cảnh nào cũng cam chịu và nỗ lực để sinh tồn. Nếu hỏi một nông dân về tình trạng biến đổi khí hậu nước biển dâng làm chìm ngập 1/3 đồng bằng sông Cửu Long, câu trả lời sẽ là trời kêu ai nấy dạ."


( RFA, http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReviewOnlineDomesticPress/Mekong-delta-to-be-suffered-early-climate-change-nnguyen-12112010105246.html )

21 tháng 11, 2010

Đã từng thất bại


HỌC MỖI NGÀY. Những thất bại, va vấp mà chúng ta trải qua trong đời cũng có ý nghĩa và giá trị của riêng nó, mỗi người phải có lúc thất bại đến đau đớn để hiểu mình hơn và hiểu người hơn. Để rồi để có yêu thương, sẻ chia, nâng đỡ và tha thứ.Thất bại không chỉ giúp chúng ta trưởng thành hơn, mà còn làm chúng ta con người hơn."  Một bài hay từ trang của Thanh Thủy

Chẳng ai tìm kiếm thất bại. Nhưng thất bại, dù chúng ta vì trách nhiệm trước bản thân mình và những người xung quanh, cố gắng né tránh nó, vẫn tìm đến với mỗi người vào những thời điểm riêng.
Một nhà tuyển dụng nói với tôi rằng: Nếu chỉ được chọn một giữa hai ứng viên có khả năng tương đương, người tràn trề tự tin và luôn chiến thắng; kẻ có phần dè dặt bởi đã từng phải nếm mùi thất bại, thậm chí là cay đắng, anh ta sẽ chọn người thứ hai. Những người đã từng thất bại đã học cách thất bại, và đó là bài học đắt đỏ nhất và vì thế cũng quý giá nhất.
Bill Gates từng thổ lộ dù biết rằng nhân viên của mình là những người giỏi nhất, nhưng ông vẫn có một điều lo lắng về những kẻ giỏi giang và tràn ngập tự tin này, đó là “họ chưa từng nếm mùi thất bại”. Tại sao? Có lẽ bởi nếu chưa từng thất bại, thì chưa thể biết sự mạnh mẽ của con người là sự mạnh mẽ của Đá hay của Nước.
Một thạch trụ nặng hàng ngàn tấn có thể một ngày kia đổ sập. Nhưng Nước, bạn sẽ thấy nó khi rắn lạnh, khi tươi mát, uốn lượn mềm mại mà vượt qua tất cả, thiên biến vạn hoá mà vẫn là chính mình, có mặt ở khắp các đại dương và trong từng tế bào sống.
Sự tự tin của một người chỉ mới biết đến chiến thắng và sự tự tin của những người đã từng trải qua thất bại là khác biệt. Đó là sự tự tin của người biết và sự tự tin của người hiểu. Để đi từ Biết đến Hiểu, chẳng thể tránh khỏi quá trình phải chiêm nghiệm bằng chính mình qua những lần vấp ngã.
Bạn có thể nhận biết một người thành đạt không phải lúc họ ăn mừng chiến thắng, mà ở lúc họ đối diện với khoảnh khắc biết mình thua cuộc, bấn loạn hay bình tĩnh, đổ lỗi cho vận đen hay nhận lỗi về mình, khóc than hay tìm hiểu căn nguyên thất bại, vùi lấp bản thân trong tuyệt vọng hay tiếp tục tìm kiếm những cơ hội khác.
Những người đã từng thất bại, bạn có thể nhận ra điều ấy trong mắt họ, sâu lặng hơn và trầm ngâm hơn, đôi mắt của những người hiểu được nỗi đau của thời kỳ trượt dốc.
Những kẻ nông nổi sẽ bảo rằng họ có cái vẻ thu mình của kẻ nhút nhát, yếu đuối. Nhưng những kẻ hiểu đời sẽ nhận thấy trong đó có sự dè dặt khôn ngoan, náu mình đợi chờ thời cơ thích hợp. Họ có thể không phải là người đầu tiên, nhưng sẽ là người đúng lúc. Có thể không phải là người mạnh nhất, nhưng sẽ là người cuối cùng trụ lại.
Những người đã từng thất bại, bạn có thể nhận thấy họ trong cách đối xử với con người, yêu thương hơn và xót xa hơn, bởi họ yêu thương và xót xa bằng những trải nghiệm đau đớn của chính bản thân mình, xuất phát tự sự yêu thương và xót xa chính mình.
Và bởi thế bạn biết rằng, những thất bại, va vấp mà chúng ta trải qua trong đời cũng có ý nghĩa và giá trị của riêng nó, mỗi người phải có lúc thất bại đến đau đớn để hiểu mình hơn và hiểu người hơn. Để rồi để có yêu thương, sẻ chia, nâng đỡ và tha thứ.
Thất bại không chỉ giúp chúng ta trưởng thành hơn, mà còn làm chúng ta con người hơn.

Nguồn: Thanh Thủy

Đăng lại từ báo Hoa Học Trò

25 tháng 10, 2010

Chiếc chậu thau đồng


HỌC MỖI NGÀY. Bà Hải có một chiếc chậu thau đồng nhỏ, cũ kỹ và móp méo. Thời sơ tán, đi đâu bà cũng tha chậu đi, nhưng chỉ để đựng gạo chứ không bao giờ dùng nó để giặt giũ. Sau này, mấy bận dọn nhà mới, bà vứt đi nhiều thứ tầm tầm, riêng cái chậu thau đồng bà vẫn cẩn thận mang theo, cất kỹ trong tủ.



Có một việc duy nhất bà dùng đến cái chậu thau bé nhỏ là hoá vàng vào những ngày rằm, mồng một và giỗ chạp. Hoá vàng xong, bà rửa chậu sạch sẽ, lau khô rồi lại cất vào tủ.

Con cháu bà dần quen với với việc bà đặc biệt quý cái chậu thau cổ lỗ sĩ, coi đó như một thói lẩn thẩn của người già.

Bà Hải có một thói lẩn thẩn nữa là sợ nước. Đi sơ tán, việc gì khó mấy, vất vả mấy bà cũng xung phong nhận, nhưng xin các thủ trưởng hãy tha cho bà chuyện lội đồng, xuống ao, ra sông. Sau này, mỗi lần cơ quan tổ chức liên hoan trên du thuyền Hồ Tây, bà đều cố tìm cách vắng mặt. Mấy chú thanh niên cứ nằng nặc lôi bà đi. Ngồi trên du thuyền đi vòng hồ, mặt bà trắng bệch, tuyệt nhiên không cầm đũa gắp lấy một miếng.

Người ta cười bà sợ nước.

Hôm qua thằng con trai đầu của bà đi Hà Tĩnh về. Cơ quan nó tổ chức một đoàn đại biểu vào tận nơi trao quà cho các gia đình bị nạn. Quà gồm 40 cái phong bì, mỗi phong bì 500 ngàn đồng. Tổng cộng là 20 triệu. Thằng con kể có nhiều chuyện thương tâm lắm. Có nhà chết hai ba người. Có nhà chết người lớn, để lại con thơ, có nhà vợ mất chồng.

Bà Hải lặng yên ngồi nghe, gần cuối mới hỏi:

- Thế đoàn các anh đi ba ngày chi phí hết bao nhiêu?

Anh con trai kế toán trưởng không dấu diếm gì mẹ:

- Dạ, khoảng tám mươi triệu ạ.

Bà Hải mím môi không nói gì. Mãi sau bà mới nói với anh con cả:

- Mai mẹ làm cơm, con báo cho tất cả các con cháu tập trung ở đây nhé.

Người con trai biết tính mẹ, không dám hỏi mai là ngày gì mà lại tập trung ăn cơm.



*

* *

Khoảng 11g hôm sau, bốn gia đình con dâu rể cháu có mặt đầy đủ.

Cô dâu trưởng chạy vào bếp định giúp một tay thì người giúp việc bảo bà làm xong hết cả rồi, bà dặn mọi người chờ bà tụng kinh xong là ăn cơm.

Tiếng bà tụng kinh gõ mõ từ tầng 4 vọng xuống. Không một đứa cháu nào dám lên chào bà khi bà đang tụng kinh. Nửa giờ sau bà mới xuống, khoác bộ đồ nâu nhà chùa, tay cầm gói vàng mã.

Mở tủ lấy cái chậu thau đồng cũ, bà mang ra sân, từ từ hóa xong chỗ vàng mã rồi mới vào nhà bảo con cháu dọn cơm ra ăn.

Bữa liên hoan gặp mặt đại gia đình chỉ có hai món: Đậu phụ rán và rau muống luộc. Đám trẻ con nhìn nhau. Người lớn thì không dám hé răng hỏi. Bà Hải mời cả nhà ăn cơm, bảo ăn xong bà có chuyện muốn nói.

Nhìn bữa cơm chay đạm bạc, ai cũng thất vọng. Nhưng ăn vào vẫn thấy ngon. Mấy đứa trẻ quen cơm gà giò chả, mấy người lớn quen lẩu nọ lẩu kia hôm nay ăn một bữa chay cũng thấy hay hay.

Ăn xong, bà Hải gọi mọi người quây quần quanh bàn nước. Nhìn thái độ bà khác mọi ngày, ai cũng nơm nớp.

- Mỗi lần nhà ta có việc, mỗi gia đình đóng góp bao nhiêu thì hôm nay xin bỏ ra bấy nhiêu.

Bác cả nộp một triệu, ba người em mỗi người nộp năm trăm ngàn. Bà Hải cho số tiền hai triệu rưỡi vào phong bì, đặt lên cái đĩa trên bàn thờ.

Bà ra sân lấy cái chậu thau đồng bây giờ đã nguội, đổ tro vào túi ni lông rồi cẩn thận rửa sạch cái chậu. Lau khô chậu bằng một cái khăn mặt mới, bà kính cẩn đặt cái chậu cũ kỹ lên mặt bàn nước.

- Năm 1956 quê mình lụt to lắm. Nước ngập hết. Nhà mình nước lên đến gần vì kèo. Bố bà, tức là cụ ông của các cháu, đang công tác xa. Ở nhà chỉ có cụ bà, bà và hai người em. Bà 7 tuổi, ngồi trên vì kèo tre. Ông Hoàn 3 tuổi ngồi trong cái thúng bọc vải mưa còn bà Hiền mới 6 tháng thì nằm trong cái chậu thau đồng này. Cả hai thứ lềnh bềnh trên mặt nước.

Bà Hải chỉ vào cái chậu thau bé tí.

- Bà lấy tay giữ cái thúng và chậu thau để hai em khỏi bị lật xuống nước. Thỉnh thoảng cụ trèo lên nhòm qua lỗ mái tranh xem trời bên ngoài mưa gió đến mức nào. Toàn bộ thức ăn là mấy củ khoai sống mà cụ phải lặn xuống mò lên sau khi bố trí được cho ba người con an toàn.

Rất lạnh. Bà ngồi ngâm chân trong nước. Ông Hoàn và bà Hiền tuy không bị ướt nhưng cũng lạnh. Bà Hiền nằm trong chậu thau càng lạnh hơn.

Ông Hoàn được ưu tiên gặm khoai nên chịu nằm yên. Riêng bà Hiền khóc ghê quá vì khát sữa.

Cụ cố gắng nhét vú vào miệng con. Nhưng sau hai ngày không ăn không uống, ngâm mình trong nước lạnh nên sữa cạn khô. Bà Hiền khóc khản tiếng, rồi không khóc nữa, nằm im.

Thấy em nằm im hơn nửa ngày không khóc, bà hỏi cụ:

- Sao em Hiền không khóc nữa?

Cụ nói mà mắt nhìn đi chỗ khác:

- Chắc là em thiếu sữa nên lả đi.

Lúc đó bà còn bé quá, bà đâu biết là bà Hiền đã chết. Bà Hiền chết khi mới 6 tháng tuổi, chết ngay trong cái chậu thau này! Chết vì đói và lạnh.

Mấy ngày sau nước rút. Cụ mang bà Hiền đi chôn, quấn con trong cái chiếu rách, làm gì có quan tài. Chôn con xong cụ mới ngồi khóc. Nếu còn sống, năm nay bà Hiền 54 tuổi rồi đó.

Quê mình hay bị thiên tai bão lụt. Tháng tháng bà đều để dành khi được dăm chục, khi một trăm để hễ cứ nghe tin trong quê có lụt là bà lại gửi ngay về cho bác Thiện làm ở Uỷ ban xã để bác ấy chuyển cho những gia đình có người bị nạn.

Cái phong bì hai triệu rưỡi mà các con đóng góp kia, mai bà cũng sẽ gửi về cho bác Thiện. Bà cảm ơn tất cả các con các cháu hôm nay đã cùng bà ăn chay niệm Phật chia sẻ với bà con vùng bão lụt.

Mọi người kính cẩn nhìn chiếc chậu thau đồng. Bác cả đứng dậy, chắp tay lạy cái chậu thau rồi mở ví, có bao nhiêu trong đó là bỏ hết vào chậu thau.

Mấy người em làm theo. Bọn trẻ con nhìn nhau, đứa nào trong túi có đồng nào cũng bỏ hết vào chậu.

Phan Chí Thắng
http://pcthang.vnweblogs.com/post/2432/264542

THƯƠNG VỀ MIỀN TRUNG


Miền Trung chìm trong lũ . Hãy chung tay cứu trợ nhân đạo và giúp người thận.

Sau lũ nông dân vùng lũ: đói càng đói thêm, nghèo càng nghèo thếm. Làm gì ?

Coi chừng đói và dịch bệnh !!! Những câu hỏi nhức nhối và lo lắng toàn xã hội .

http://foodcrops.vn/en/news/1-thuong-ve-mien-trung.html

15 tháng 10, 2010

Những chuyện góp nhặt dạy và học

HỌC MỖI NGÀY. "Học mà dối, nhà rồi còn khổ, bà con buồn, chúng bạn cười chê; thi mà gian, nước sẽ u mê, nền giáo dục muôn đời khốn khó. Học phải thật, thi càng phải thật, mới giúp cho đất nước chấn hưng, muôn kiếp nguyện giữ gìn xã tắc; sống vì dân, thác cũng vì dân, lời dụ dạy đã rành rành, chớ bán đứng sông này núi nọ. Nước mắt trường thi lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thi đua; bằng tốt nghiệp mực chưa khô, cám bởi một câu thành tích" (Nguyễn Quang Lập). Chuyện không đọc chỉ một lần...



GẶP THỜI, ĐƯƠNG THỜI VÀ HẾT THỜI

Hiệu Minh


Hiệu Minh chưa bao giờ bàn về chuyện thầy Đỗ Việt Khoa chống tiêu cực trong thi cử và những bung xung quanh đó. Nhưng đọc tin gần đây về thầy Khoa “đương thời” thành “hết thời”, bỗng tự hỏi, không hiểu ngành giáo dục nước nhà đi về đâu trong những năm sắp tới. Thầy Nguyễn Thiện Nhân cũng sang công tác khác, để lại một khoảng lặng trong bài ca về sự nghiệp trồng người.

Những người gặp thời
Khi bác Nguyễn Thiện Nhân cắp cặp từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhậm chức Bộ trưởng Bộ GD thì xảy ra vụ thầy giáo Đỗ Việt Khoa coi thi tại Hội đồng thi Trường THPT Phú Xuyên A. Ông giáo làng này dùng điện thoại di động quay video làm chứng cứ “tố cáo những gian lận thi cử, làm bùng lên dư luận xã hội bất bình và bức xúc trước những tiêu cực trong giáo dục nhiều năm đã ủ thành bệnh nan y” như “cô giáo” Kim Dung từng viết.

Như vậy cả hai đều gặp thời. Thầy Nhân “gặp” thầy Khoa trong một dịp hiếm có để bàn về cách “chống bệnh thành tích trong học tập và tiêu cực trong thi cử”, và “xây dựng một phương pháp học sáng tạo, thực chất, học là phải dùng được”, rồi “đổi mới phương pháp học tập theo xu hướng tiên tiến của thế giới”.

Còn thầy Khoa được báo chí tung hô, trở thành nổi tiếng, vì sau vụ đó, thầy Hiệu trưởng THPT Vân Tảo Từ Ngọc Lĩnh làm chủ tịch Hội đồng thi bị cách chức. Sở GD&ĐT Hà Tây (cũ) cử Phó phòng Giáo dục thường xuyên, thầy Lê Xuân Trung về làm hiệu trưởng trường Vân Tảo.

Bác Nhân gặp thời, bác Khoa gặp thời, bác Trung gặp thời, báo chí truyền thông gặp thời, chỉ có thầy Từ Ngọc Lĩnh bị “oan” nên…thất thời. Cả nước quay cóp không sao, mình trường ông Lĩnh chịu, hu hu.

Đến đương thời

Thầy Đỗ Việt Khoa đang từ một anh giáo làng bỗng nổi tiếng như cồn. Sau vụ PMU18 ngành truyền thông trải qua cơn sốc, nhà báo thiếu bài vở nên thi nhau hẹn gặp. VTV3 mời lên trò truyện trong mục “Người đương thời”. Người ta có cảm giác ngành Giáo dục đang chuyển mình.

Tuy nhiên, dân quanh làng bác Khoa ở không thích lắm. Học hành kiểu “thầy đọc trò ghi” rồi về nhà nhai lại “Rắn là một loài bò, sát không chân” thì không quay cóp làm sao qua được.

Thầy Trung và đồng nghiệp lại càng chán vì thầy Khoa không hiểu…thời cuộc. Chuyện gì đến đã đến. Thầy Lê Xuân Trung đã bị tố cáo nhiều sai phạm từ lạm thu, phạt học sinh nghỉ học.



Máy ảnh bị ném xuống mương. Ảnh: VNE

Đêm 14/11/2008, hai bác bảo vệ THPT Vân Tảo là Trần Văn Xường và Nguyễn Văn Đông, không hiểu nghe ai xúi dại, xông vào nhà chửi bới và cướp máy ảnh của thầy giáo Khoa, một công cụ hành nghề thời chống tiêu cực khó khăn trăm bề.

Công an huyện Thường Tín tạm giam bác bảo vệ “nhẹ dạ” Trần Văn Xường vì hành vi cướp giật tài sản. Còn chiếc máy ảnh của thầy Khoa hỏng hoàn toàn do bị ném xuống mương nước cạnh trường.

Rồi vụ kiện chả đi đến đâu, “người đương thời” Đỗ Việt Khoa chẳng được bảo vệ đến cùng và hóa ra bị thất thế. Trường đá lên sở, sở đá lên bộ, bộ đá lại về trường. Mọi việc đâu vào đó. Chỉ có người đọc tin trên báo thở dài ngao ngán cho một cung cách làm ăn phi hệ thống.

Bộ trưởng GD đương thời làm được vài vụ động trời. Chính sách mới “chống tiêu cực trong thi cử” xuất hiện ngay cuối năm học 2007. Kết quả nhãn tiền. Chỉ tính riêng hệ trung học phổ thông kỳ thi lần một chỉ có 67,5% đỗ tốt nghiệp (thậm chí có trường không đỗ học sinh nào). Tổ chức thi lại cũng chỉ đạt 80,38%.

Học sinh, phụ huynh, giáo viên kêu thấu trời xanh vì trước đó toàn đạt trên 95% tốt nghiệp. Bây giờ thành tích đi bay, con cái trượt phổ thông biết đi về đâu để hội nhập.

Tuy thế, dư luận xã hội khá đồng tình và người ta đợi trong tương lai gần, nền GD trồng người sẽ biết gieo nhân vào mảnh đất nào cho nẩy mầm xanh. Bao hy vọng lại nhen nhóm về một tương lai tốt đẹp cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa, mà thiếu tố chất giáo dục, thì vẫn là anh nông dân với cái cầy trên thửa ruộng trong thế giới toàn cầu hóa.

Và hết thời nhưng chuông vẫn ngân nga

Bốn năm trôi qua như bóng câu bay ngoài cửa sổ. Nghe nói thầy Nhân đã thôi chức “đương thời” để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới, quan trọng hơn.

Thầy Đỗ Việt Khoa chán đời nên quyết định từ chức anh giáo làng và thành người…hết thời.

Nhà báo Xuân Oanh của VNN “bỗng” nhớ ra thầy Văn Như Cương, hiệu trưởng trường tư nhân Lương Thế Vinh rất nổi tiếng. Giáo sư này từng hùng hồn tuyên bố “sẽ nhận thầy Đỗ Việt Khoa về làm việc nếu thầy gặp khó khăn” hồi năm 2007.

Khi hay tin thầy Khoa sẽ nghỉ việc, trao đổi với VietNamNet chiều 21/5/2010, vị giáo sư râu dài đến ngực này nói “bây giờ thì tôi không nhận thầy nữa vì nhận thức đã thay đổi”. Thầy Cương có lý khi nói về sự “đương thời” của thầy Khoa có vấn đề không bình thường.

Mọi sự đồn đoán cũng chỉ là đồn đoán. Người ngoài cuộc không thể biết trong chăn có rận hay không. Thôi đành biết vậy vì nhìn trên ảnh, râu thầy Cương chả quặp đi chút nào.

Chỉ biết thầy Nhân đã hết thời bên Giáo dục, thầy Khoa hết thời của anh giáo trường làng “thấp cổ bé họng”, thầy Cương và thầy Trung vẫn đương thời làm…hiệu trưởng.

Người ta đang tự hỏi, rồi ngành giáo dục sẽ đi về đâu sau khi chứng kiến những bi kịch trên. Lời thề đổi mới phương pháp học tập theo xu hướng tiên tiến của thế giới, rồi đào tạo 20 ngàn tiến sỹ, tăng học phí cho giáo dục bậc đại học, tăng trách nhiệm tự chủ tài chính cho các trường đại học, không hiểu bây giờ đang ở hang cá trê nào.

Bước chân quan trường của ai đó vẫn rong ruổi trên đường đời, để lại phía sau những thông điệp, mới nghe rất hay, nhưng quả là khó thực hiện.

Đừng trách thầy Cương “thất hứa” hay thầy Trung “giữ ghế”, vì miếng cơm manh áo ở đời thực quan trọng hơn cả sự nổi tiếng đương thời ảo trên VTV hay thế giới online. Đừng chê báo chí đưa tin theo kiểu tung hô. Không có nhà báo làm sao những thông điệp về thay đổi có thể tới hàng triệu người đọc.

Chả nên trách thầy Nhân, vì trong một cơ chế bùng nhùng, “mắc lưới” là phải thôi. Đừng trách thầy Khoa bỏ cuộc vì có lẽ thầy và gia đình hiểu đời cay đắng hơn ai vì con thầy từng bị chuyển trường, cả nhà bị đe dọa. Cách làm của thầy có thể gây tranh cãi, nhưng trái tim và bầu nhiệt huyết dành cho thế hệ tương lai khỏi bàn cãi. Những gì hai thầy để lại phía sau cho ngành giáo dục rất đáng quí, là tiếng chuông cảnh tỉnh “cần thay đổi tận gốc sự nghiệp trồng người” sẽ ngân nga không bao giờ dứt.

Du học 40 năm trước, tôi từng nghe tiếng kèn tây da diết Hejnał Mariacki bỗng bị ngắt quãng ở thành phố cổ Krakow (Balan) vang lên từng giờ từ trên nóc nhà thờ St. Mary’s Basilica.

Theo dòng lịch sử, người thổi kèn xưa kia bị bắn tên trúng vào cổ khi ông tìm cách báo động quân địch xứ Mongolia của Thành Cát Tư Hãn đang tấn công thành phố. Hàng vạn người được cứu sống vì người lính dũng cảm này. Vì thế, tiếng kèn tiếp tục được thổi theo cách bị nghẹn lại cho đến hôm nay ở thành phố cổ có cung Vavel xinh đẹp dù đã sau cả ngàn năm.

“Tiếng kèn” Đỗ Việt Khoa từ miền đất hẻo lánh Vân Tảo nhằm chống tiêu cực trong giáo dục có thể bị nghẹn lại vì cơ chế. Với vài cá nhân có thể là thất bại, là mất mát, là hết thời như người lính thổi kèn thành Krakow.

Nhưng với số đông và dư luận báo chí xung trận, thì đó là bước tiếp theo. Thời vận của ngành này đã mở sang trang mới. Rồi một thầy cô khác sẽ bước theo Đỗ Việt Khoa như tiếng kèn Hejnał Mariacki tồn tại mãi với thời gian.
                                             Bùi Minh Trí cởi trần trên website Bộ GD.


Viết tới đây tôi chợt nhớ ra cậu học trò “hacker” Bùi Minh Trí tấn công trang chủ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cậu bé 17 tuổi dám cởi trần “làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục ” thay thầy Nhân trên trang web trong mấy ngày.

Phải chăng, cũng như các lãnh đạo ngành khác, vị đứng đầu Bộ với trọng trách trồng người đôi khi phải có tố chất “không còn gì để mất” như Bùi Minh Trí cởi trần online. Lúc đó mới mong sự thay đổi thật sự đến từ nhiều phía, giải phẫu được khối u đang có nguy cơ sang giai đoạn cuối của ngành Giáo dục.

Hiệu Minh. 23/05/2010

PS. Entry này như một lời gửi gắm chân thành tới thầy Khoa, thầy Nhân và tất cả những ai đồng tình, giúp khuấy động công cuộc cải cách Giáo dục. Khi con tầu đã chuyển bánh thì khó mà dừng lại được. Đó cũng là cách Blog HM nhìn về hiện tượng Đỗ Việt Khoa.

(Nguồn: blog Hiệu Minh)


CHUYỆN VỀ THẦY ĐỔ VIỆT KHOA BÂY GIỜ MỚI KỂ XONG

Thảo Dân

Cuộc đời thầy Đỗ Việt Khoa đã làm nên hai sự kiện. Nhưng cả hai sự kiện ấy ngẫm đi ngẫm lại đều là những sự kiện buồn. Ngành giáo dục có thay đổi được gì đáng nói sau sự kiện thứ nhất thầy Khoa làm nên hay không? Tôi không dám chắc. Nhưng cuộc đời thầy Khoa thì thay đổi, nhưng là một thay đổi buồn…

Thầy Khoa đã dũng cảm lên án những “phần tối” trong nhà trường. Hồi đó, nhiều người cứ tưởng ngành giáo dục nhân cơ hội ấy mà dọn dẹp căn nhà có không ít nhếch nhác và bừa bộn của mình. Thế nhưng, ngày tháng cứ trôi đi, mọi chuyện trở lại yên ắng như không gian “bình yên” sau một tiếng nổ.

Ngay từ ngày ấy, không ít người có suy nghĩ cẩn trọng đã dự báo rằng: những động thái của ngành giáo dục đối với thầy Khoa chỉ là một cách đối phó và lựa theo dư luận chứ không phải muốn thay đổi thực sự. Bởi ngày ấy, sự kiện thầy Khoa là một “quả bom” làm chấn động dư luận.

Đến ngay cả một giáo sư danh tiếng và cẩn trọng như giáo sư Văn Như Cương cũng tuyên bố sẵn sàng bảo vệ thầy Khoa đến như thế cơ mà. Rồi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã về thăm thầy Khoa. Rồi các phương tiện truyền thông vào cuộc rầm rộ. Còn các giáo viên thì chỉ lấy sự kiện của thầy Khoa mà bàn tán, tranh cãi với người khen, kẻ chê… tán loạn.

Hầu như tất cả chúng ta bị sự kiện thầy Khoa cuốn đi và không làm sao cưỡng nổi. Nó cho thấy ngành giáo dục đã xuống cấp đến mức nào. Nó cho thấy xã hội muốn có một cuộc cách mạng đối với ngành giáo dục nước nhà. Nhưng hình như kết quả từ sự dũng cảm của thầy Khoa chỉ có tác dụng làm cho truyền thông “bốc” lên. Việc “bốc” lên của truyền thông cũng chẳng có gì lạ vì đó chính là một trong những đặc điểm của nó.

Thế rồi đến bây giờ, thầy Khoa lại làm ra sự kiện thứ 2 khi thầy buồn bã và có phần tủi thân thông báo sẽ rời bỏ ngành giáo dục vĩnh viễn. Sự kiện lần này không “nổ to” bằng sự kiện lần thứ nhất nhưng nghe cay đắng và ê chề hơn.

Nhưng cay đắng và ê chề hơn cho thầy Khoa khi xã hội nghe giáo sư danh tiếng Văn Như Cương chối từ không nhận thầy Khoa vào trường mình nữa cho dù thầy Khoa chưa chắc có ý định đó. Có một người bạn học thân thiết của thầy Khoa đã khóc như một nỗi tủi hổ khi đọc những lời của giáo sư Văn Như Cương trả lời báo chí và nói kỹ đến mức phũ phàng về thầy Khoa.

Anh thương bạn mình quá. Cho dù có những lúc anh đã tâm sự và khuyên thầy Khoa không nên làm thế này hay chỉ nên làm thế kia. Anh hiểu bạn mình có lúc đã không nhìn nhận vấn đề thật thấu đáo. Anh cũng hiểu bạn mình quả thực bị dư luận xã hội lúc đó có lúc làm cho “choáng váng”.

Nhưng anh hiểu bạn mình đấu tranh từ những ngày đầu là xuất phát từ sự chân thành và không thể đứng nhìn những trò phi giáo dục trong ngành giáo dục. Anh nói thầy Khoa không ảo tưởng gì về mình như lời giáo sư danh tiếng Văn Như Cương nói mà thầy Khoa cứ tưởng hầu hết những người trong xã hội ủng hộ thầy, đứng về phía thầy bởi những lợi ích cho chính con em họ hay vì lợi ích cho xã hội.

Thế là thầy Khoa lao vào chiến đấu với những gì mà cá nhân thầy cho rằng những cái đó đang nguy hại cho ngành giáo dục. Thầy Khoa cứ tin rằng phía sau mình là cả một biển người đi theo thầy. Nhưng thực ra người ta chỉ đứng xem thầy như một sự tò mò. Chỉ có rất ít người thực sự ủng hộ thầy mà cũng lo cho thầy. Và đếnkhi chiến đầu mãi không giành được chiến thắng, thầy Khoa quay lại và bắt đầu thấy hoang mang.

Cuối cùng, thầy tự đầu hàng. Cứ cho là những lời nhận xét của giáo sư danh tiếng Văn Như Cương là đúng thì có nên nói ra như thế không về một người là thầy Khoa đã phải dùng đến hạ sách cho cuộc đời mình.

Người bạn của thầy Khoa hiểu rõ rằng: nếu thầy Khoa có ảo tưởng bởi báo chí tung hô quá mức hay Người đương thời gì đó thì trong đó có cả sự ảo tưởng đến từ sự bênh vực của một người danh tiếng chính là giáo sư Văn Như Cương. Tìm hiểu ra mới thấy giáo sư Văn Như Cương là một trong những người làm thầy Khoa tin tưởng mãnh liệt nhất. Bởi thầy Khoa vô cùng kính trọng giáo sư và hoàn toàn tin sự lên tiếng sẵn sàng nhận thầy Khoa đã làm thầy Khoa như bị “sốc” thuốc.

Không phải thầy Khoa tin vào việc giáo sư danh tiếng Văn Như Cương nhận thầy Khoa khi có mệnh hệ nào để mình vẫn có việc làm mà nuôi con, mà thầy Khoa tin vào việc mình đấu tranh là hoàn toàn đúng. Cũng như những món quà tặng hay bằng khen thì không phải là bằng khen hay quà mà là lòng tin của thầy Khoa vào việc làm của mình và tin vào xã hội quanh mình.

Nhưng sau những ngày “thăng hoa”, những người đứng về phía thầy Khoa và lên tiếng về ngành giáo dục dần dần rút lui và để lại trận chiến cho một kẻ duy nhất là thầy Khoa. Thế là thầy Khoa chẳng biết “kẻ thù” của ngành giáo dục đang ở phía nào. Thầy Khoa những ngày tháng sau đó giống như một người lính chẳng có người chỉ huy. Nhưng trong lúc đó, quanh thầy đầy tiếng la ó, tiếng dọa dẫm của “kẻ thù”. Vì thế, thầy Khoa có hoảng hốt mà “bắn” loạn xạ âu cũng là chuyện dễ hiểu.

Lúc đầu tôi cứ nghĩ sự kiện đầu của thầy Khoa đã kể xong câu chuyện về ngành giáo dục và về xã hội chúng ta. Nhưng đến khi sự kiện thứ hai của thầy Khoa xẩy ra thì mới ngã ngửa người ra rằng: câu chuyện về thầy Khoa bây giờ mới kể xong.

Vâng câu chuyện đã kể xong. Nghe mà buồn thấu ruột. Nghe mà ứa nước mắt về nhiều chuyện. Không biết thầy Khoa và những người hiểu đúng câu chuyện này sẽ buồn đến khi nào?

(Nguồn: VNN)

THƯA THẦY VĂN NHƯ CƯƠNG 
Thanh Chung

Thưa thầy,

Khi gõ tên thầy với đầy đủ dấu tiếng Việt, trong vòng 0,41 giây, anh “Google” cho 7,690,000 kết quả. Theo Wikipedia, ” Văn Như Cương (sinh 1937) là một nhà giáo Việt Nam, nhà biên soạn sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học bộ môn hình học, Ủy viên Hội đồng giáo dục quốc gia Việt Nam. Ông là một Tiến sĩ toán học, được phong học hàm phó giáo sư. Nhiều bài báo có ghi ông là Nhà giáo Nhân dân, tuy nhiên ông đã chính thức phủ nhận việc ông có danh hiệu này. Ông là người đầu tiên lập ra trường dân lập tại Việt Nam vào thời kỳ đổi mới [2] là trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh-Hà Nội.”

Năm 2001, con trai em thi tốt nghiệp trung học cơ sở với tổng số trên 50 điểm cho sáu môn. Cháu đỗ vào chuyên Pháp hệ B trường Amsterdam và hệ A trường Chu Văn An, nhưng em vẫn quyết tâm nộp hồ sơ cho cháu vào trường Lương Thế Vinh của thầy. Ơn giời, cháu đủ điểm vào lớp A1 – nghĩa là “chọn của chọn”. Tỷ lệ đỗ đại học ở các lớp này thường đạt từ 90 đến 100%. Đến tận thời điểm này, em chưa hề ân hận về quyết định đó của mình, mặc dù con trai em và các bạn nó luôn nói: “mẹ muốn biết về trường LTV thì phải hỏi con”. Gần đây nhất, khi cô bạn em nhờ tư vấn về các trường cấp 3 trong nội thành Hà Nôi, em lại khuyên cô ấy cho con thi vào Lương Thế Vinh. Kể dài dòng như vậy chỉ cốt để nói rằng em đã ngưỡng mộ và kính trọng thầy biết nhường nào.

Thưa thầy Văn Như Cương, cách đây vài ngày, báo chí lề phải và dân cư mạng rộ lên chuyện thầy Đỗ Việt Khoa xin nghỉ việc. Sẽ chẳng có lý do gì để nhắc đến tên thầy trong “sự kiện ĐVK” nếu không có lời hứa của thầy cách đây bốn năm. Mặc dù đã xác định với báo chí sẽ “ở nhà giúp đỡ vợ chăm sóc, dạy 2 đứa con cho tốt, phụ vợ đi chụp ảnh, cài đặt máy tính, internet”, nhưng em tin trong thâm tâm, thầy Khoa vẫn trông chờ vào sự ủng hộ của dư luận xã hội, của ban lãnh đạo Bộ GD-ĐT và cả của ông hiệu trưởng trường Dân lập danh tiếng LTV. Việc thầy Khoa lên gặp lãnh đạo Bộ GD-ĐT thông báo quyết định của mình được xem như cố gắng cuối cùng của người bơi ngược dòng đã đuối sức, hy vọng một chiếc phao sẽ được quăng ra trước khi bị dòng nước nhấn chìm.

Thưa thầy Văn Như Cương, thầy hoàn toàn có quyền rút lại lời hứa khi nhận thức của thầy về ĐVK thay đổi. Bốn năm đủ để cho một tân sinh viên trở thành cử nhân, đủ để cho một nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sĩ, và cũng đủ để cho một người từng ở vị trí “đương thời” ngã ngựa trở thành kẻ thất thế vì thiếu thức thời. Em và nhiều người có thể tin ĐVK đã quá ấu trĩ và ‘dại dột’ khi quyết định đơn thương độc mã chống lại tiêu cực trong thi cử của ngành giáo dục. Nhưng em không tin ĐVK “không bình thường cả về tư duy, nhận định và đánh giá mình” như thầy đã trả lời phóng viên Kiều Oanh trên báo Vietnamnet.

Nếu một diễn viên điện ảnh có thể ứng cử để trở thành tổng thống Mỹ như ngài Ronald Reagan, hay thống đốc bang California - Arnold Schwarzenegger thì tại sao một giáo viên tâm huyết với nghề không thể tự ứng cử đại biểu quốc hội? một luật sư tài cao, học rộng như Cù Huy Hà Vũ không thể tự ứng cử vào vị trí Bộ trưởng? Nếu do “không bình thường” mà ngài luật sư CHHV phát đơn kiện Thủ tướng trong dự án Bô-xit, mà thầy ĐVK kiện BGH trường Vân Tảo vì những thu chi tài chính thiếu minh bạch thì em kính trọng lòng dũng cảm đến “bất bình thường” của họ.

Thưa thầy, thầy nói sở dĩ ĐVK bị bạn bè đồng nghiệp cô lập là vì anh luôn kè kè máy ghi âm và máy ảnh ở mọi lúc mọi nơi. Nếu phải sống ở môi trường mà đi chậm 2 phút sẽ không được vào họp Hội đồng; gọi hết hơi khản tiếng không thấy ai, nhưng chỉ vừa trèo qua cổng thì hai ông bảo vệ lập tức xuất hiện (như đã rình sẵn) áp tải đi trước con mắt của đồng nghiệp và học trò như một kẻ tội phạm thì liệu ĐVK có nên tìm mọi cách để tự bảo vệ mình không? Bẫy giăng ra khắp nơi: từ nhà đến trường, từ cổng trường lên lớp. Sống trong môi trường như vậy mà ĐVK không bị “tâm thần” mới là chuyện lạ. Thầy tin rằng ĐVK “có vấn đề” bởi chẳng thể nào tất cả mọi người từ thanh tra của Sở tới bạn bè đồng nghiệp, từ ông hiệu trưởng cũ bị “gặp hạn” đến ông phó phòng giáo dục mới được điều về đều chống lại Khoa. Nếu phải bỏ ra ba chục triệu để “chạy” một suất biên chế trong hệ thống trường công; nếu phản đối cán bộ lãnh đạo sẽ bị trù dập, mất việc làm thì em tin khi ông hiệu trưởng gọi “con bò” là “giống lợn ăn cỏ”, đa số giáo viên cũng sẽ ồ à “lợn, lợn”. Người không đồng tình sẽ cúi mặt lặng thinh. Nếu ông hiệu trưởng trường Vân Tảo tổ chức bỏ phiếu “bất tín nhiệm” với ĐVK bằng cách giơ tay biểu quyết, em đồ rằng chẳng có ai dám cả gan ngồi im. Thầy từng là người tiên phong đi đầu trong việc mở trường Dân lập để được thực hiện ý tưởng của mình, sao thầy vẫn còn tin vào “tâm lý đám đông”?

Thưa thầy, trong bối cảnh giáo dục hiện nay, có 1001 lý do khiến các trường dân lập ngại nhận ĐVK. Họ bị áp lực từ phía các cổ đông, từ phía cha mẹ học sinh và cả từ phía báo chí. Bên cạnh những trường dân lập có chất lượng cao như LTV, Marie-Cuirie, Nguyễn Tất Thành (Hà Nội) được “quyền” tuyển sinh ngang ngửa với hệ thống trường chuyên lớp chọn Amsterdam, Chu Văn An, chuyên Sư phạm, chuyên Tổng hợp… nhiều trường dân lập chỉ nhằm mục đích “trông trẻ” và “xóa mù” cho tất cả những “cậu ấm, cô chiêu” không có chỗ trong các trường công đúng tuyến và trái tuyến. Dù trường LTV của thầy được biết đến như một “trại lính” vì tính kỷ luật cao: Không có học sinh nhuộm tóc “hi-lite”, móng chân móng tay tô vẽ, mặc áo hai dây, mặc quần trễ cạp tới trường; Nổi tiếng về nghiêm túc trong thi cử: đề thi kiểm tra 1 tiết, cuối học kỳ đều do các chuyên gia giáo dục soạn thảo; bài thi của học trò được giao cho một cơ quan độc lập đánh giá, cho điểm; bàn học được thiết kế như ở các nước phát triển, không có ngăn bàn để ngăn chặn quay cóp… thì các vị phụ huynh vẫn không muốn có thêm gánh nặng tâm lý cho con em mình khi có một vị “hắc tinh” của bệnh thành tích và những thói tiêu cực trong Hội đồng nhà trường. Các cổ đông sẽ không để cho ngài chủ tịch Hội đồng quản trị yên ổn khi “thượng đế” của mình ùn ùn kéo nhau đến chuyển con em mình sang trường khác. Nhận ĐVK, ông hiệu trưởng sẽ được báo chí tung hô như “người đương thời” một thưở, để rồi trường họ trở thành “điểm đến”cho những đoàn thanh tra giáo dục, của phóng viên hàng trăm tờ báo giấy và báo “net” với nhưng tiêu đề giật gân câu khách. Nhiều khi “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”.

ĐVK đã mệt mỏi sau bốn năm làm chàng Đonkiôtê. Con gái anh từng không muốn nhận là “con bố Khoa”, vợ từng muốn dắt con bỏ đi khỏi làng vì sự ghẻ lạnh của đồng nghiệp của chồng và cộng đồng. “Tôi không xin nghỉ thì họ cũng sẽ cho thôi việc”. Theo pháp lệnh công chức, hai năm liên tục không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị buộc thôi việc. Đằng này bốn năm liền ĐVK là giáo viên duy nhất không hoàn thành nhiệm vụ. BGH trường Vân Tảo chưa buộc anh thôi việc chắc còn vì “nể người anh hùng” của ngài cựu bộ trưởng NTN. ĐVK đã tự nhận mình thua cuộc, đã buông xuôi mọi thứ. Đối thủ của anh phủi tay, thở phào nhẹ nhõm. Người khôn ngoan rút được kinh nghiệm cho mình, rút sâu vào trong vỏ ốc. Kẻ “non gan” từng ngấm ngầm ủng hộ anh nay lại ngấm ngầm đau khổ. Giáo dục nước nhà như cỗ pháo tuột dây đang trôi xuống dốc. Thêm một Tô Vĩnh Diện nữa hy sinh.

Thưa thầy Văn Như Cương, thầy hoàn toàn có lý khi không ném ra một sợi dây cho ĐVK lúc anh sắp trôi vào vùng nước xoáy. Nhưng giá như không có bài trả lời phỏng vấn của thầy trên Vietnamnet ngày 23 tháng 5 vừa rồi, số người cho rằng anh “dại dột” sẽ cao hơn số người bị thuyết phục rằng anh “có vấn đề về tâm thần”. Độc giả tin tưởng vào “vị Phó giáo sư lẫy lừng VNC” là chuyện đương nhiên. Chỉ có em tự nhiên lẩn thẩn, thấy như kẻ vừa bị ngã ngựa đã bị vó ngựa hất thêm xuống vực. Buồn!

(Nguồn: Blog Thanh Chung)


CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

Da Vàng

Mấy ngày qua dư luận đang xôn xao về việc thầy Đỗ Việt Khoa xin nghỉ dạy học tại Trường THPT Vân Tảo (Thường Tín, Hà Nội). Thế là một lần nữa chuyệnvề thầy Đỗ Việt Khoa trở thành đề tài cho báo chí và các blogger bình luận.

Tôi đón nhận tin này bình thường như một sự thật hiển nhiên, như một quy luật tự nhiên vốn dĩ phải vậy.

Chuyện thầy Đỗ Việt Khoa xin nghỉ dạy là hệ quả của những điều tất yếu.

Tạm thời không bàn đến những lỗi cá nhân mà thầy Đỗ Việt Khoa mắc phải như quá đề cao bản thân khi có ý định trở thành đại biểu Quốc Hội. Dẫu biết rằng đó là quyền và suy nghĩ của cá nhân mỗi người, tuy nhiên để trở thành người đại biểu của dân thực sự thì cần có những điều kiện khác nữa chứ không chỉ có những hành động mang tính nhất thời.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, tôi chỉ bàn đến những lý do dẫn đến quyết định xin nghỉ dạy của thầy Đỗ Việt Khoa.

Trước hết, thầy là nạn nhân của sự tung hô quá trớn từ báo chí. Đỗ Việt Khoa từ một ông giáo làng bổng chốc trở thành người hùng, trở thành nổi tiếng, trở thành “người đương thời”, …

Trong một xã hội mà những tiêu cực trong thi cử tràn lan, mọi người ai cũng đều nhìn thấy thực trạng này như một cái ung nhọt của ngành giáo dục nói riêng, của xã hội nói chung thì việc làm của thầy Khoa được mọi người xem như người sáng mắt giữa thế giới người mù. Rất dễ bị những người xung quanh xem là “không bình thường” rồi xa lánh, cách ly, trù dập.

Sau khi những phát hiện và tố cáo của Thầy Khoa thì hàng loạt các phong trào được tạo ra như: Nói không với gian lận trong thi cử, phong trào hai không, ba không, … Các phong trào này có sức sống yếu ớt để rồi sau đó mọi chuyện lại trở về với cái thuở ban đầu ấy.

Nếu báo chí và các nhân vật có liên quan nhân cơ hội đó mà tạo được một tiếng nói mạnh, có những giải pháp đủ sâu và rộng để giải quyết vấn nạn gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy trường, … thì kết cục nghề giáo của Thầy Khoa đã khác.

Báo chí dựng lên “người đương thời” nhưng sau đó lại để “người đương thời” ấy lạc lõng một mình loay hoay chiến đấu giữa muôn trùng vây kẻ địch. Cuộc chiến đấu này quả là cuộc chiến không cân sức, để rồi Thầy Khoa giống như chàng hiệp sĩ Đôn-Ki-Hô-Tê chiến đấu một cách yếu ớt, vô hồn với những cối xay gió.

Người đương thời giờ đây trở thành người hết thời, nghiệp trồng người bị gián đoạn nữa chừng, bị mọi người xung quanh ghẻ lạnh, xa lánh.

Phải chăng việc thầy Khoa xin nghỉ dạy là hệ quả tất yếu của cuộc chiến không cân sức trong công cuộc đấu tranh cho một nền giáo dục trong sạch, phát triển, nhân văn.

Người đương thời rồi sẽ là ai? Ai sẽ là người dám nói lên tiếng nói lương tâm? Ai dám nói lên tiếng nói về một tương lai giáo dục sánh ngang tầm thời đại mới?

(Nguồn: Blog Da Vàng)


THI CỬ TẾ CA

Nguyễn Quang Lập


Hỡi ôi!
Thi cử An Nam; lòng dân trời tỏ.
Mười hai năm đèn sách, chưa chắc còn danh nổi tợ phao; một cuộc vượt vũ môn, tuy là rớt tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:
Cung cúc chấp hành; toan lo Sở, Bộ.
Chưa quen nói thật, đâu biết làm ngay; chỉ biết khai man, biến không thành có.
Việc dối, việc gian, việc bơm, việc nịnh, tay vốn quen làm; tập liêm, tập chính, tập kiệm, tập cần, mắt chưa từng ngó.
Ôn tập tủ phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi lộ đề vấy vá nửa trăm năm, ghét thi thật như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy sở về thăm trường lớp, muốn tới xun xoe; ngày xem trát Bộ nhắn nhe, muốn ra bợ đỡ.
Một núi sách ôn đồ sộ, há để trên thua lỗ được a; hai tốt Bộ phán chói lòa, hay là để treo dê, bán chó.
Muốn giật cờ, bằng, phần thưởng, phen này xin ra sức báo công; chẳng thèm ôn tập luyện thi, chuyến này dốc ra tay quan hệ.

Khá thương thay:
Vốn chẳng phải học hàm, học vị, theo dòng mua tước bán danh; chẳng qua là dân ấp, dân lân, giỏi chạy chọt nên ông này bà nọ.
Thanh tra đoàn to toán nhỏ, cưỡi ngựa xem hoa; giám sát tốp dưới tổ trên , nghe hơi nồi chõ.
Ngoài cật có một manh áo vải, phải lo che cho hết phao thi; trong tay cầm một ngọn bút bi, cần giấu kín mobile, ipod
Phao thi nhét trong nịt ngực, cố bôi cho hết sáu câu; công thức chép kín hai đùi, toan nuốt trọn mấy bài thi khó.
Chẳng quản thanh tra, giám sát, đạp rào lướt tới, có họ cũng như không; nào sợ bảo vệ, công an, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ câu phao, người người tin nhắn, làm cho giám thị thất kinh; bọn hè trước, lũ cửa sau, trối kệ hội đồng nhăn nhó.

Ôi !
Những lăm đổi mới trường thi; đâu biết ngọn tre đơm đó.
Một giấc ủy viên rằng chữ hạnh, nào hay kiếm mướt mồ hôi; trăm năm phó thủ tướng ấy chữ quy, vận hạn xem chừng cũng khó.
Đoái trông tốt nghiệp thí sinh mấy vạn sầu giăng; nhìn chốn học đường, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Chẳng phải học thật, dạy hay bốn cõi, mà chống bệnh thành tích cho cam tâm; vốn không tu nhân, tích đức lâu năm, mà hiệu lực bốn không cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:
Đã thi thì phải đỗ, tài bồi trường, sở bằng khen; phết phẩy cho vài điểm thêm, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến thầy trò khó nhọc, tốn kém quà cáp phông bao; vì ai xui gửi gắm cho nhau, mớm bài làm hộ.
Phải biết chi cho ban phúc khảo, thay bài thi thêm điểm dổm, mới gọi là khôn; Chớ nghe theo đám thật thà, không luồn dưới, chẳng đút trên, thế thì trượt cho chỏng vó.
Thà tốn mà được bằng tốt nghiệp, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ hỏng thi, năm sau lại thi rất khổ.

Ôi thôi thôi !
Dột từ nóc, quanh năm hô khẩu hiệu, tấm lòng son vứt xó chẳng ai dùng; chuyện thi đua nói thế để mà chơi , chỉ tội nghiệp đám trung thần tưởng bở.
Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, tiền ôn thi ba sào lúa chưa xong; não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, bầy thi hỏng vật vờ trước ngõ.

Ôi !
Hết một mùa thi, vạn người kêu khổ.
Trên dưới vẫn quen lề thói cũ, hèn chi bốn phía mây đen; ông cha ta nói lắm mỏi mồm, ai cứu đặng một phường con đỏ.
Học mà dối, nhà rồi còn khổ, bà con buồn chúng bạn cười chê; thi mà gian, nước sẽ u mê, nền giáo dục muôn đời khốn khó.
Học phải thật, thi càng phải thật, mới giúp cho đất nước chấn hưng, muôn kiếp nguyện giữ gìn xã tắc; sống vì dân, thác cũng vì dân, lời dụ dạy đã rành rành, chớ bán đứng sông này núi nọ.
Nước mắt trường thi lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thi đua; bằng tốt nghiệp mực chưa khô, cám bởi một câu thành tích.
Hỡi ôi thương thay !
Có linh xin hưởng.


Nguồn: Blog Quê Choa
http://quechoablog.wordpress.com/2010/05/25/gap-thoi-duong-thoi-va-het-thoi/

14 tháng 8, 2010

Từ “ Bài giảng cuối cùng” đến “ Chuyển đổi lớn”

Nguyễn Lâm Cúc

HỌC MỖI NGÀY. Quyển sách " Chuyển đổi lớn" đã có mặt tại các nhà sách Việt Nam, từ tháng 8/2010. Nguyễn Lâm Cúc đã viết bài giới thiệu thật hay Từ "Bài giảng cuối cùng " đến "Chuyển đổi lớn". Tôi  tâm đắc với cô về những nhận xét tinh tế khi  đọc "Bài giảng cuối cùng" và háo hức tìm kiếm "Chuyển đổi lớn ráp lại thế giới từ Edixon đến  Google" của Nicholas Carr với  lời văn chuyển ngữ vốn kỹ lưỡng, tài hoa và sự sâu sắc chuyên môn của PGS.TS. Vũ Duy Mẫn. Google đã là câu chuyện thần kỳ của thời đại chúng ta. Sự khám phá, phân tích về kỳ tích này của những chuyên gia bậc thầy chắc chắn có nhiều gợi mở. Tôi ngộ ra từ bài viết "Chậm từng giọt chữ" của Nguyễn Ngọc Tư cái sự chậm có được là do biết thưởng thức sách hay của người viết sách kỹ và người chọn đọc sách kỹ, ví như "sách vở cũng như bạn bè không cần nhiều mà nên lựa chọn" ... 


..."Một lần, khoảng mười mấy năm về trước, khi Chris lên bảy và Laura lên chín, tôi đón chúng với chiếc xe Volkswagen Cabrio mui trần mới tinh vừa mua. "Phải cẩn thận trong xe mới của cậu Randy nhé - chị tôi nhắc các con - Chùi chân trước khi vào xe. Đừng nghịch các thứ. Đừng làm bẩn xe".


Tôi lắng nghe chị và nghĩ theo cách nghĩ của một ông cậu chưa vợ: "Đây đúng là kiểu răn bảo làm hỏng bọn trẻ. Tất nhiên chúng có thể làm bẩn xe tôi. Trẻ nhỏ làm sao có thể tránh được". Vậy nên tôi làm mọi việc trở nên dễ dàng hơn. Trong khi chị tôi nhắc nhở các quy tắc, tôi chậm rãi mở một lon nước ngọt, dốc ngược và đổ xuống chiếc ghế đệm bọc vải ở phía sau xe. Thông điệp của tôi: con người quan trọng hơn đồ vật. Một chiếc xe, kể cả quý giá như chiếc xe mui trần mới của tôi, cũng chỉ là một đồ vật.


Khi đổ lon nước ngọt, tôi quan sát thấy Chris và Laura miệng há, mắt trợn tròn. Quả là cậu Randy điên khùng, hoàn toàn chối bỏ những nguyên tắc của người lớn.


Cuối cùng tôi thật mừng vì đã tưới lon nước ngọt đó bởi đến cuối tuần, Chris bé nhỏ bị cảm cúm và đã nôn tung tóe khắp ghế sau xe. Cậu bé đã không cảm thấy có lỗi. Nó được yên lòng bởi đã chứng kiến tôi rửa tội chiếc xe và biết việc nó làm cũng không có vấn đề gì"...

Tôi đã đọc mẩu chuyện trên trong quyển sách " Bài giảng cuối cùng" do dịch giả Vũ Duy Mẫn dịch, ngay từ khi những trang đầu của quyển sách được một vài báo điện tử trích đoạn đưa lên. Sau này, khi quyển sách xuất bản, tôi được dịch giả tặng 1 bản và đã đọc đi đọc lại đoạn văn trên nhiều lần. Hôm nay, lại mang ra đọc và còn nguyên vị ngọt ngào của mật ong, y hệt như tôi nếm nó lần đầu tiên. Một cử chỉ dù có chút thiệt thòi nhưng đã tránh cho Chris bé nhỏ không cảm thấy có lỗi khi nôn ói lúc bị bệnh. Việc làm đơn giản đầy nhân văn đó cũng là tư tưởng xuyên suốt của tập sách "Bài giảng cuối cùng". Có gì dễ bằng đổ lon nước ngọt xuống ghế chiếc xe mới của chính mình? Không phải thế. Không dễ chút nào. Chúng ta cũng thường tưởng rằng xuất phát từ yêu thương thì có thể làm, nhưng thực tế sẽ không như vậy. Bởi vì, biểu hiện yêu thương có sự khác nhau do văn hóa sống của mỗi cá nhân. Mà văn hóa không phải là khí trời cứ hít thì sẽ đầy phổi và thở thì sẽ thải ra. Văn hóa cần một quá trình tiếp nhận và chuyển hóa. Quá trình đó lại phụ thuộc hoàn toàn vào nền tảng giáo dục.

Khi tôi cao chỉ nhỉnh hơn cán một cây rìu đẽo gỗ một tí, ba tôi sai tôi đi lấy nó kèm theo câu nói: Coi chừng đứt chân. Tôi chạy vun vút và hớn hở tự hào mang cây rìu đến cho ông. Đã nói coi chừng đứt chân rồi mà! Kèm theo câu quát, ba tôi bép tôi một bép vào mông như trời giáng. Tôi loạng choạng, mắt mở muốn rách vành nhìn ba, miệng cãi: Con có làm sao đâu. Còn cãi nữa hả, máu chảy đầy đất kìa. Ba tôi quát. Nhìn lại, tôi thấy trên đường tôi chạy qua máu nhỏ từng giọt dài. Phía sau cổ chân, vết đứt in nguyên hình lưỡi rìu nhưng phía bên dưới sâu hơn phía bên trên. Máu vẫn đang chảy...

Tại sao ba tôi lại sai tôi làm một việc mà dù rất cố gắng tôi vẫn không thể làm? Tại sao trừng phạt một việc mà người phạm lỗi không thể tránh? Ba tôi có thương tôi không? Rất thương! Và "thương thì cho roi, cho vọt"...Đã một thời, câu tục ngữ trên cũng là biểu hiện một nét văn hóa trong tập quán giáo dục của chúng ta?

Chuyện xảy ra đã lâu, tôi nhớ một kỷ niệm không kèm theo dư vị nào. Với tôi như vậy đã là một may mắn, nhưng tôi sẽ hạnh phúc hơn, nếu kỷ niệm đó còn cho tôi vị ấm ngọt, như câu chuyện từ " Bài giảng cuối cùng" kia.

"Tác giả "Bài giảng Cuối cùng" là giáo sư Randy Pausch, ông dạy ở trường đại học Carnegie Mellon. Ông đã đọc "Bài giảng cuối cùng" vào ngày 18/09/2007. Video bài giảng được đưa lên Internet và nhận được sự quan tâm của rất nhiều người xem khởi đầu là một video clip trên Internet, ngay lập tức nó thu hút sự chú ý của hàng triệu người trên khắp hành tinh. Trang Web "Bài giảng Cuối cùng" và trang Web của Randy Pausch để giao lưu với cộng đồng mạng đã gây cảm hứng sống tích cực cho rất nhiều người và cũng rất nhiều người qua đó đã chia sẻ, động viên, cổ vũ và giúp ông thêm vũng vàng trong những ngày tháng khó khăn nhất."

"Video "Bài giảng Cuối cùng" được nhận giải năm 2007 của YouTube. Randy Pausch được phong là Nhân vật của thành phố Pittsburgh năm 2008. Tháng 5/2008, báo Times xếp ông là một trong 100 người có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới. Hãng Disney lập học bổng Pausch tại Đại học Carnegie Mellon.

Ông nhận được rất nhiều thư từ của bạn đọc, trong đó có Tổng thống đương nhiệm Bush, ca ngợi tinh thần của ông và cám ơn những đóng góp của ông cho công đồng. Randy Pausch cũng đã tường trình trước một tiểu ban của Thượng Viện Mỹ để kêu gọi tăng cường kinh phí nghiên cứu ung thư tụy.

Nhà xuất bản Hyperon của hãng Disney đã trả số tiền 6,7 triệu đô la Mỹ cho bản quyền xuất bản cuốn "Bài giảng cuối cùng". Ngay khi vừa ra đời vào tháng 4/2008, nó đã trở thành cuốn sách best-seller của New York Times rồi của toàn quốc. Cuốn sách được in 400 ngàn bản trong lần xuất bản đầu, và đã được dịch ra 46 thứ tiếng. Có tin cuốn sách sẽ được dựng thành phim"

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Duy Mẫn từng chia sẻ với bạn đọc khi quyển sách dịch ra tiếng Việt rằng: "Nghĩ tới lớp trẻ ở trong nước, tôi nhớ đã đọc ở đâu đó một bậc cha mẹ tâm sự là bây giờ rất khó dạy dỗ con cái bởi khó thấy những tấm gương để chúng noi theo. Theo nghĩa đó, tôi thấy "Bài giảng cuối cùng" là một cuốn sách quý cho đọc giả Việt Nam và quyết định dịch nó."

Bản in tiếng Việt đầu tiên của " Bài giảng cuối cùng" chỉ 1 nghìn quyển. Nhìn thấy số lượng in như vậy, so với số lượng người Việt Nam là 87 triệu người, tôi xót xa cho cái sự đọc sách của thời đại tôi.

Sau " Bài giảng cuối cùng", dịch giả Vũ Duy Mẫn đã đem đến cho bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ Việt Nam một tác phẩm khác thuộc lãnh vực đang là thời thượng nhất của toàn cầu. Quyển sách mang tên " Chuyển đổi lớn". Dưới tiêu đề : "Một Web Nhện". Dịch giả Vũ Duy Mẫn đã trích chương Mười bốn, có đoạn: "Không thật bất ngờ khi hầu hết những tiến bộ chủ yếu về tính tóan và mạng, từ thời kỳ Hollerith cho tới nay, đều được thúc đẩy không phải bởi khát khao giải phóng số đông mà lại bởi nhu cầu kiểm sóat lớn hơn từ phía các viên chức thương mại và chính phủ, thường gắn liền với những họat động quân sự và quốc phòng. Quả thực, cấu trúc cơ bản của bộ máy quan liêu đã được phản ánh trong các chức năng của một chiếc máy tính. Máy tính thu thập thông tin qua các thiết bị đầu vào, ghi nhận thông tin như các tệp trong bộ nhớ, áp đặt những quy tắc và thủ tục hình thức lên người sử dụng thông qua các chương trình của nó, và truyền đạt thông tin qua những thiết bị đầu ra. Nó là một công cụ để phát lệnh, để thu nhận phản hồi về việc những lệnh này đã được thực hiện ra sao, và để đo lường sự tiến triển hướng tới một mục tiêu nhất định nào đó. Khi sử dụng máy tính, con người trở thành một bộ phận của cơ chế điều khiển. Anh ta trở thành một thành phần của cái mà nhà tiên phong Internet J. C. R. Licklider, trong bài báo năm 1960 "Sự cộng sinh Người-Máy," đã mô tả như một hệ thống tích hợp con người và máy thành một thực thể đơn nhất, có thể lập trình được"

Trong một trao đổi riêng với tôi tại blog, dịch giả Vũ Duy Mẫn nói thêm: "Trong cuốn sách có một đọan: Không những các chính phủ nói chung đang bắt đầu phân chia thế giới trực tuyến theo ranh giới địa chính trị cũ, mà cả những chế độ độc tài cũng đang nhận rõ Internet không là mối đe dọa lớn cho quyền lực của họ như ban đầu họ đã lo sợ. Trong khi Mạng đưa cho con người một môi trường mới để khám phá thông tin và phát biểu chính kiến, nó cũng cung cấp cho các viên chức một công cụ mới mạnh mẽ để giám sát phát ngôn, nhận diện những người phản kháng, và phân tán tuyên truyền. Trong một quốc gia như Trung Hoa, bất kỳ ai tưởng rằng có thể hành động nặc danh trên Web, đều tự đối đầu với những hiểm nguy khá lớn. Trong một phát biểu vào năm 2007, chủ tịch Trung Hoa Hồ Cẩm Đào đã nhiệt tình nói về tiềm năng của Internet để củng cố ảnh hưởng của Đảng Cộng sản đối với tư tưởng của nhân dân nước ông. "Củng cố xây dựng và quản lý văn hóa mạng," ông nói với một nhóm viên chức đảng cao cấp, "sẽ giúp mở rộng trận tuyến tuyên truyền và công tác tư tưởng. Đó là việc làm tốt để nâng cao sức mạnh sáng chói và sự lan truyền phát triển của tinh thần xã hội chủ nghĩa. Và nxb đã bỏ đi, kể cả đó chỉ là phát biểu của một người viết Mỹ."

Quyển sách " Chuyển đổi lớn" đã có mặt tại các nhà sách Việt Nam, từ tháng 8/2010.

26 tháng 7, 2010

Google câu chuyện thần kỳ


HỌC MỖI NGÀY. Google câu chuyện thần kỳ (tác giả David Vise và Mark Malseed, người dịch Khánh Chi) là cuốn sách bán rất chạy trong những năm gần đây. Sách hiện được lược thuật và giới thiệu  nhiều kỳ trên báo Tuổi Trẻ.  Đó là câu chuyện về sự thành công thật sự kỳ lạ của hai chàng trai trẻ Larry Page và Sergey Brin  – những người sáng lập Google. Chỉ với khối óc của mình, trong vỏn vẹn sáu năm họ đã trở thành tỉ phú. Thành công của Google là thành công kỳ diệu của những ý tưởng và sự sáng tạo. “Hãy quan tâm tới điều không thể, hãy thử làm những gì mà hầu hết mọi người chưa nghĩ tới” – phương châm đó của những người sáng lập Google đã đưa ra những định hướng tương lai của Google: góp phần biến đổi thế giới. Trang HỌC MỖI NGÀY tập hợp hệ thống tài liệu quý này

1)
Quan tâm tới điều không thể
TT - Larry Page và Sergey Brin bước vào hội trường trong tiếng hò reo hứng khởi của những thanh niên mới lớn thường làm khi chào đón những ngôi sao nhạc rock. Ăn mặc giản dị, họ ngồi xuống và cười rất tươi. “Các bạn có biết câu chuyện của Google không? Các bạn có muốn tôi kể cho các bạn nghe không?” - Page hỏi. “Có” - đám đông hô lớn.

Mồ hôi và nước mắt chiếm 99%

Đó là vào tháng 9-2003, hàng trăm sinh viên và cán bộ giảng dạy ở một trường cấp III Israel đã tham dự để được nghe những bộ óc toán học siêu việt, những nhà phát minh trẻ tuổi nói chuyện.

Rất nhiều người trong số họ giống Brin, vì họ cũng xa rời gia đình mình ở Nga để tìm tới nước Mỹ. Và họ thấy ở Page lòng nhiệt tình từ khi Page tham gia bộ đôi tạo nên công cụ thông tin mạnh mẽ và dễ sử dụng nhất trong thời đại của họ - một công cụ thay đổi như chớp đã lan truyền trên khắp thế giới. Giống như bọn trẻ chơi bóng rổ và mơ ước trở thành một Michael Jordan, những sinh viên này muốn giống như Sergey Brin và Larry Page một ngày nào đó.

Page mở đầu: “Google được thành lập khi Brin và tôi đang làm tiến sĩ về tin học tại Trường đại học Stanford. Chúng tôi cũng không rõ chính xác mình muốn làm gì. Tôi có mỗi một ý tưởng điên rồ là tải tất cả những gì có trên mạng xuống máy tính của mình. Tôi nói với thầy hướng dẫn của mình rằng việc này chỉ mất một tuần. Tôi đã tải xuống được một phần những gì có trên mạng mất khoảng một năm gì đó”. Tất cả sinh viên đều cười lớn. Page tiếp tục: “Có một thành ngữ tôi học được hồi đại học, đó là hãy quan tâm tới điều không thể. Đó là một thành ngữ hay. Bạn nên thử làm những gì mà hầu hết mọi người chưa nghĩ tới”.

Trong lịch sử phát minh và tư bản dày cộp của nước Mỹ, chưa có ai thành công nhanh chóng như họ. Thomas Edison phải mất nửa thế kỷ để phát minh ra bóng đèn; Alexander Graham Bell phải tốn rất nhiều năm để phát minh và cải tiến chiếc điện thoại; phải sau hàng chục thập kỷ làm việc miệt mài chăm chỉ, Henry Ford mới tạo ra được dây chuyền lắp ráp hiện đại và biến nó thành nền công nghiệp đại sản xuất và tiêu dùng ôtô; còn Thomas Watson “con” đã phải làm việc rất vất vả nhiều năm cho tới khi IBM cho xuất xưởng chiếc máy tính hiện đại. Nhưng Brin và Page, chỉ trong sáu năm, đã nhận dự án nghiên cứu tốt nghiệp và biến nó trở thành một doanh nghiệp toàn cầu trị giá hàng tỉ USD.

Page tiếp tục kể lại những ngày tháng vinh quang của hai người: “Khi chúng tôi mới gặp nhau, ai cũng nghĩ người kia thật khó chịu. Nhưng sau này chúng tôi vượt qua điều đó và trở thành đôi bạn tốt. Đó là khoảng thời gian cách đây tám năm. Rồi chúng tôi thật sự bắt tay vào làm việc”. Anh nhấn mạnh điểm quan trọng này: dù có ý tưởng nhưng mồ hôi và nước mắt chiếm 99%. Page nói: “Đây là bài học quí giá đối với chúng tôi. Chúng tôi đã làm việc không kể đến ngày nghỉ, quên cả sáng tối. Chúng tôi đã phải làm việc vất vả và nỗ lực rất nhiều”.

Page còn muốn truyền đạt những điều hơn thế: cảm hứng. Page cho biết: “Tôi lớn lên mà không có Internet, hay hình thức hiện tại của nó và mạng toàn cầu. Ngày nay, thế giới đã thay đổi nhiều bởi các bạn đều có điều kiện để thu thập thông tin dù ở bất kỳ chủ đề nào trên thế giới. Và điều này cực kỳ khác biệt so với thời tôi còn đi học”. Brin góp thêm: “Các bạn có rất nhiều thế mạnh mà thế hệ chúng tôi không có. Những điều này sẽ giúp các bạn thành công sớm hơn trong cuộc sống so với chúng tôi”.

Sự nghiệp chỉ mới bắt đầu
Brin và Page kết thúc câu chuyện của họ và ra hiệu cho đám đông sinh viên giờ là lúc đặt câu hỏi. “Các anh có nghĩ Google đã đánh dấu sự nghiệp của các anh không?” - câu hỏi đầu tiên được đặt ra cho Brin và Page. Brin trả lời: “Tôi nghĩ đó là thành tựu nhỏ nhất trên chặng đường chúng tôi hi vọng đạt được trong 20 năm tới. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng nếu Google là thứ duy nhất chúng tôi tạo ra được thì tôi cũng không lấy làm thất vọng lắm”. Page lại nghĩ khác: “Tôi thì lại rất thất vọng bởi sự nghiệp của chúng tôi vừa chỉ mới bắt đầu”.

Brin giải thích: “Chúng tôi điều hành Google hơi giống điều hành một trường đại học. Chúng tôi có rất nhiều dự án, khoảng hơn 100 cái. Chúng tôi làm rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Cách duy nhất dẫn bạn tới thành công là đầu tiên hãy hứng chịu thất bại”. Đám đông sinh viên vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt. Ý tưởng cuối cùng sẽ thành công sau khi nếm mùi thất bại và tinh thần không sợ thất bại, ngay lập tức được sinh viên ủng hộ.

Một sinh viên khác lại hỏi về những dự án mới của Google. Brin nói theo kiểu đùa: “Chúng tôi thấy ngượng khi nói về những dự án mới của chúng tôi. Có một người Israel. Yossi (Vardi, người phát minh tin nhắn nhanh) có một người bạn sản xuất quần lót, quần lót của Hãng Calvin Klein.

Do đó chúng tôi đang thử xem liệu chúng tôi có thể hợp tác để làm ra chiếc quần lót hiệu Google không”. Anh hỏi: “Nếu Google sản xuất quần lót, ai sẽ mua nó?”. Các cánh tay giơ lên. Brin tiếp thêm: “Đó là một trong những dự án ít liên quan tới vấn đề kỹ thuật nhất mà chúng tôi đang thực hiện”.

Từ đây nảy sinh ngay một câu hỏi khác: Vậy Google kiếm tiền từ đâu? Page trả lời: “Mỗi kết quả tìm kiếm, dù ít hay nhiều, đều phải trả tiền cho Google, chủ yếu là thông qua quảng cáo. Người ta trả tiền cho quảng cáo. Chúng tôi rất may mắn là đã chọn làm kiểu liên quan tới quảng cáo thay vì cho chạy banner quảng cáo. Điều này giúp chúng tôi có được công cụ tìm kiếm tốt nhất. Chúng tôi kiếm lợi nhuận do các công ty khác trả tiền, ví dụ như AOL, do sử dụng công cụ tìm kiếm của chúng tôi”.

Một sinh viên khác hỏi về sự cạnh tranh của Google. Page trả lời: “Bắt đầu, Google phải cạnh tranh với Excite, Alta Vista và các trang web khác. Những trang web này không chỉ tập trung mỗi vào công cụ tìm kiếm, do đó chúng tôi không bị nảy sinh nhiều vấn đề như họ. Ngày nay, chúng tôi phải đương đầu với nhiều cạnh tranh và thử thách hơn.

Chúng tôi có hơn 1.000 nhân viên làm việc tại Google. Chúng tôi đang chuẩn bị mở văn phòng trên toàn thế giới. Đó là một phần lý do tại sao chúng tôi đi vòng quanh thế giới. Đây quả là một thử thách thật sự đối với chúng tôi. Việc khó khăn nhất là chúng tôi có thể đạt được điều này trong dài hạn, trở thành một công ty có tuổi đời 10-20 năm, hoặc chúng tôi sẽ bị thôn tính”.

Page nói tiếp: “Phát minh ra thứ gì đó và có một ý tưởng lớn là một khối lượng công việc lớn. Nhưng đó chưa đủ. Bạn phải để cả thế giới biết đến nó. Tại Google, chúng tôi kết hợp các khả năng khoa học, toán học, tin học và cả kỹ năng làm cho nhân viên hăng say làm việc”.

Năm đó, Page và Brin chỉ mới 30 tuổi!

2) Công ty Google
TT - Larry Page gặp Sergey Brin vào mùa xuân năm 1995. Dù trẻ hơn Page vài tháng tuổi nhưng Brin đã học ở Trường đại học Stanford được hai năm. Brin tốt nghiệp đại học ở tuổi 19, xuất sắc vượt qua mười bài thi bắt buộc để theo học bậc tiến sĩ tại Trường đại học Stanford ngay lần thi đầu tiên, và dễ dàng tham gia nhóm nghiên cứu cùng các giáo sư.

Page gặp Brin

Cả Larry Page lẫn Sergey Brin đều sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học và trí thức, đặc biệt là các lĩnh vực về tin học, toán học và tương lai học. Page sinh ngày 26-3-1973 tại Mỹ, mẹ của Page là người Do Thái, còn bố anh sùng bái công nghệ. Brin sinh ngày 21-8-1973, cùng cha mẹ rời Liên Xô khi cậu mới 6 tuổi.

Cha mẹ của Brin cũng là những người giàu kiến thức về khoa học và công nghệ. Mẹ anh là một nhà khoa học đầy thành tựu tại Trung tâm vũ trụ Goddard thuộc NASA. Page và Brin tập trung vào việc theo đuổi tấm bằng tiến sĩ chứ không phải để làm giàu. Trong gia đình họ, không gì danh giá hơn là học vấn cao. Ngoài việc tự hào về con đường trí thức mà cha mẹ họ theo đuổi, cả hai đều mong muốn trở thành tiến sĩ của Trường Stanford một ngày nào đó. Cả hai không mảy may suy nghĩ rằng rồi đây con đường học vấn mà họ đã chọn sẽ bị thử thách.

Tháng 1-1996, Page và Brin cùng các sinh viên và cán bộ giảng dạy khoa tin học Trường Stanford chuyển đến một nơi mới: một tòa nhà đẹp bốn tầng ốp đá màu be có khắc dòng chữ Khoa tin học William Gates. Chủ tịch Hãng Microsoft - Bill Gates - đã đóng góp 6 triệu USD để xây dựng tòa nhà, với số tiền đó Bill Gates có quyền đặt tên cho tòa nhà. Page ở phòng Gates 360 cùng với bốn sinh viên khác. Brin được phân sang một văn phòng khác, nhưng anh vẫn dành nhiều thời gian làm việc với Page ở phòng Gates 360.

Phòng Gates 360 trông giống như một khu rừng nhỏ, với các cây thân leo vắt vẻo trên trần nhà. Trong một góc phòng, dưới gầm bàn của Page, họ xếp mô hình một chiếc máy tính từ các mảnh ghép Lego. Cả hai đều không bao giờ nghĩ rằng đến một ngày họ sẽ cạnh tranh với người khổng lồ Bill Gates.

Một trong những chủ đề Page thích bàn luận lúc đó là phát minh các hệ thống khai thác dữ liệu ưu việt hơn. Họ thành lập một đội nghiên cứu mới mang tên MIDAS, viết tắt của cụm từ Mining Data at Stanford (khai thác dữ liệu Trường Stanford). Trong truyền thuyết Hi Lạp, Midas là vị vua có khả năng kỳ diệu: chạm vào cái gì, cái đó biến thành vàng.

Trong khi khai thác dữ liệu, họ làm thí nghiệm sắp xếp sao cho tiện lợi thông tin trên mạng Internet đang phát triển mạnh mẽ nhưng tổ chức lộn xộn. Vào giữa những năm 1990, hàng triệu người truy cập và bắt đầu giao tiếp qua thư điện tử, nhưng các nhà nghiên cứu nghiêm túc bắt đầu bực mình giữa một “rừng” trang web. Trong khi đó, các sinh viên bậc tiến sĩ Trường Stanford, Jerry Yang và David Filo, đã tìm kiếm theo phương pháp khác. Không chỉ dựa vào mỗi công nghệ, họ thuê một đội ngũ biên tập viên ngồi lựa chọn các trang web theo thứ tự bảng chữ cái. Họ đặt tên cho công ty của mình là Yahoo!.

Mặc dù phương pháp của họ đã đơn giản hóa chỉ tìm kiếm những thông tin giá trị, nhưng nó vẫn chưa toàn diện và không theo kịp được sự phát triển như vũ bão của các trang web. Brin cũng đã từng thử các công cụ và danh bạ tìm kiếm khác nhưng chẳng có trang web nào tối ưu cả. Brin ngày càng tin rằng phải có một cách khác tốt hơn để tìm kiếm thông tin trên mạng. Cùng lúc đó, Page - một người đầy tham vọng - muốn tải toàn bộ các trang web toàn cầu xuống máy tính của mình.

Tấm séc 100.000 USD

Trong khi Larry Page và Sergey Brin xem công cụ tìm kiếm này là một phần đặc biệt và quan trọng nhất đối với những người truy cập mạng Internet tìm kiếm thông tin, những người khác lại chỉ coi đó là phần phụ, đơn giản chỉ là một trong số những công cụ thêm vào làm phong phú phần dịch vụ trên trang web hơn.

Nhưng bộ đôi này không đầu hàng. Một giảng viên Trường Stanford nhận xét: “Quan điểm của họ về những người có quyền lực hơi bi quan. Nếu thấy thế giới đang đi theo một hướng thì họ tin rằng phải có con đường khác và tin rằng “Cả thế giới đang lầm đường lạc lối” hơn là “Chúng ta nên xem xét lại mình”. Họ rất tự tin vào cách thức của mình và cho rằng mọi người đều sai lầm”.

Nghe qua ý tưởng của Page có vẻ ngớ ngẩn hơn là táo bạo. Thậm chí anh còn tuyên bố việc tải toàn bộ trang web xuống khá dễ dàng và nhanh chóng. Tuy nhiên, Page rất nghiêm túc và bắt tay vào nhiệm vụ thực hiện ý tưởng của mình. Brin và Page tin rằng đã tìm thấy đề tài cho luận án tiến sĩ của họ.

Đầu năm 1997, Page đã tạo ra công cụ tìm kiếm cơ bản, anh đặt tên công cụ này là BackRub bởi nó liên quan các đường dẫn tới các trang web, giúp người sử dụng sắp xếp kết quả tìm kiếm được theo một trật tự logic. Lần đầu tiên có một cách tìm kiếm trên Internet đạt kết quả hữu ích nhanh chóng.

Mùa thu năm 1997, Brin và Page quyết định BackRub cần thay một cái tên khác. Page thấy đặt một cái tên bắt mắt mà chưa ai từng đặt thật khó khăn. Do đó, anh hỏi cậu bạn cùng phòng nghiên cứu Sean Anderson giúp mình.

Anderson nhớ lại: “Tôi viết những ý tưởng của mình lên bảng nhưng anh ấy đều không thích. Mất mấy ngày liền như vậy, anh ấy bắt đầu chán nản và chúng tôi lại cùng nhau suy nghĩ tiếp. Tôi ngồi cạnh chiếc bảng và một trong số những ý tưởng cuối cùng là: sao không là Googleplex nhỉ? Tôi gợi ý: Các cậu định lập một công ty chuyên tìm kiếm và tra cứu, giúp con người tổ chức cả núi dữ liệu. Googleplex có nghĩa là một con số khổng lồ. Anh ấy đã thích cái tên này. Anh ấy nói: Vậy sao ta không thử là Google? Anh ấy muốn ngắn gọn hơn. Tôi gõ G-o-o-g-l-e, đánh vần sai từ này và chưa ai đăng ký cái tên này. Page thấy hay, sau đó anh đăng ký cái tên này ngay tối hôm đó và viết lên bảng Google.com. Sáng hôm sau tôi tới văn phòng, Tamara đã viết thêm lên đó: Cậu đánh vần sai rồi. Nó phải là Googol. Tất nhiên, mọi chuyện đã an bài”.

Năm 1997, công cụ tìm kiếm này chỉ được phổ biến rộng rãi khắp Stanford, mọi người đều truyền miệng nhau về Google. Do cơ sở dữ liệu và lượng người sử dụng tăng lên, Brin và Page cần thêm nhiều máy tính. Thiếu tiền, họ tiết kiệm bằng cách mua các linh kiện và tự lắp ráp lấy, rồi họ còn ra cảng dỡ hàng, “mượn tạm” những chiếc máy tính vô chủ. Các thầy hướng dẫn, những người biết họ đang rất thiếu thốn, đã tặng họ số tiền 10.000 USD từ Dự án thư viện điện tử Stanford. Sau khi thu thập nhiều máy tính tới nỗi chật kín văn phòng Gates 360, họ biến phòng ngủ của Page thành trung tâm dữ liệu.

Vào một ngày nắng cuối tháng 8-1998 ở California, Page và Brin ngồi dưới mái hiên một ngôi nhà ở Palo Alto háo hức đợi “thiên thần của Thung lũng Silicon” là Andy Bechtolsheim, một nhà đầu tư nổi tiếng. Sau khi Page và Brin trình bày bản thử nghiệm và nói chuyện, Bechtolsheim đánh giá cao và hiểu được bước đột phá mà nhờ đó Google có thể đem lại kết quả tìm kiếm tuyệt vời. Ngay lập tức, ông đề nghị đưa cho họ một tấm séc để mua máy tính và ông có thể tiếp tục bàn bạc thêm với họ trong lần gặp gỡ sau. Không đàm phán gì thêm, Bechtolsheim viết một tấm séc đề 100.000 USD cho “công ty Google”. Bechtolsheim phóng chiếc Porsche đi sáng hôm đó mà không hề biết được tầm quan trọng lớn lao ông vừa làm. Ông tâm sự sau đó: “Trong suy nghĩ của tôi, họ sẽ có được hàng triệu người sử dụng Google và họ sẽ hái ra tiền”.

Khi Brin và Page rời Trường đại học Stanford mùa thu năm 1998, theo đuổi việc xây dựng công cụ tìm kiếm tốt nhất thế giới, họ dời máy tính, thiết bị máy móc và đồ chơi của mình sang gara ôtô và một số phòng trong một ngôi nhà có bồn tắm nóng ở gần Menlo Park. Brin và Page có thể thuê diện tích đó với giá 1.500 USD/tháng nhưng họ đã chọn việc trả 1.700 USD/tháng để không cần phải trả thêm các khoản phí lẫn thuế nào nữa và mọi việc xuôi chèo mát mái ngay từ đầu. Ngày 7-9-1998, họ chính thức thành lập Công ty Google. Sau đó, họ mở tài khoản ngân hàng đầu tiên và gửi tấm séc trị giá 100.000 USD của Bechtolsheim vào đó. Họ thuê Craig Silverstein, bạn đồng môn theo học tiến sĩ tại Trường Stanford, làm nhân viên đầu tiên của họ.


3) Chinh phục thị trường
TT - Có những thời điểm tưởng chừng Google không thể theo kịp với nhu cầu, đó là khi Sergey Brin và Larry Page đã tiêu hết khoản tiền 1 triệu USD đầu tư ban đầu. Chỉ sau năm tháng, gara ôtô đã không đủ chỗ cho máy móc của Brin và Page. Do đó, đầu năm 1999, họ dời văn phòng của mình tới University Avenue ở Palo Alto, chỉ cách Trường Stanford khoảng một dặm.

Chiếc áo đã quá chật

Ngay sau khi chuyển tới văn phòng mới tại Palo Alto, Google đã có tám nhân viên luôn vất vả để theo kịp sự gia tăng yêu cầu tìm kiếm mỗi ngày. Năm tháng trôi qua, số lượng tìm kiếm mỗi ngày lên tới hơn 500.000 lượt, được tạp chí PC Magazine xếp hạng top 100 trang web và công cụ tìm kiếm hàng đầu trong năm 1998. Chiếc áo đã quá chật, rõ ràng là Brin và Page cần có thêm tiền mua máy tính thêm vào hệ thống, song cả hai anh chàng này đều không muốn mất quyền kiểm soát công ty của mình.

Trong môi trường phát triển mạnh mẽ của thung lũng Silicon đầu năm 1999, thu hút vốn thông qua việc niêm yết giá trên thị trường chứng khoán là một cách dễ dàng đối với Google mặc dù công ty này không tạo ra lợi nhuận. Song nếu niêm yết trên thị trường, Brin và Page không muốn tiết lộ những bí mật kinh doanh và phương pháp riêng của mình, thu hút thêm những nhà đầu tư hảo tâm thì không còn khả thi nữa bởi số tiền họ cần bây giờ rất lớn. Họ bắt đầu cấp phép cho các công ty muốn sử dụng công nghệ tìm kiếm vào mạng lưới nội bộ hay ngoại mạng của họ. Họ cảm thấy khó khăn khi thuyết phục mọi người trả tiền cho dịch vụ tìm kiếm khi mọi người đều cho rằng việc tìm kiếm đó không quan trọng. Cái họ cần là nguồn tiền từ bên ngoài. “Bất cứ tình huống nào cũng có giải pháp” - họ nói.

Page và Brin phải học hỏi tìm cách giải quyết bài toán tài chính. Họ quyết định thu hút tiền đầu tư thông qua một công ty tài chính mà không làm mất quyền kiểm soát công ty. Nhờ có những lời khuyên của nhà đầu tư ban đầu am hiểu về công nghệ như Jeff Bezos, giám đốc Amazon.com, Brin và Page đã quyết định hợp tác với hai trong số những công ty đầu tư tài chính tên tuổi và uy tín bậc nhất tại thung lũng Silicon: Kleiner Perkins và Sequoia Capital.

Trong kỷ nguyên các công ty trên mạng bùng nổ, cả John Doerr - giám đốc Kleiner Perkins và Michael Moritz - giám đốc Sequoia Capital đều mệt mỏi mỗi lần ngồi nghe các bài thuyết trình dài dòng bằng PowerPoint về những ý tưởng kinh doanh mới. Đối với hai công ty đầu tư khổng lồ trong lĩnh vực tài chính ở thung lũng Silicon này, Brin và Page như một luồng không khí mới. Moritz và Công ty tài chính Sequoia Capital của ông đã đầu tư vào Yahoo 2 triệu USD và gặt lại 32 triệu USD từ việc tung ra IPO của Yahoo năm 1996.

Năm 1999, Google bắt đầu thiếu tiền đầu tư, một trong số các nhà đầu tư tốt bụng, một giám đốc tài chính tại thung lũng Silicon tên là Ron Conway đã liên hệ với Moritz và nhờ ông này sắp xếp cuộc hẹn gặp với Brin và Page. Moritz nói: “Ron Conway nhắc lại tôi mới nhớ ra họ. Tôi cũng từng biết tới họ qua những người ở Yahoo. Hồi đó là mùa xuân năm 1999, do đó mọi thứ được chuẩn bị rất nhanh chóng. Vào thời điểm đó, mọi thứ thật gấp gáp”.

Không thể bị “ăn tươi nuốt sống”
Ngày tháng trôi qua, hai chàng trai này nhận ra tại sao các nhà đầu tư mạo hiểm được đặt biệt danh các nhà đầu tư “ăn tươi nuốt sống”, và họ cho rằng tốt hơn cả là không dính líu gì tới cả hai nhà đầu tư này. Brin và Page hỏi Conway liệu có thể sắp xếp một nhóm các nhà đầu tư hảo tâm thay thế hai nhà đầu tư này. Thu hút được một nhóm các nhà đầu tư thụ động đồng nghĩa với Brin và Page sẽ vẫn nắm được quyền kiểm soát công ty. Họ kể cho Conway biết đó là kế hoạch họ định làm, thêm vào đó thời gian cũng là một nhân tố quan trọng bởi họ đang dần hết tiền đầu tư.

Tuy nhiên, thay vì liên hệ với các nhà đầu tư hảo tâm, Conway quyết định nói với Moritz và Doerr rằng nếu họ không tìm ra cách nào để bắt tay hợp tác, các chàng trai Google sẽ tự làm lấy và họ rất nghiêm túc trong việc này.

Mặc dù tại thời điểm đó, cả hai công ty Kleiner Perkins và Sequoia đều dừng đầu tư ở một loạt doanh nghiệp để đầu tư vào các công ty hoạt động trên mạng mới thành lập, hồi chuông vang lên trong đầu họ: có cái gì đó cực kỳ tiềm năng ẩn ở bộ đôi này. Chỉ vài ngày, Conway và Shriram đã thuyết phục được họ. Kleiner Perkins và Sequoia Capital, mỗi bên sẽ đầu tư 12,5 triệu USD vào Google, tổng cộng số tiền đầu tư là 25 triệu và mỗi bên góp một nửa, và đều tán thành với yêu cầu của Brin và Page rằng họ vẫn được quyền kiểm soát chính. Tuy nhiên, bởi họ đầu tư một khoản rất lớn vào Google như vậy, Doerr và Moritz đã thêm một điều kiện để được sử dụng số tiền đầu tư đó: họ phải cam kết sẽ thuê một nhà quản lý có kinh nghiệm để giúp họ biến công cụ tìm kiếm này thành một bộ máy kiếm tiền thực thụ.

Đây là một đòi hỏi rất hợp lý bởi thực tế Công ty Google lúc đó chưa có một kế hoạch kinh doanh gì cụ thể. Do đó, Brin và Page sẵn lòng đồng ý, với điều kiện họ có được số tiền 25 triệu USD để đầu tư và có quyền kiểm soát công ty, họ sẽ nhất trí và tạo điều kiện để thuê một ai đó làm giám đốc điều hành để công việc kinh doanh trôi chảy. Nhưng có điều là: họ không có ý định thuê ai đó để rồi họ lại phải báo cáo công việc với người đó.

Ngày 7-6-1999, chưa đầy một năm sau khi họ rời khỏi Stanford, Brin và Page đưa ra thông cáo báo chí, thông báo hai công ty tài chính Kleiner Perkins và Sequoia Capital đã đồng ý đầu tư 25 triệu USD vào Google, Doerr và Moritz cùng tham gia hội đồng quản trị của Google. Hai chàng trai này, những người luôn tự tin hơn những sinh viên cùng lớp, đã có được một số tiền khổng lồ mà dường như không mất gì đổi lại. Điều đó chứng tỏ hai chàng trai Google đã có một vụ làm ăn lý tưởng: họ có được tiền để xây dựng công cụ tìm kiếm họ đam mê, vừa giữ được quyền kiểm soát công ty.

Mùa thu năm 1999, Google bắt đầu sắm sửa thêm thiết bị, Google đã mở rộng từ 300 chiếc máy tính lên thành 2.000 chiếc chỉ sau một tháng, và vào mùa hè năm sau con số đó đã tăng lên gấp đôi. Google có hai trung tâm dữ liệu ở phía bắc California và một trung tâm thứ ba ở khu Washington DC, sau đó mở thêm rất nhiều trung tâm nữa trên toàn nước Mỹ và ra cả thế giới.

Năm 2000, Google đã chuyển trụ sở chính đến Mountain View. Bên trong Google, không khí làm việc đối lập hẳn với cái không khí hỗn độn ở bên ngoài. Nó thật đặc biệt, đúng theo những gì phòng cấp chứng chỉ công nghệ Trường đại học Stanford, nơi đã cấp giấy phép tìm kiếm cho Google, đã miêu tả: đó là cảm hứng làm việc say mê của các lập trình viên.

85 nhân công đang làm việc cho giám đốc điều hành Larry Page và chủ tịch hội đồng quản trị Sergey Brin của Google thường làm việc hơn 8 giờ/ngày, họ đối xử như những người trong một gia đình.

Các nhân viên Google có thể được làm một số việc khác thuận tiện ngay tại công ty như giặt đồ, cắt tóc, chăm sóc sức khỏe và nha khoa, sau nữa là các hoạt động chăm sóc hằng ngày như thể dục thể hình với huấn luyện viên riêng, đội ngũ mátxa chuyên nghiệp - những dịch vụ dường như không thể tưởng tượng lại có ở văn phòng làm việc...
Tất cả những thứ đó thúc đẩy sự sáng tạo trong công việc, tạo nên một môi trường làm việc thoải mái và vui vẻ cho nhân viên Google, dù họ làm việc với thời lượng rất cao.

Tháng 6-2000, Google thực hiện một bước tiến to lớn hướng tới việc được công nhận trên toàn cầu bằng việc ký kết thỏa thuận với Yahoo, sau đó liên kết với AOL. Họ đã “chộp được những khách hàng béo bở”, chỉ còn mỗi Microsoft.

4) Bắt tay "ông lớn"
TT - Thị trường chứng khoán của các nhà cung cấp Internet sụt giảm nghiêm trọng vào năm 2000. Làm ăn thua lỗ, phá sản xảy ra khắp nơi tại Thung lũng Silicon nhưng không xảy ra với Google. Đây là thời cơ “không thể tốt hơn” đối với sự phát triển lớn mạnh, vững chắc của Google. Các kỹ sư phần mềm và các nhà toán học tên tuổi, những người chợt nhận ra mình đã bị thất nghiệp hoặc đang nắm giữ một đống cổ phiếu như một mớ giấy lộn, cơ hội có một không hai của họ là cống hiến và gắn bó với Google.

"Đừng là quỉ dữ"


Khi đang trên đà phát triển, đối thủ cạnh tranh chính của Google lúc đó là Mircrosoft gặp phải những trở ngại lớn. Tháng 6-2000, Microsoft đã mở màn một vụ kiện lớn gây nhiều tranh cãi. Trong suốt vụ kiện, Bill Gates - ông chủ Microsoft, đồng thời cũng là bên khởi kiện - bị nhiều người mô tả như kẻ đi bắt nạt hay một tên độc quyền.

Đến cuối vụ kiện, khi thẩm phán Tòa án tối cao liên bang Thomas Penfield Jackson tuyên bố những ràng buộc của trình duyệt Internet Explorer trong hệ điều hành Windows vi phạm luật chống độc quyền, Microsoft đã cay đắng chịu mất một khoản tiền hàng triệu USD. Một lần nữa, Google lại hưởng lợi từ sự kiện và thời điểm.

Nhiều kỹ sư từng làm việc với Microsoft dần nhận ra rằng nó như một lãnh chúa trong lĩnh vực phần mềm, ngược lại Google cho thấy mình là một doanh nghiệp tươi mới cùng với vầng hào quang chiếu rọi xung quanh, giương cao khẩu hiệu “Đừng là quỉ dữ” và tự hào với hai sáng lập viên trẻ tuổi nổi danh là hai gã đẹp trai.

Sự yêu mến ngày càng tăng của người sử dụng đối với Google đã tạo động lực để Google tiến xa hơn. Công ty này được đánh giá là công ty hàng đầu trong lĩnh vực tìm kiếm trên Internet với 99% người sử dụng xác nhận tính ưu việt hơn hẳn so với đối thủ. Google cũng rất chú ý đến thị trường các trường đại học, cung cấp cho họ logo sặc sỡ quen thuộc và hộp tìm kiếm trên trang web của họ, nuôi dưỡng nhân tài mới từ những sinh viên có kết quả học tập tốt.

Tạp chí The New Yorker số ra tháng 5-2000 đã miêu tả Google như một “công cụ tìm kiếm dành cho số đông”. Cũng trong tháng này, tờ Time Digital đã tán dương Google khi nói rằng “Google sắc bén như tia laser, còn các đối thủ cạnh tranh chỉ như một lưỡi gươm cùn”.

Khi các công ty công nghệ khác tại Thung lũng Silicon đang chuẩn bị đóng cửa, Sergey Brin và Larry Page giăng khẩu hiệu xuống đường: “Đừng vội nản chí. Google sẽ sớm đến với người Pháp, người Đức, người Ý, người Thụy Điển, người Phần Lan, người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, người Na Uy và người Đan Mạch”.

Google đã dịch trang chủ ra một số thứ tiếng khác nhằm đẩy mạnh quá trình quốc tế hóa của mình bằng những tính năng thuận tiện hơn. Google cũng bắt đầu giới thiệu tính năng tìm kiếm không dây, nhờ đó người sử dụng có thể dùng dịch vụ của Google bằng điện thoại di động.

Sau đó, thay vì ngồi đợi người sử dụng tự tìm đến với Google.com, công ty chủ động bắt tay vào đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và quảng bá thương hiệu của mình. Trong chương trình mới của Google, các trang web tin tức, mua bán và các trang web khác có thể đăng ký để đặt một hộp tìm kiếm của Google trên trang chủ của mình, việc này vừa cung cấp cho khách hàng khả năng sử dụng Google vừa kiếm tiền từ những dịch vụ trung gian.

Thỏa thuận Yahoo!, bắt tay AOL
Tháng 6-2000, Google thực hiện một bước tiến to lớn hướng tới việc được công nhận trên toàn cầu bằng việc ký kết thỏa thuận với Yahoo! cung cấp Internet mạnh song song với cung cấp những kết quả tìm kiếm phát sinh từ Google.

Thương vụ này đã mở rộng sự xuất hiện và hình ảnh của Google trên web, đưa nó đến với hàng triệu người sử dụng khác hằng ngày. Brin đánh giá việc thỏa thuận được với Yahoo! “là một dấu mốc lịch sử của Google và một minh chứng mạnh mẽ cho chiến lược kinh doanh của Google”. Vào đầu năm 2001, Google làm một điều gây kinh ngạc khác, đó là thực hiện 100 triệu phép tìm kiếm/ngày và 10.000 phép tìm kiếm/giây.Google cũng được đưa vào từ điển của Mỹ như một động từ.

Khi vụ khủng bố vào nước Mỹ xảy ra ngày 11-9-2001, lưu lượng tìm kiếm của Google đã bị quá tải. “Hàng loạt những trang tin tức quan trọng bị quá tải do dung lượng lưu chuyển quá lớn và không thể truyền tải được những thông tin nóng hổi - Brin và Page đã ghi nhận lại - Google đã làm hết sức để đáp ứng được nhu cầu bằng cách đưa ra phiên bản lưu trữ những câu chuyện tin tức trên trang chủ của Google và tiếp tục truyền tải đầy đủ những thông tin quan trọng trên toàn thế giới.

Trong những ngày thường hay trong các sự kiện đặc biệt như vậy, Google - với 66 ngôn ngữ khác nhau - dần được thêu dệt thành một kết cấu của nền văn hóa Mỹ, đồng thời là kết cấu của cộng đồng thế giới.

Những số liệu cuối năm cho thấy chiến lược kinh doanh của Page và Brin đang gặt hái thành công. Một công ty với tuổi đời chỉ có ba năm đã có một vị trí tốt hơn rất nhiều so với các công ty khác trong lĩnh vực Internet.

Việc không ngừng tập trung vào sáng tạo và phát triển văn hóa doanh nghiệp phù hợp đã tạo nên động lực cho việc đưa ra những sản phẩm mới và những lĩnh vực cho sự phát triển kinh doanh mũi nhọn. Lượng truy cập vẫn tăng lên không ngừng. Và những quảng cáo đã bắt đầu đem lại doanh thu, mặc dù mọi việc mới chỉ bắt đầu, Google nhận được khoản lợi nhuận hằng năm đầu tiên của mình từ quảng cáo khoảng 7 triệu USD.

Năm 2002, Google đạt được những đỉnh cao tài chính mới. Ngày 1-5, Công ty America Online (AOL) có tài sản web kết nối với 34 triệu thuê bao Internet đã nhận Google làm công cụ tìm kiếm tự chọn trên các trang web của mình.

Bắt đầu từ thời điểm này, trên tất cả trang web của những người sử dụng dịch vụ của AOL đều có một hộp tìm kiếm nhỏ với nội dung “Tìm kiếm bằng Google”. Qui mô của AOL đã mở rộng phạm vi của Google nhiều hơn bất cứ đối tác nào mà Google có thể hợp tác cùng trong suốt thời gian đó. Kết quả này cũng chính là một việc làm mang tính cạnh tranh vì Google đã đánh bại công ty đối thủ quảng cáo tìm kiếm là Overtune trước đây đã từng cung cấp quảng cáo cho AOL để hợp tác với AOL.

Việc Google liên kết với AOL một lần nữa làm AOL lại đối đầu với Microsoft. Trong nhiều năm, Microsoft thường đe dọa xóa bỏ dịch vụ của AOL bằng cách đầu tư nhiều tiền để quảng bá dịch vụ Internet có khả năng cạnh tranh của họ là MSN và bằng việc cung cấp thư điện tử miễn phí qua dịch vụ phụ là Hotmail.

Sau khi mua xong Công ty Netscape, AOL chỉ có thể bị xóa sổ khi Microsoft cung cấp dịch vụ trình duyệt Internet Explorer miễn phí cho người sử dụng Internet. AOL lúc này lại đệ đơn kiện Microsoft vì có những hành động không công bằng và không mang tính cạnh tranh gây thiệt hại cho AOL.

Về phần mình, Microsoft chọn Công ty Overtune để cung cấp các quảng cáo cho dịch vụ tìm kiếm của mình. Trong cuộc chiến khi công khai lúc kín đáo giữa Google và Microsoft, cả hai bên đều muốn nỗ lực hết mình để giành được tay trên, giành được lợi thế cạnh tranh.

Doanh thu bán hàng của Google đạt 440 triệu USD và có lợi nhuận 100 triệu USD năm 2002. Rõ ràng tất cả lợi nhuận Google có được là từ việc người ta bấm chuột vào các quảng cáo bằng văn bản xuất hiện phía bên phải trong các trang tìm kiếm ở địa chỉ Google.com và trong các trang của các đối tác, các chi nhánh. Họ rất kín đáo về những con số tài chính để giấu không cho người khác, đặc biệt là Microsoft và Yahoo!, biết việc tìm kiếm trực tuyến và dịch vụ quảng cáo đã đem lại cho họ lợi nhuận như thế nào. Michael Moritz, nhà ủng hộ tài chính và là thành viên trong hội đồng quản trị của Google, đã có thể an tâm vui sướng với khoản tiền 12 triệu USD đầu tư vào Google. “Lợi nhuận thường bắt đầu giống những giọt nước - Moritz nói - Nó như trận mưa rào. Bạn luôn dính một số hạt mưa trước khi cơn mưa rào đổ xuống như trút nước”.

Bộ đôi Brin và Page đã đến lúc có thêm một người mới để “vững như kiềng ba chân”, và nhân vật thứ ba xuất hiện bước vào Google làm giám đốc điều hành. Từ lúc đó, Google đã vươn vai mạnh hơn.
5) Nền kinh tế Google
TT - Hơn một năm sau kể từ khi John Doerr và Michael Moritz đầu tư 25 triệu USD vào Google, họ đều cho rằng Sergey Brin và Larry Page đã không giữ lời hứa tuyển dụng một giám đốc điều hành. Hai công ty tài chính có thể đòi trả lại họ tiền đầu tư, điều này có thể làm hỏng danh tiếng lẫn tài chính của Google.
Bộ đôi thành bộ ba

Nhiều nhà giáo dục vẫn chưa thống nhất với nhau về vấn đề giá trị của Google. Một số cho rằng Google làm học sinh lười biếng hơn vì Google là nguồn để cho học sinh, sinh viên sao chép tài liệu của người khác. Google gây cản trở việc học hành của sinh viên vì chỉ cần một cái bấm chuột các sinh viên có được tất cả những điều họ cần. Chính vì vậy nên họ không muốn tìm tòi suy nghĩ.

Tuy nhiên, nhiều người khác lại đánh giá cao lợi ích của Google. Nếu không có Google, nhiều người nói rằng giống như họ bị mất chân mất tay, mất thời gian nhiều, mất công sức không đáng có. Họ cho rằng Google cho phép người sử dụng có thể tìm kiếm được các tài liệu gốc và các bài phân tích bất cứ thời gian nào. Họ còn lập luận rằng Google làm giảm sự khác biệt về thân thế của sinh viên, học sinh dù là trường của họ to hay nhỏ, dù họ giàu hay nghèo, dù họ có được tiếp cận với thư viện lớn hay không. Họ ủng hộ mục đích tiếp cận thông tin bình đẳng cho tất cả mọi người.

Tháng 12-2000, Doerr tiến cử Eric Schmidt vào chức giám đốc điều hành (CEO). Trong khi Brin và Page đã cam kết sẽ tuyển một người họ thông qua làm giám đốc điều hành, Doerr bắt đầu cảm thấy ông không thể tìm ra ai đủ điều kiện thỏa mãn yêu cầu hai chàng trai này. Họ đã loại hết ứng viên này tới ứng viên khác.

Lý do là Brin và Page cho rằng họ vẫn là người nắm quyền kiểm soát Google, chứ không phải một giám đốc điều hành mới do Doerr chỉ định, được tuyển dụng từ bên ngoài và tạo sức ép cho họ. Họ cố làm cho các ứng viên do Doerr giới thiệu cảm thấy nhụt chí không muốn làm việc với hai bọn họ nữa. Nhưng với Schmidt thì khác. Ông có bằng tiến sĩ tin học tại Trường đại học California ở Berkeley, bằng thạc sĩ điện tại Trường đại học Princeton, đã thuyết phục được hai chàng trai trẻ.

Khi Google ngày càng phát triển, vai trò của Doerr trong việc khuyến khích Page và Brin tuyển dụng Schmidt ngày càng tỏ rõ. Hai chàng trai Google lĩnh hội những chỉ dẫn cần thiết để điều hành một công ty tư nhân phát triển theo phong cách chuyên nghiệp, trong khi vẫn giữ được tính sáng tạo và văn hóa công ty họ theo đuổi. Cuối cùng, Schmidt cũng đã đi đến thỏa thuận với Brin và Page vào tháng 1-2001 và hợp đồng được ký kết sau đó hai tháng. Họ đã chấp nhận một trật tự dị thường: cả ba người đều đứng đầu.

Một bộ ba hình thành được ví là “kiềng ba chân”. Và cũng kể từ đó, Google ghi tiếp những kỷ lục mới. Sau khi mở thêm chức năng tìm ảnh, ngày 1-4-2004 bộ ba Google tung ra một tin “nổ bom tấn” làm mọi người tưởng là chuyện cá tháng tư nhưng hóa ra lại là sự thật: hệ thống thư điện tử Gmail.

Dung lượng lưu trữ của Gmail lớn hơn gấp 500 lần dung lượng dự trữ miễn phí của Microsoft và gấp 250 lần dung lượng miễn phí của Yahoo. Dung lượng 1 gigabyte là cực lớn nên Google thông báo cho người sử dụng dịch vụ Gmail biết rằng họ sẽ không bao giờ phải xóa bỏ các thư điện tử cũ. “Bom tấn” với dịch vụ thư điện tử Gmail có dung lượng cực lớn khiến các “ông lớn” về email như Yahoo và Microsoft sau đó phải chạy theo cung cấp email dung lượng lớn miễn phí cho người dùng.

Sau đó, Google tiếp tục đưa ra “món” Tin tức Google và Google Alerts - dịch vụ thông báo tin tức tự động cho người tìm kiếm các chủ đề quan tâm cụ thể thông qua thư điện tử. Có hàng triệu người đăng ký sử dụng dịch vụ thông báo vì dịch vụ này đã đem lại lợi ích cho những người quan tâm tới một công ty, tổ chức, cá nhân hay chủ đề tin tức nào đó.

Khi đưa dịch vụ quảng cáo và tìm kiếm của mình lên các trang web của tờ New York Times, trang Amazon.com và các trang đông người truy cập khác thì nền kinh tế Google đã tạo được đà phát triển mạnh mẽ với việc mở rộng các trang web để đăng quảng cáo, tăng thêm những công ty muốn đấu thầu những khu vực quảng cáo đó và làm tăng số tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để được quảng cáo. Nền kinh tế Google cũng có tác dụng tự thúc đẩy phát triển: càng có nhiều người sử dụng máy tính bấm chuột vào các quảng cáo của Google thì các chủ của các trang web càng kiếm được thêm nhiều tiền. Họ càng kiếm được nhiều tiền thì các website khác lại càng muốn đưa dịch vụ tìm kiếm Google và công nghệ quảng cáo vào các trang quảng cáo của họ. Mạng lưới càng phát triển mạnh thì Google càng khó bị các đối thủ khác đánh bại.

Google toàn cầu
Đến năm 2003, có hàng chục triệu người hằng ngày thường tìm kiếm thông tin trên Google bằng ngôn ngữ bản xứ của họ. Họ có thể lựa chọn trong danh sách có tới gần 100 ngôn ngữ. Họ tìm kiếm trên Google mọi thứ từ các thành phần cần thiết cơ bản cho một món ăn đến việc mua bán nhà cửa, giáo dục, giải trí và tất nhiên là cả tình dục.

Trên khắp thế giới, từ những nhà kinh doanh cho tới các nhà đầu tư và các luật sư của họ đều sẽ nghĩ rằng họ thật khờ khạo nếu như làm ăn với một đối tác nào đó mà không tìm hiểu về đối tác thông qua Google. Các tác giả viết sách đều tìm thông tin và các nguồn tài liệu nhanh chóng bằng cách sử dụng Google. Các quan chức cấp cao trong chính phủ sử dụng Google để tự mình tìm các tài liệu mà không cần đến người phụ giúp.

Khi nhà khoa học gặp phải một vấn đề khó khăn nào đó trong việc xác định loại gen thì họ nhờ đến sự trợ giúp của Google để tìm hiểu mã gen và để khám phá những mối liên hệ mà họ không biết. Thanh thiếu niên có thể tìm các lời bài hát ưa thích đơn giản nhất thông qua Google... Theo tạp chí Wired, trong số những người giàu và người nổi tiếng đã xuất hiện một lớp người đặc biệt thường xuyên sử dụng Google. Họ được gọi là “các chuyên gia sử dụng Google”. Họ có thể tìm thông tin về chính bản thân họ hoặc là cập nhật tin tức và họ cũng có những cách thức tìm kiếm rất thú vị để giúp họ làm việc và thư giãn.

Không một thương hiệu nào được toàn thế giới biết đến nhanh hơn Google. Tên của Google trở thành từ vựng thường dùng không chỉ bằng tiếng Anh mà còn xuất hiện trong cả các thứ tiếng khác, ví dụ: tiếng Đức có “googelte”, Phần Lan có “googlata” và Nhật Bản là “guguru”. Thời kỳ hoàng kim của máy bay phản lực xuất hiện từ những năm 1960, cùng với sự phát triển mạnh của điện thoại quốc tế giá rẻ trong mấy năm gần đây giờ đã phải nhường chỗ cho Google cùng các công cụ tìm kiếm khác. Sự xuất hiện của Google cùng các công cụ tìm kiếm sẽ xóa bỏ được khoảng cách địa lý vốn là rào cản đối với vấn đề giao tiếp và giao thương. Từ ở gia đình hay văn phòng, người ta có thể giao tiếp với những người hoàn toàn xa lạ ở bên kia bán cầu và truy cập thông tin qua Google để biết về đời tư, hình dáng của họ qua công cụ tìm kiếm hình ảnh của Google, tìm kiếm số điện thoại và trang web của họ, xem ảnh của gia đình họ qua các hình ảnh vệ tinh.

Cuối năm 2003, khái niệm nền kinh tế Google trở nên phổ biến. Google đã có quá nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống con người, “đế chế kinh tế” Google ra đời có vai trò tài chính mạnh chỉ trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, nếu chỉ có Google làm giàu thành công và lan tỏa sức ảnh hưởng mà gọi đó là nền kinh tế Google thì chưa đủ, vấn đề quan trọng là đã có rất, rất nhiều người cũng đang dựa vào nền kinh tế Google để tìm kiếm lợi nhuận.

6) Cổ phần hóa
TT - Sergey Brin và Larry Page đã trì hoãn việc cổ phần hóa Google đến mức có thể nhưng thời hạn chót vào cuối tháng 4-2004 đang đến gần. Vì những lợi ích của việc duy trì tư cách một công ty tư nhân là rất lớn nên họ không muốn từ bỏ những lợi ích đang có trong tay.

Làm những điều không ai dám làm

Điều bất lợi nhất khi Google thực hiện cổ phần hóa là các đối thủ Microsoft và Yahoo! có thể biết tất cả về lợi nhuận cũng như tình hình hoạt động của Google. Một khi các thông tin được công bố rộng rãi thì sự cạnh tranh sẽ càng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, luật liên bang yêu cầu các công ty có tài sản lớn và có nhiều cổ đông, các tiêu chí này Google có quá đủ, phải công khai các kết quả tài chính.

Dù không muốn nhưng Brin và Page đều biết rõ họ đang đi những bước đầu tiên trong quá trình cổ phần hóa không thể tránh khỏi khi họ nhận 25 triệu USD của Kleiner Perkins và Sequoia Capital.

Mặc dù Google hoàn toàn có thể huy động thêm tiền mặt thông qua việc cổ phần hóa để tăng trưởng công ty và để dự phòng việc chạy đua không tránh khỏi với Microsoft, nhưng công ty cũng đã có đủ số tiền cần thiết. Đối với hầu hết các nhà kinh doanh ở thung lũng Silicon, phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) là một ước mơ lớn, vì là dịp để họ phô bày và đo giá trị theo kiểu Mỹ: tính bằng USD.

Nhưng Brin và Page thì hoàn toàn không giống như vậy. Cả Brin lẫn Page đều không cần hàng tỉ USD mà họ có thể bỏ vào túi của mình khi thực hiện cổ phần hóa Google vì cả hai người đều sống tương đối đơn giản. Họ cũng không quan tâm nhiều tới việc tích lũy của cải và không coi đó là một phương tiện đo thành công. Lý do duy nhất để những nhà lãnh đạo Google muốn phát hành cổ phiếu là vì họ muốn có nhiều nguồn lực hơn để thúc đẩy Google tăng trưởng, và quan trọng hơn là họ đã ý thức được nhiệm vụ của họ với Google.

Các công ty lớn ở Phố Wall nắm quyền kiểm soát toàn bộ tiến trình phát hành cổ phiếu lần đầu. Họ ấn định mức giá cổ phiếu ban đầu, quyết định nhà đầu tư nào sẽ được mua cổ phiếu và đổi lại họ sẽ nhận được một mức phí rất cao. Brin và Page không muốn dính dáng tới hệ thống tồi tệ này.
Trong đơn đăng ký phát hành cổ phiếu với Ủy ban Giao dịch chứng khoán, Google đã đưa ra một phương pháp phát hành cổ phiếu hoàn toàn khác, vì phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc quân bình. Điều này có nghĩa là bất cứ ai cũng có thể tham gia mua cổ phiếu của nó. Phương pháp mới của Google sẽ không bị Phố Wall ép giá.

Trong lịch sử của Phố Wall, chưa có một công ty nào thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu với số tiền lên tới hàng tỉ USD có thể thành công nếu làm theo cách của Brin và Page. Tuy nhiên, điều này không làm họ e ngại, vì cả hai đã quen với việc muốn và làm những điều không ai dám làm, họ quyết tâm tạo một lối đi mới cho phát hành cổ phiếu lần đầu bằng cách riêng của họ. Họ sẽ tự bàn bạc với nhau để đưa ra những quyết định mà họ cho là đúng đắn. Nếu có ai ở Phố Wall không thích cách làm của họ thì họ cũng không bận tâm.

Google sẽ định giá và bán cổ phiếu của nó dựa trên kết quả bỏ thầu trực tuyến của các nhà đầu tư tiềm năng. Tất cả những người đưa ra mức giá bằng hoặc hơn mức giá qui định công khai sẽ mua được cổ phiếu. Những ai trả thấp hơn mức giá đó thì không được mua. Các nhà đầu tư lớn cũng như những nhà đầu tư nhỏ đều được phép mua cổ phiếu thông qua một hình thức giống nhau.

Như vậy sẽ không xảy ra tình trạng thiên vị, không có chuyện ưu ái cho bạn bè hay gia đình thân quen. Kể cả những người mới bước vào nghề - những người có ít tiền hoặc những người thường bị Phố Wall không để ý tới - đều có thể tham gia phiên đấu giá, miễn họ có đủ tiền để mua ít nhất năm cổ phiếu. Như vậy, hàng triệu người sử dụng Google ở Mỹ chưa từng tham gia mua cổ phiếu công cộng bao giờ thì nay lần đầu tiên có thể tham gia mua một số cổ phiếu. Brin và Page trước đây còn lưỡng lự về việc cổ phần hóa công ty nhưng giờ họ đã quyết định sẽ cổ phần hóa và làm theo phương pháp quân bình tới mức có thể.

Tỉ phú tuổi 31
Brin và Page không hài lòng khi chứng kiến sự độc quyền ở Phố Wall về vấn đề thu phí. Tất cả các công ty đều phải trả một mức phí cao giống như nhau để nhờ Phố Wall làm môi giới trong qui trình thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu bất kể vụ mua bán diễn ra dễ dàng, khó khăn hay kể cả những vụ mua bán diễn ra thường xuyên.

Các công ty nhờ đến nhà môi giới Phố Wall đều phải trả mức phí 7%, như vậy trong một đợt phát hành cổ phiếu trị giá 2 tỉ USD thì Phố Wall sẽ thu được 140 triệu USD tiền phí. Brin và Page thấy điều này thật phi lý, đặc biệt nó không phù hợp với những loại cổ phiếu đáng giá của Google.

Trong khi hầu hết công ty khác chỉ công bố về tình hình tài chính và các thủ tục pháp lý theo tiêu chuẩn trong hồ sơ gửi Sở Giao dịch chứng khoán thì các nhà lãnh đạo của Google lại muốn thu hút sự chú ý của thế giới bằng một bức thư nói về văn hóa công ty và cả về cách nhìn của nó với thế giới bên ngoài. Brin và Page nhắc đi nhắc lại trong bức thư rằng sau khi Google trở thành công ty cổ phần, họ vẫn luôn có ý định áp dụng những cái họ đã làm thành công khi Google còn là công ty tư nhân.

Ví dụ, họ sẽ không phụ thuộc Phố Wall để tìm kiếm lợi nhuận theo từng quí mà sẽ làm bất cứ điều gì họ nghĩ sẽ tốt cho Google về lâu dài. Họ nói nhà quản lý mà bị phân tán bởi những mục tiêu ngắn hạn thì đó là nhà quản lý bất tài. Họ chẳng khác gì những người ăn kiêng cứ nửa giờ lại đứng lên bàn cân một lần. Họ dẫn lời tỉ phú Warren Buffett: “Chúng ta không mờ mắt với kết quả hằng quí hay hằng năm: Nếu công ty không có được lợi nhuận ổn định thì bạn cũng không thể có được lợi nhuận ổn định”.

Trong bức thư, những người sáng lập đã thông báo kế hoạch của Google sẽ phát hành hai loại cổ phiếu: cổ phiếu hạng A cho các nhà đầu tư phổ thông, mỗi cổ phiếu sẽ được một phiếu bầu và cổ phiếu hạng B dành cho những người lãnh đạo của Google, mỗi cổ phiếu được 10 phiếu bầu và cho họ toàn quyền kiểm soát. Cấu trúc cổ phiếu kép này không cho các nhà đầu tư bên ngoài gây ảnh hưởng tới công việc quản lý của công ty và nếu người lãnh đạo không đồng ý thì chẳng ai có thể giành được quyền tiếp quản công ty. Đây là cách lý tưởng để các nhà lãnh đạo Google vẫn giữ được quyền kiểm soát khi Google huy động hàng tỉ USD bằng việc cổ phần hóa.

Cuối cùng, đợt phát hành cổ phiếu lần đầu của Google đã bán ra cổ phiếu với giá 85 USD tại Sở Giao dịch chứng khoán các công ty công nghệ cao NASDAQ vào ngày 19-8-2004. Vào lúc 9g30 sáng khi thị trường mở cửa, 19,6 triệu cổ phiếu không thể bán được vì cầu vượt quá cung. Đợt bán này công ty đã huy động được 1,67 tỉ USD và ban đầu công ty có được giá thị trường là 23,1 tỉ USD.

Các công ty Phố Wall cùng tham gia điều khiển vụ mua bán là Credit Suisse First Boston và Morgan Stanley chỉ nhận được ít hơn một nửa mức phí so với bình thường. Quá trình mua bán cổ phiếu kiểu mới này đã đạt được hai mục đích: thứ nhất là Google chứ không phải Phố Wall nắm quyền phân bổ cổ phiếu công bằng dựa trên giá bỏ thầu của các nhà đầu tư; thứ hai là phương pháp phân bổ bình quân này tránh được những vụ bê bối mà Phố Wall đã tạo ra trong những năm gần đây, đó là việc chỉ dành lợi thế cho một số ít người.

Vào hôm Google phát hành cổ phiếu lần đầu, tờ Newsweek viết: “Đợt phát hành cổ phiếu được chờ đón nhất trong thế kỷ đã diễn ra”. Hôm đó, Brin vẫn đến làm việc ở trụ sở Google. Đây là dấu hiệu cho thấy lúc nào công ty cũng vẫn luôn tập trung tới công việc hằng ngày.

Mặc dù trên giấy tờ thì chính ngay buổi sáng hôm đó Page đã trở thành một tỉ phú nhưng anh dường như không quan tâm lắm tới điều đó. Tạp chí GQ tiết lộ khi Page chủ trì buổi khai trương phiên giao dịch chứng khoán khi Google cổ phần hóa, anh trông không thoải mái với chiếc áo khoác và chiếc cà vạt của mình, anh ngồi vào cả một chỗ dính đầy kem và làm bẩn cả mông quần.

Họ chỉ mới 31 tuổi!

Bạn có tin không: một cú nhấp chuột của bạn vào đường dẫn quảng cáo của Google sẽ mang lại cho công ty này 50 xu. Thế nhưng như Page nói: “Chúng tôi không nhất thiết phải kiếm tiền từ những gì chúng tôi không có”.

7) Cổ máy kiếm tiền
TT - Khi nhìn vào bản báo cáo tài chính của Google, nhiều người đều nhận thấy đây là một cỗ máy kiếm tiền khổng lồ. Tuy là một công ty trẻ, Google đã rất thành công, có lợi thế cạnh tranh và tiềm năng phát triển mạnh mẽ lâu dài. Công ty đã kiếm được hàng trăm triệu USD mỗi năm, doanh thu tăng vọt ngoài sức tưởng tượng, không có bất cứ một khoản nợ nào. Hấp dẫn hơn, đó là những lợi nhuận thu được từ việc quảng cáo trên Internet.

Mỗi cú nhấp chuột trị giá 50 xu

Khi ngày càng có nhiều người kết nối trực tuyến, các hãng kinh doanh đã cố gắng để đưa mình lên mạng Internet. Lĩnh vực quảng cáo đã có một sự chuyển đổi vượt bậc, vì hàng tỉ USD đã được chuyển đổi từ một phương tiện truyền thống sang một thế giới trực tuyến. Và Google hơn bất kỳ một công ty nào trong lĩnh vực này đã tìm ra cách sinh lợi trong một ngành mới mẻ và biến nó thành một hoạt động kinh doanh phát triển mạnh mẽ.

Mấy năm gần đây, nhiều người gắn cổ phiếu Google với những công ty lắm tham vọng, phá sản và đầy tai tiếng tại Thung lũng Silicon. Các công ty Internet này cũng đã có thu nhập từ việc quảng cáo, nhưng phần lớn các mục quảng cáo đó được mua từ các công ty Internet khác. Ngược lại, những đồng USD mà Google thu được từ quảng cáo chủ yếu là từ hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất nhiều trong số họ chưa từng biết đến việc quảng cáo trên trang web trước đó. Đây chính là sự pha trộn giữa các công ty kinh doanh trực tuyến với các công ty theo kiểu truyền thống.

Cả hai địa chỉ Amazon.com và eBay đều đăng quảng cáo lớn trên Google, mua những mục quảng cáo quan trọng mà sẽ được gửi tới hàng ngàn người sử dụng máy tính những vị trí web tốt nhất. Google cũng đã tránh các loại quảng cáo mà người sử dụng không thích: đó là thu lợi từ những mục quảng cáo được kích vào từ các công cụ tìm kiếm. Bằng sự khôn ngoan, công ty này đã nắm vững được mặt trái của việc quảng cáo hàng loạt. Tìm kiếm và lướt qua những mục quảng cáo đã được trình bày của Google cũng giống như khi lái xe trên đường cao tốc, và đến lúc nhìn thấy những bảng thông báo thì ngay lập tức nó liên hệ đến những điều bạn đang nghĩ hoặc đang tranh luận lúc bấy giờ.

Hàng triệu người sử dụng phương tiện tìm kiếm vẫn chưa thể hiểu nổi Google đã kiếm tiền bằng cách nào trong khi họ đang sử dụng miễn phí những phương tiện ấy. Nhiều người không thể phân biệt được sự khác nhau giữa những kết quả tìm kiếm miễn phí và các mục quảng cáo xuất hiện ngay cạnh những kết quả này. Ngay cả đối với những người hiểu được điều này - những người rất ít khi nhấp chuột vào các mục quảng cáo, họ cũng không thể hiểu Google đã có được thu nhập hàng tỉ USD bằng cách nào, nhất là vì giá trị của mỗi cái nhấp chuột ấy chỉ được tính bằng tiền xu chứ không phải đồng USD.

Thật đúng là đặc tính của Google, thu nhập của nó đã trở thành một bài toán hóc búa. Trong phạm vi hoạt động của mình là cung cấp kết quả cho hàng trăm triệu tìm kiếm mỗi ngày, tất cả những gì Google kiếm được chỉ là từ những cái nhấp chuột vào mục quảng cáo. Mỗi lần bạn nhấp chuột, Google nhận được trung bình 50 xu từ nhà quảng cáo.

Bắn pháo hoa ăn mừng
Lúc đầu tất cả nguồn lợi nhuận Google kiếm được đều nhờ vào các quảng cáo trên trang Google.com. Hiện nay, hầu hết sự tăng trưởng và một nửa doanh số bán hàng đều chủ yếu nhờ vào mạng lưới các trang web ngày càng mở rộng và có đăng các quảng cáo do Google cung cấp.

Mạng lưới tự thúc đẩy này đóng một vai trò quan trọng cho sự thành công của Google trong tương lai. Nó tạo cho Google có được một lợi thế cạnh tranh ổn định vì Google hoạt động giống như một mạng lưới truyền hình, cung cấp quảng cáo và các chương trình tới chi nhánh của nó.

Cổ phần hóa đã đẩy Google lên một nấc thang kiếm tiền thành công mới. Suốt sáu tháng đầu sau lần phát hành cổ phiếu đầu tiên tháng 4-2004, hàng triệu cổ phiếu bổ sung của Google đã được những người trong nội bộ công ty liệt kê vào những loại cổ phiếu có giá trị để bán, đạt được 135 USD vào tháng mười so với lúc đưa ra thị trường với giá 85 USD. Vào ngày 3-1-2005, Google đã có một mốc quan trọng khác, đó là giá cổ phiếu lần đầu tiên đạt trên 200 USD. Ngày 1-2, giá cổ phiếu đạt được là 216 USD - một ngày sau khi công ty báo cáo khoản doanh thu hằng quí nhiều một cách phi thường hơn 1 tỉ USD và lợi nhuận có được là hơn 200 triệu USD.

Hiện nay, giá trị thị trường cổ phiếu của Google đã vượt quá con số 50 tỉ USD, làm cho nó có giá trị hơn rất nhiều công ty kinh doanh lớn và nổi tiếng nhất ở Mỹ. Sự tin tưởng vào việc công ty này tiếp tục có những thành tích kinh doanh tốt đã đẩy cổ phiếu lên cao, khiến cho doanh thu cũng như lợi nhuận của công ty này đạt được kết quả vượt xa so với dự kiến ban đầu.

Tại thời điểm công ty tổ chức hội nghị thường niên đầu tiên dành cho cổ đông vào ngày 12-5-2005 ở Googleplex (trụ sở của Google), giá cổ phiếu của nó đã trên 225 USD. Kết quả thu được ba tháng đầu năm 2005 là ngoài sức tưởng tượng. Lợi nhuận đã ở mức rất cao: 600% tới 369,2 triệu USD và doanh thu đạt được là 1,3 tỉ USD. Đến tháng sáu, cổ phiếu Google đã đạt gần 300 USD/cổ phiếu, làm cho giá trị của công ty vượt quá 80 tỉ USD và sự kiện này làm lu mờ cả sự kiện Sergey Brin và Larry Page được bổ nhiệm chức danh viện sĩ mỹ thuật và khoa học Mỹ. Tờ Financial Times viết trong một bài xã luận rằng: “Không có một công ty nào nổi tiếng bằng Google”.

Trong tuần lễ có ngày Quốc khánh Mỹ (4-7), Google đã bắn pháo hoa ăn mừng khi cổ phiếu của công ty này vượt qua ranh giới 300 USD. Giống như công cụ tìm kiếm đã mang lại cho Google danh tiếng hôm nay, cổ phiếu Google đã phải gánh vác sự tồn tại và phát triển của công ty. Larry Page nói: “Chúng tôi là cỗ máy kiếm tiền nhưng không kiếm tiền bằng mọi giá, và chúng tôi cũng không nhất thiết kiếm tiền bằng những gì chúng tôi không có”.

Tuy nhiên, Google vẫn có điều đáng lo ngại là nguồn doanh thu chủ yếu của mình phụ thuộc một số ít đối tác như American Online và công cụ tìm kiếm Ask Jeeves. Nếu một lúc nào đó các đối tác này chấm dứt làm ăn với Google và hợp tác với Microsoft hoặc Yahoo! thì doanh thu của Google sẽ bị thiệt hại rất lớn và khó có thể bù đắp được. Công ty thừa nhận: “Nếu một trong số các mối quan hệ chính này bị cắt đứt hay không tiếp tục duy trì và không có một mối quan hệ khác tương xứng để thay thế, công việc của chúng tôi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng”.

Các quảng cáo nhỏ bằng văn bản không gây khó chịu cho người sử dụng đã đem lại hiệu quả rất lớn cho Google. Tuy nhiên, cũng giống như mạng lưới truyền hình cáp và truyền hình thông thường đã bị tổn thất lớn khi người sử dụng chuyển sang những phương tiện quảng cáo thuận tiện hơn, Google cũng sẽ đối mặt với rủi ro là nếu trên thị trường lại xuất hiện một công nghệ quảng cáo hiệu quả hơn thì nhà quảng cáo sẽ quay lưng lại với họ.

Chính vì vậy, bộ ba lãnh đạo Google đã phải tính đến những kế hoạch mới, thị trường mới.

Danh tiếng Google cũng đã thu hút sự chú ý của giới chính trị. Trong hồ sơ lưu trữ của Google, rất nhiều người từ cựu tổng thống Jimmy Carter và Bill Clinton đến cựu ngoại trưởng Madeleine Albright và Colin Powell đã đến trụ sở của Google để tận mắt quan sát. Cựu phó tổng thống Al Gore là người tư vấn cho công ty về các vấn đề quốc tế và đã thành lập chương trình truyền hình cáp với sự giúp đỡ của Google.

Cuối năm 2003, Bill Gates nhận ra Microsoft dễ bị tấn công. Vì sao Google khiến Bill Gates cảm thấy bị đe dọa? Tuy nhiên, Google không muốn tiêu diệt các đối thủ giống như những kẻ trục lợi, Google muốn có đối thủ nhưng không muốn có kẻ thù nào cả.

8) Đấu với Microsoft
TT - Dựa trên những yếu tố đã rõ về tiềm lực tương đương trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh khác nhau, cuộc đấu tranh giữa Google và Microsoft không chỉ nhằm vào thị phần trên thị trường, số lượng trình duyệt, hệ thống điều hành máy tính mà mấu chốt còn ở chỗ chỉ có một trong hai công ty là kẻ sống sót sau cùng.

Tấn công từ hai phía

Một chiều tháng 5-2005, Eric Schmidt đến thăm Trường đại học Washington ở Seattle. Vài tháng trước đó, Google đã cho mở một chi nhánh ở Kirkland (bang Washington), không xa trụ sở chính của Microsoft, nơi mà Google đã rất thành công trong việc thu dụng được một đội ngũ kỹ sư phần mềm tài năng. Giờ đây Schmidt ở ngay Trung tâm Kỹ sư và khoa học về máy tính - một tòa nhà được Paul Allen, người đồng sáng lập Tập đoàn Microsoft, đặt tên và tài trợ. Schmidt đang thực thi một nhiệm vụ: thuyết phục các sinh viên của một trường học được đánh giá rất cao rằng ngày nay Google là một nơi làm việc tốt hơn và thú vị hơn so với Microsoft.

Suốt từ năm 1998-2005, cổ phiếu của Microsoft luôn giữ ở mức đều đều không tăng, trong khi Google đã tiến rất nhanh từ vị trí một công ty mới thành lập trở thành một công ty lớn có uy thế trên thị trường. Điều khiến Bill Gates lo lắng là mặc dù Microsoft được ca ngợi là một tập đoàn đã tạo ra được những bước tiến dài trong lĩnh vực tìm kiếm qua Internet trong nhiều năm liền, song phiên bản đầu “Tìm kiếm MSN” ra mắt đã không gây được ấn tượng với người sử dụng.

Chuyến đi của Schmidt đến Seattle nhằm phản ứng lại những gì được mô tả của một bài báo xuất hiện vào đầu tháng trên tạp chí Fortune có tiêu đề: “Vì sao Google khiến Bill Gates cảm thấy bị đe dọa”. “Gates băn khoăn rằng phải chăng Microsoft đang đối mặt với một cuộc chiến không chỉ trong lĩnh vực tìm kiếm - bài báo viết - Một bức thư điện tử mà ông gửi đi đã viết: Chúng ta phải theo dõi sát Google”.

Sự vượt lên của Google và việc sút giảm vai trò của những sản phẩm cũng như các phần mềm khác của Microsoft không còn là một cái gì đó xa vời trong tương lai mà đang bắt đầu trở thành một thực tế. Sự tự tin có thể thấy rõ trên khuôn mặt Schmidt khi ông đứng trước sinh viên ở Seattle, bởi vì ông biết cổ phiếu của Google lúc này đã vượt quá 300 USD. Schmidt nói với sinh viên rằng họ không phải muốn tiêu diệt các đối thủ giống như những kẻ trục lợi được miêu tả trong các vụ kiện tụng rùm beng chống lại Gates và Tập đoàn Microsoft. Schmidt thích nói điều tự hào rằng: Google không có kẻ thù nào cả!

Năm 2005 trôi qua, Bill Gates và Tập đoàn Microsoft chuẩn bị phát động một đợt tấn công quan trọng mới để chống lại sự phát triển quá dễ dàng, đà tăng trưởng và cả sự thành công của Google. Lãnh đạo công ty đã đặc biệt thận trọng trong việc chọn mục tiêu của họ. Họ đã nghĩ đến rất nhiều khu vực, và có lẽ không có một tân chiến trường nào quan trọng hơn ở Trung Quốc - đất nước có hơn 100 triệu người sử dụng Internet.

Hiện nay giá trị thị trường cổ phiếu của riêng Google đã hơn 80 tỉ USD, lớn hơn cả Amazon và eBay cộng lại. Năm 2005, năm đầu tiên sau khi phát hành cổ phiếu, Google đã có giá trị cao hơn cả công ty truyền thông lớn nhất thế giới Time Warner, cho dù cổ đông của công ty này trải rộng từ công ty điện ảnh Hollywood đến các kênh truyền hình, các tạp chí và cả American Online. Giá trị của nó còn cao hơn cả Hãng Disney, Hãng xe hơi Ford và General Motors, những công ty đã thiết lập danh tiếng cho các công ty Mỹ trên phạm vi toàn cầu. Giá trị thị trường của Google cao gấp 20 lần tờ New York Times và xấp xỉ gấp 10 lần giá trị của tờ Washington Post.

Hội chứng Trung Quốc
Microsoft đã lập căn cứ ở Trung Quốc với gần 1.000 công nhân, còn Google muốn thiết lập phát triển sản phẩm của riêng họ và một trung tâm nghiên cứu tại Trung Quốc. Những năm gần đây, Microsoft đã cố gắng ngăn chặn đà tăng trưởng phạm vi toàn cầu của Google bằng cách đưa ra những sản phẩm mới của mình, chính hành động này đã làm họ bị vấp ngã. Google dường như đang được mọi người nhắc đến trong lĩnh vực ứng dụng khoa học kỹ thuật, dấu hiệu đó đã khiến Microsoft bị đẩy lùi lại phía sau trong một trận chiến cổ phiếu - trí tuệ. Ở Phố Wall, Microsoft cũng chẳng khấm khá gì hơn, họ đã không thể làm cho giá cổ phiếu của mình chuyển dịch cũng như gây tiếng vang, tất cả những điều đó đã dọn đường cho sự phát triển của Google. Thật ra Microsoft vẫn được hưởng những lợi thế vô cùng to lớn: giá trị thị trường cổ phiếu là 275 tỉ USD - giá trị gấp ba lần so với Google. Công ty này vẫn có ảnh hưởng và thu nhập định kỳ từ doanh thu của hàng triệu máy tính cá nhân đã tải về máy của họ hệ thống quản lý Windows, và một loạt các chương trình văn phòng, trong đó có cả Microsoft Word.

Mục đích chính của Microsoft là ngăn chặn nguồn nhân tài tới Google và làm giảm uy tín của nó trên thị trường, bắt đầu từ thị trường mới của Google là Trung Quốc. Bill Gates đã triệu tập một ủy ban trong nội bộ Microsoft, tập trung bàn cách thức cạnh tranh với Google. Ủy ban này đã trình lên ban quản trị công ty một hồ sơ tóm lược “Thách thức mang tên Google”. Gần đây, mỗi ngày trong số hàng nghìn hồ sơ xin việc gửi vào Google có rất nhiều hồ sơ của các kỹ sư từ Microsoft. Tồi tệ hơn, Google đã thuê các tiến sĩ của một số trường đại học hàng đầu của Mỹ và ngay cả các giáo sư Trường đại học Washington do Microsoft tài trợ. Vào mùa xuân và mùa hè năm 2005, Google đã đẩy mạnh tiến độ tuyển dụng người của họ, kết nạp thêm hơn 700 nhân viên chỉ trong vòng ba tháng. Với sự nỗ lực tuyển dụng của Larry Page, tổng số nhân viên của Google đã tăng lên đến 4.183 người, gần gấp đôi so với trước đó một năm. Công ty đã mở rộng thêm các chi nhánh văn phòng trên khắp thế giới, từ châu Âu đến Nam Mỹ, châu Á, Google đang có những bước tiến dài. Tiếp theo đó là Trung Quốc.

Tháng 8-2005, giữa cuộc cạnh tranh với Microsoft tại Trung Quốc, Google lại một lần nữa khiến Phố Wall phải kinh ngạc khi họ tổ chức lễ kỷ niệm một năm ngày công ty này đưa cổ phiếu của mình lên sàn chứng khoán: họ đã công bố sẽ cho phát hành 4 tỉ USD siêu cổ phiếu. Hàng tỉ USD trong số tiền đó sẽ dành cho việc đấu tranh chống lại sự cạnh tranh từ phía Microsoft và Yahoo! tại Mỹ và các nước lân cận. Sergey Brin và Larry Page, những nhà toán học đã trở thành những nhà tài phiệt, vào thời điểm Google phát hành cổ phiếu lần đầu năm 2004 đã trở thành những tỉ phú trẻ tuổi giàu có nhất nước Mỹ và hàng trăm thành viên khác của Google đã trở thành triệu phú. Những chàng trai này được đưa vào danh sách 400 tỉ phú giàu nhất nước Mỹ của tạp chí Forbes ở vị trí thứ 43, với tài sản của mỗi người là 4 tỉ USD. Mùa hè năm 2005, khi mà giá cổ phiếu của họ tăng vọt lên đến hơn 300 USD thì mỗi một sáng lập viên đã sở hữu hơn 10 tỉ USD. Số tiền này được họ đầu tư vào Trung Quốc ngày một nhiều hơn.

Cuối hè 2005, thị trường Internet tại Trung Quốc trở nên sôi động. Yahoo! đã công bố là sẽ bỏ ra 1 tỉ USD để đầu tư vào Alibaba - một công ty Internet Trung Quốc hàng đầu. Nhưng Google rất lanh lẹ, đã có nhiều cách thức đa dạng để xâm nhập thị trường Internet Trung Quốc. Một trong những cách thức đó là Baidu.com. Năm 2004, Google đã trả giá 2,6% tiền đặt cọc vào công ty chuyên về tìm kiếm trên mạng đang thành công tại Trung Quốc này. Vào tháng 8-2005, Baidu.com đã phát hành cổ phiếu một cách công khai ở Phố Wall, tự quảng cáo là “Google của Trung Quốc”. Trong ngày đầu tiên giao dịch, cổ phiếu Baidu tăng từ 27 USD lên 122 USD. Cổ phiếu quá nóng Baidu đã làm tăng thêm hàng triệu USD giá trị thị trường cho Google trên phạm vi toàn cầu. Google nhận định rằng việc Microsoft ngăn chặn họ ở Trung Quốc đã “phá sản”.

Sergey Brin và Larry Page nói rằng khi còn là sinh viên Trường đại học Stanford, ở trong khu học xá mang tên Bill Gates, cả hai đều không nghĩ có ngày họ sẽ đấu với Microsoft như bây giờ. Với họ lúc ấy, cuộc đấu đó chỉ có trong truyện cổ tích
9)Định hướng tương lai.
TT - Trong phòng giải lao ở cầu thang trung tâm dưới chân tòa nhà Google có một bảng trắng rất lớn, trên đó có các nét vẽ nhiều màu sắc thể hiện các dự án và công nghệ của công ty. Tấm bảng có nhan đề “Kế hoạch vĩ đại của Google”.

Cuộc chạy đua không gian


Với các tính năng và sản phẩm mới mà Google không ngừng cung cấp cho người sử dụng trên khắp thế giới, dường như Google đã đẩy các đối thủ cạnh tranh vào một cuộc chạy đua không gian để xem ai có thể tích trữ được nhiều sản phẩm gây được sự chú ý nhất. Google không chỉ dẫn đầu trong cuộc chạy đua không gian khiến Microsoft và một số công ty phải chạy theo trong một số lĩnh vực, mà còn mở rộng vai trò tiên phong của mình trong lĩnh vực tìm kiếm chính và quảng cáo ở Mỹ, châu Âu và châu Á.

Google nỗ lực tiến lên vị trí số một khi đưa ra dịch vụ bản đồ vệ tinh và các công cụ định vị; công cụ tìm kiếm trong vùng; các cách cho người sử dụng máy tính lưu trữ các tìm kiếm cá nhân và sử dụng chúng; dịch vụ tìm kiếm video dựa trên việc sao chụp cận cảnh các chương trình truyền hình; tìm kiếm di động bằng điện thoại di động BlackBerry và các công cụ khác.

Để chứng tỏ trình độ công nghệ cao, công ty đã tung ra dịch vụ Google Earth. Dịch vụ này cho phép người sử dụng có thể ngồi thoải mái ngay tại chiếc máy tính để lướt tới bất cứ nơi nào trên hành tinh đã được Google thiết kế qua hình ảnh không gian ba chiều. Trong thời đại của các hiệu ứng đặc biệt về ảnh động và truyền hình, công cụ này đã đặt lại các ranh giới về tìm kiếm, nó biến người sử dụng máy vi tính trở thành những nhà khám phá.

Brin và Page rất hài lòng. Nhân viên của Google và cả gia đình họ cũng vậy, đặc biệt khi Brin và Page thuê hẳn một rạp chiếu bóng bên cạnh trong 24 giờ và mua vé cho tất cả mọi người xem bộ phim Chiến tranh giữa các vì sao đúng hôm bộ phim ra mắt khán giả. Với những sản phẩm và ứng dụng như vậy Google chắc chắn sẽ dễ dàng chiến thắng trong cuộc chạy đua không gian này.

Để đảm bảo Google luôn phát triển, tránh sự trì trệ và không bỏ lỡ cơ hội đạt mục tiêu, Brin, Page và Eric Schmidt phân chia công việc với tư cách là những người lãnh đạo dựa trên chức vụ công việc, hay nói cách khác, họ không áp dụng mô hình ban lãnh đạo ba người. Họ thường xuyên trao đổi với nhau nhưng cũng qui định về giới hạn cũng như vạch ra những trách nhiệm rõ ràng mà mỗi người phải thực hiện. Brin và Page giữ chức đồng chủ tịch và Schmidt giữ chức giám đốc điều hành, nhưng thực tế mỗi người kiểm soát các khu vực với chức năng khác nhau và cùng nhau chia sẻ trách nhiệm.

Cải thiện lại bộ não

Brin và Page từ lâu đã nung nấu tham vọng phát triển Google sang các lĩnh vực sinh học, di truyền học và các lĩnh vực khoa học như y khoa, công nghệ. Mục đích của họ là thông qua Google, quĩ từ thiện của công ty, và một pháp nhân khác có tên là Google.org, cung cấp thông tin nhằm đem lại một cuộc sống khỏe mạnh và lành mạnh hơn cho hàng triệu cá nhân và hàng triệu nhà khoa học thông qua việc ngăn chặn và chữa khỏi nhiều căn bệnh.

“Có quá ít người trong ngành máy tính nhận thức được những thách thức về thông tin trong ngành sinh học và ứng dụng của ngành này trên thế giới. Chúng tôi có thể lưu trữ một khối lượng dữ liệu khổng lồ với chi phí rất thấp” - Brin nói.

Một trong những dự án gây nhiều hứng thú nhất của Google liên quan đến sinh học và nghiên cứu di truyền học mà có thể tạo nên những bước đột phá quan trọng trong ngành y khoa và khoa học. Qua sự nỗ lực này, Google có thể giúp thúc đẩy đến thời đại y khoa cá nhân hóa, thời đại mà nếu nắm bắt chính xác cấu trúc gen của một cá thể thì có thể giúp ích rất nhiều cho các bác sĩ và cố vấn sức khỏe trong điều trị và chăm sóc sức khỏe, hữu ích hơn việc dựa vào những thông số và các kết quả chẩn đoán để cung cấp thuốc và giới thiệu các biện pháp chữa trị. Những sự hiểu biết mới, những dược phẩm mới, một số loại thực phẩm nào là có ích và loại nào cần tránh được dựa trên những nghiên cứu gen đặc trưng của từng người là một trong những khả năng có thể trong tương lai.

Bác sĩ Alan E. Guttmacher, phó giám đốc Viện Nghiên cứu quốc gia Mỹ về gen người, nói rằng sự quan tâm của Google đối với di truyền học đặc biệt có ý nghĩa vì kho thông tin của nó giúp chúng ta tìm hiểu và xác định được những gen cụ thể và những bất thường trong di truyền học có thể là nguyên nhân gây bệnh. Ông nói: “Ngày nay các nhà nghiên cứu đã làm việc theo mô hình mới, đó là làm việc trên máy vi tính được kết nối với những cơ sở dữ liệu thông qua mạng Internet và làm việc theo mô hình không gian học thay thế mô hình làm việc trước kia khi các nhà khoa học phải làm việc trong những phòng thí nghiệm”.

Vài năm trước, Google đã cùng hợp tác với Trường đại học Stanford cung cấp máy tính cho một dự án khoa học tập trung nghiên cứu về sự không cuộn protein (chất đạm). Quá trình cuộn protein là một trong những chiếc chìa khóa để mở cánh cửa ngành sinh vật học. Một số người tin rằng protein cuộn không đúng sẽ dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm, từ bệnh Alzheimer (bệnh mất trí nhớ) cho đến chứng bệnh Parkinson (bệnh mãn tính về hệ thần kinh làm cho các cơ bị run và yếu) và nhiều loại bệnh ung thư.

Dự án Trường Stanford đã tận dụng thời gian không sử dụng của những máy tính cá nhân của các cá nhân tình nguyện cũng như các tổ chức tình nguyện như Google - công ty đã đồng ý cung cấp điện toán công suất lớn nhằm tăng cường sức mạnh máy tính đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy quá trình cuộn protein trên môi trường ba chiều.

Một trong những cải tiến mà Brin và Page muốn chứng kiến Google và các công ty khác đạt được trong tương lai đó là các sản phẩm có giá rẻ, tiêu thụ năng lượng sạch không gây ô nhiễm môi trường. Nguồn năng lượng này giống như năng lượng mặt trời vậy. Đối với Page thì đây là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, trong nhiều năm qua anh đã tập trung tìm hiểu lượng điện lực khổng lồ được cung cấp cho mạng lưới hàng trăm ngàn chiếc máy tính của Google.

Page cũng nhìn trước thấy việc tham gia của Google và bản thân anh vào sự nghiệp giảm đói nghèo thông qua kinh doanh và hoạt động từ thiện. Page đặc biệt quan tâm đến những chương trình cung cấp khoản vốn cho những quốc gia đang phát triển. “Đó là một công việc kinh doanh đầy trách nhiệm - Page nói - Tôi tin rằng vấn đề xóa đói giảm nghèo là việc chúng ta cần làm. Về việc này thì Bono thật sự giỏi hơn tôi nhiều. Anh ấy đã từng nói rằng châu Phi không phải là một sự nghiệp mà một sự khẩn thiết”.

Tham vọng của Brin và Page đôi khi là những ý tưởng điên rồ vượt quá giới hạn của Google. Bây giờ, mọi người trên khắp thế giới nhìn nhận Google và Internet là một, nhưng Brin và Page đoán trước được khả năng tiềm tàng của con người có thể làm cho công cụ tìm kiếm phát triển đến mức độ cao hơn.

“Tại sao chúng ta không cải thiện lại bộ não của chúng ta nhỉ?”, Brin đã đòi hỏi. “Bạn muốn có nhiều năng lực tính toán. Trong tương lai, chúng tôi có thể đưa ra một phiên bản của Google để bạn có thể nối với não của bạn. Chúng tôi sẽ phải phát triển những phiên bản đặc sắc, nhưng rồi ngay lập tức bạn sẽ biết được tất cả những kiến thức có trên thế giới, điều ấy chắc hẳn rất là thú vị”.

(Tuổi Trẻ)
Google - câu chuyện thần kỳ của David Vise và Mark Malseed (Mỹ), bản quyền tiếng Việt của Công ty AlphaBooks, NXB Tri Thức xuất bản, Fahasa phát hành trên toàn quốc tháng 12-2006.