Ngày 21 tháng 05 năm 2011

Đọc bài mới của Lâm Cúc trên Văn Nghệ Trẻ


HỌC MỖI NGÀY. Từ "hiu hiu gió bấc" đến "đồng cỏ chát" và những con chữ "lặm lội" là bài viết mới của Nguyễn Lâm Cúc đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ. Tôi cũng tin như Cúc, "kho chữ Việt không ngừng bổ sung nhiều từ mới, nhiều chữ mới do thời đại, do cuộc sống mang lại để cũng có thể dùng nó chuyển tải lại hơi thở thời đại và mạch đập cuộc sống". Văn Việt, chữ Việt hiện nay dẫu nhiều sạn nhưng cũng có thêm nhiều viên ngọc mới. Tôi chép lại bài viết này để thỉnh thoảng đọc và suy ngẫm. Đãi sạn tìm vàng đâu chỉ là nghiệp của nhà ngôn ngữ, nhà văn mà còn phải nằm trong ý thức thường trực của mỗi nhà giáo, mỗi học sinh, sinh viên và toàn xã hội ...


TỪ “HIU HIU GIÓ BẤC” ĐẾN “ ĐỒNG CỎ CHÁT” VÀ NHỮNG CON CHỮ “ LẶM LỘI”


Nguyễn Lâm Cúc

Tình cờ, tôi ngồi cùng Phan Đình Minh, Nguyễn Ngọc Tư và Võ Đắc Danh trong một bàn tiệc.

Không có gì kỳ cục và bản thể bằng ý nghĩ. Cũng không có gì kỳ diệu, tao nhã bằng ý nghĩ. Trong vài giây ý nghĩ đã có thể đến Nam Cực rồi quay về lục chạn tủ thức ăn, bỉu môi chê cái mùi tanh ói xộc ra từ con mực chưa nấu. Ngay liền đó, ý nghĩ đã mơn man một nụ cười mà nó đã cưỡng đoạt xong một cơ thể…Tôi tin chắc, ý nghĩ của bất kỳ người nào cũng đều xảy ra tương tự, thậm chí xảy liên hồi kỳ trận, chỉ là ít ai nói ra, họ nghĩ gì.

Lúc này đây, ý nghĩ của tôi là một tam giác. Tôi kéo một đường nối từ Phan Đình Minh đến Võ Đắc Danh và sang Nguyễn Ngọc Tư. Nối vùng chiêm trũng bên con sông Lai Vu đến đầm lầy đầy bần đước, và tầng tầng lớp lớp cỏ rêu, đưng, lác của U Minh hạ, U Minh thượng, Cà Mau; rồi từ đó đường kéo này nghẹo sang những trang viết của họ. Một tam giác hoàn toàn không đồng đều, dù có thể xuất hiện những chỗ đồng nhất, tôi nghĩ vậy.

Nhà văn Phan Đình Minh từng là chú lính tơ, đóng quân ở gần ngôi đền mà Campuchia và Thái lan đang tranh giành. (Sự tranh giành luôn xảy ra cho dù đó là nơi linh thiêng, hay chỉ là nơi có hai người. Ừ mà phải nói rằng, càng là nơi linh thiêng thì càng tranh giành quyết liệt, vài nơi trên thế giới đang xảy ra như thế trong vài chục năm rồi, đủ làm bằng chứng chưa nhỉ?).

Nghe đồn, dạo nhà văn Phan Đình Minh đang là lính có khi suốt tháng chỉ làm mỗi nhiệm vụ lang thang đi tìm rau muống, đêm về nằm ước sau này mình có truyện ngắn được đọc trên trên Đài Tiếng Nói Việt Nam vào giữa khuya để ông bố nông dân của mình cứ lịm đi vì xúc động, nở ruột, nở gan tự hào về thằng con từng xì xụp mò cua, mò ốc nơi con sông chảy quanh làng. Và thiên hạ cũng từng xầm xì, dạo ấy, chàng trai Phan Đình Minh yêu một nữ quân y, sau này nàng về công tác ở một phân viện 175,Thủ Đức. Mối tình thơm nồng nàn vị món miến gà và nóng hầm hập những cơn sốt rừng khô héo. Nàng đã lặng lẽ rời đi không một lời từ biệt. Chàng vẫn mong có ngày hội ngộ để thăm hỏi nhau…Sau này nữa, khi cuộc chiến Tây Nam tạnh khói, Phan Đình Minh
đầu quân lực lượng công an và công tác ở Hà Nội.

Võ Đắc Danh và Nguyễn Ngọc Tư khác hẳn Phan Đình Minh, cả hai là con Cà Mau và hao hao như sông nước một màu ( Tất nhiên, Nguyễn Ngọc Tư, nữ giới, trẻ, mộc mạc, màu da đậm, đằm nắng gió, hệt như Tư vừa bước từ đồng ruộng vào, vóc dáng bé nhỏ, chân đi cùng bước với mèo hoang. Tôi dám chắc, nếu ngồi lắng nghe thì có thể nghe tiếng thở dài của nhân vật Tư viết, ví dụ như tiếng thở dài của Hết trong “ Hiu hiu gió bấc” sau lúc tiễn tốt sang sông, kế đó là tiếng rớt của thời gian rơi giọt giọt, chứ không phải tiếng chân của Tư. Tư có nụ cười nửa thẹn thùng, nửa chế riễu mọi sự trên đời, tuồng như tất thảy chỉ đáng để cười như thế mới có thể bắt tay thỏa hiệp. Ừ, thì thỏa hiệp.

Võ Đắc Danh tất nhiên là ngược phái đối với Nguyễn Ngọc Tư. Anh dong dỏng cao, hơi mảnh khảnh một chút về vóc dáng, gương mặt phong kín mọi ý nghĩ, ngay cả trong đôi mắt cũng không tiết lộ bất kỳ điều gì. Chúng dường như ở một nơi nào quá xa xôi và quá bận bịu với suy tưởng, ngẫm ngợi, hoặc đang đuổi theo một điều gì có thể nắm giữ được, cũng có thể là không, ví dụ như chân lý chẳng hạn.

Võ Đắc Danh thành công bằng các bút ký đẫm tình yêu cuộc sống với những người thật, việc thật, tốt đến khó tin như chàng tiều phu Nguyễn Tấn Bông, ở Núi Cấm, trong "Cổ tích trên đỉnh mồ côi"; hoặc xấu đến kỳ lạ như Điều trong “ Đồng cỏ chat” Điều gắn với chị Thiện bằng dọa nổ tung lựu đạn. Hắn bỏ chị Thiện đi dễ dàng, còn chị Thiện muốn không liên quan đến hắn nữa bằng pháp luật thì lại vấp núi, vấp sông đến tưởng như không làm nổi.

Hầu hết các tác phẩm đã công bố của Võ Đắc Danh là ký, một thể loại “gân” trong viết báo. Bởi vì, nhân vật trong ký là thực, sự việc trong ký là thực, nhưng ngôn ngữ phải là văn. Nó cũng phải óng ả, chuốt lời, chuốt ý mềm mượt. Cũng gợi cảm xúc hỉ nộ ái ố để thương thì thương quéo ruột, mà giận thì cũng phải giận nổ trời; cũng gợi cảnh như vẽ tranh, sắc màu đậm nhạt, tối sáng phải chỉnh chu, vừa ăn ý, vừa chuyển được nhịp thời gian, chuyển được rộng hẹp của không gian...Muốn viết được ký, chuyện đầu tiên là tác giả phải “lặm lội” ( chữ lặm lội tôi đọc lần đầu trong văn của anh Phan Đình Minh. Sẽ trở lại với chữ này ở đoạn sau) đến tận nơi, mắt ngó cảnh, miệng hỏi chuyện nhân vật, đầu óc quan sát, ghi
nhận và tay thì hý hoáy không ngừng với những tư liệu không thể nào nhớ hết. Đêm về, đầu óc lẩn vẩn bên nhân vật có khác nào tương tư tình nhân. Đồng thời phải phân tích sự, việc, đưa ra luận điểm để “thương” hoặc để “ghét”... Nhưng muốn làm việc đó phải làm khéo như thể “ tui đâu nói gì đâu”; sự việc, hoàn cảnh và con người trong cuộc nói đó chớ. Một chuyến đi vượt hàng trăm cây số, tốn vài ba ngày, về bằng tay không là chuyện thường ngày ở... ấp. Trên văn đàn Việt Nam, người thành danh với thể loại Ký chỉ đếm trên đầu ngón tay như nhà văn Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường..., trước đây vài chục năm, và nay là Võ Đắc Danh.


Những tác phẩm ký còn lại trong lòng người đọc hôm nay, của những tác giả đi trước đa phần là ký về phong cảnh, ký về món ăn, phố xá, ký nhân vật nổi tiếng như các chính khách, văn nhân, hoặc nghệ sĩ. Riêng mảng ký Thời sự hầu như ít người viết. Ngày nay, ký thời sự với những nhân vật phản diện, viết được nó người viết phải “ngang tàng” kiểu rễ bần của sông nước Nam Bộ, cắm ngược lên trời xanh ngạo nghễ.

Nếu xếp một số tên tác phẩm của Võ Đắc Danh lại sẽ có những “mật mã” mở xoáy vào nhân tâm như: “ Lấy chồng xa xứ” thì đến “ Đất và máu” rồi quay trở lại “Về với đáy sông” và “Hàn sĩ lên ngôi vua cá” “Giữa hai dòng mặn ngọt” để “Chiều chiều ra đứng ngỏ sau” ngóng “ Cổ tích trên đỉnh mồ côi”…Những con chữ lúc này giống như đã được Trì Chú Từ Bi, chúng trở nên đạo hạnh hơn trong bàn tay thuần dưỡng của tác giả. Bạn thử mở những “mật chú” kia ra, đi vào tác phẩm và sẽ có những thẩm định riêng của mình, tôi tin vậy.



Nguyễn Ngọc Tư đến với tôi bằng “ Hiu hiu gió bấc”. Cái ngọn gió khiến Hết gạt nước mắt tiễn tốt qua sông trên cuộc cờ người. Tôi không nghĩ như Tư, rằng cờ tướng là môn dành cho người quân tử. Với tôi, đơn giản đó chỉ là một môn chơi. Ai thích cầm quân mà không có điều kiện “ đánh đấm” thật trong cuộc đời, cứ việc ngồi vào bàn cờ tha hồ điều binh khiển tướng. Những kẻ đó, khối người chỉ là người thôi, chẳng quân tử, cũng không tiểu nhân; chẳng anh hùng cũng không hèn toàn diện. Vả lại, thời nay tìm quân tử trong cuộc cờ e còn khó hơn tìm anh hùng chốn thị trường. Không tin, bạn thử ra ngỏ mà xem, chẳng phải ngoài ngỏ đầy anh hùng đó sao?

Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư hôm nay đã nhiều, tôi đọc xong có cái quên, cái nhớ. Nhân vật của Tư cũng nhiều, nhưng tôi nhớ Hết. Tôi ghét giọt nước mắt của Hết. Tôi ghét cuộc cờ không cho con tốt sự lựa chọn nào khác. Điều đó có phải là “số phận” vốn thế hay không? Về tốt, luật chơi đã định sẵn. Quyền của anh ở chỗ là thích chơi cờ phải chấp thuận, không thì lựa chọn môn chơi khác. Nghĩa là anh có quyền từ chối không chơi. Còn Hết, sao lại bằng lòng làm tốt trên bàn cờ và chấp nhận nước đi không bao giờ quay về nhỉ?

Những dòng văn của Tư neo trong đầu tôi dấu móc câu hỏi, và cứ thế nó bắt buộc tôi lần theo những trang viết của Tư không ngừng. Tư sẽ làm gì cho các nhân vật của Tư? Sẽ mãi để họ với “ Đời như ý”, hay chờ đợi phút “Giao thừa” hay sẽ đi cùng khi đã “ Cuối mùa nhan sắc”…

Tôi lẽo đẽo theo các nhân vật nữ của Nguyễn Ngọc Tư. Tôi lang thang cùng “Giang, Nhớ sông” trong cái đêm trở về hai chị em cùng nghe “Hiện, nằm ca sang sảng”. Tôi cũng bẩn thẩn bần thần cùng “ Dì Út Thu Lý” đứng đầu ngỏ trong “Chiều Vắng”…Nguyễn Ngọc Tư là thế hệ sanh ra từ 7X, sao cái nhìn lại dằn vặt nhiều chịu đựng trong tình duyên đôi lứa. Chị Đặng Thị Kim Oanh bạn tôi nói rằng, phụ nữ thế hệ 5 X vẫn bị trói buộc hoàn toàn trong tiết hạnh gia phong. Phụ nữ sanh ra trong thập niên sáu mươi của thế kỷ trước nhiều vật vả trước cái mới ào ạt ùa vào đời sống cởi bung mọi quan hệ rằng quí ông thì tha hồ năm thê bảy thiếp, chị em chính chuyên thờ mỗi một chồng. Thế hệ sanh từ những năm 70, hay gọi là 7 X bước vào giai
đoạn khác hẳn 50, và họ rất mới từ nhận thức đến biểu hiện trong tình cảm luyến ái. Điều này, gần như không thấy trong các nhân vật nữ của Nguyễn Ngọc Tư?

Nhiều người thích Nguyễn Ngọc Tư không phải do cốt truyện của chị, mà là do giọng văn ngọt lịm chất Nam Bộ dân dã.

Đọc văn Nguyễn Ngọc Tư, đọc ký Võ Đắc Danh khiến tôi thấy đằng sau chữ, nghĩa của họ là bóng dáng của những nông dân, những con người lặng lẽ, buồn buồn. Họ gợi cho tôi bến phà Cần Thơ nơi lần đầu tôi gặp những chiếc xe đạp chở khách. Các bác phu xe có lời mời ngọt dẻo như kẹo dừa Bến Tre, gò những tấm lưng dài nhẳng, trên những chiếc xe đạp có chiều dài như mong ước của họ. Họ cũng gợi nên Hậu Giang, Long Xuyên nơi đàn sáo bay rợp dân ca; bầy muỗi dày vãi trấu, nhốn nháo liệng đen mắt mỗi chiều, quanh bàn nhậu Tía Hai, cậu Út uống đế Cuốc Lủi do các Chế cất từ gạo Tám với nước sông Tiền, sông Cửu Long. Tía bẻ trái ớt hiểm chấm vào chén nước mắm ép từ con cá Sặc, cắn sựt, xong bưng ly rượu tăm sủi lăn tăn,
dựng đứng ực gọn. Họ cũng gợi trong tôi hình ảnh những cây bần với bầy rễ khỏe khoắn dựng ngược lên trời trên bên những bờ sông, bờ kênh dày đặc phù sa. Trông chúng ngang ngược, ngạo nghễ làm sao. Chúng đầy vẻ thách thức và tự tin. Chúng rất thành công từ khai thiện lập địa cho đến ngày nay trong tư thế giữ đất, và chiến thắng mọi cuộc xâm lấn của nước biển. Nhưng, ngày nay, chúng gần như đã đại bại dưới bàn tay tàn phá con người.

Những dòng chữ mang tư tưởng chỉ có thể đủ mạnh khi chúng được nuôi dưỡng trong triệu triệu trái tim. Ngược lại, chúng chỉ là rác. Chẳng phải loài người đang thiếu lương thực, thiếu tình cảm, thiếu tài nguyên, cả khí trời rồi cũng sẽ thiếu, chỉ rác là tràn ngập đó sao!

Nếu Võ Đắc Danh thuần dưỡng được con chữ trong ký, Nguyễn Ngọc Tư khai thác thành công ngôn ngữ dân dã Nam Bộ, thì nhà văn Phan Đình Minh khiến người đọc thú vị bằng những câu chữ mới hoàn toàn, hay chí ít là tôi đọc lần đầu trong văn, thơ của Anh. Về gió, tôi ngất ngây khi đọc dòng này trong một tản văn của Phan Đình Minh: “ những lát gió hòa loãng nắng vẩy lên không khí hội hè…” Ngọn gió, gió thoảng, gió bão, gió nhẹ, gió hiu hiu, gió buốt, gió nhè nhẹ vv. Tôi từng đọc rất nhiều, đọc đi đọc lại và khi viết cũng quẩn quanh cùng những chữ gió ấy, gõ ra. Nhưng chữ “lát gió” thì mới quá. Chưa hết, về sau cũng là gió, tôi còn bắt gặp những gió khác nữa trong văn Phan Đình Minh: “Gió trộn trạo mơn man, lá sấu vung vãi xuống đầu.
“Gió quẩn ngang trời”; “Trời trở, hong heo bụi, đường làng dệu gió”, trong “ Tết lạnh”. Và nói về lạnh, trong “Tết lạnh”, tôi bắt gặp những con chữ lạ, chúng khiến tôi tin chúng vừa chào đời dưới bày tay, khối óc của Anh:

“Bên ngoài, lạnh veo véo muốn bứt vỡ tấm kính cửa nhà”. Trong “Chốn quê”.

“…cái lạnh ngoai ngoải trong ánh mắt những người trồng đào.”

“Da mặt em dường khô hơn bởi tãi giữa những cơn lạnh 7 - 8 độ hun hút trên đường”.

“Ánh mắt cô gái buồn vô vảo. Tôi lom rom và bỗng rùng mình khi nhớ lại mình nênh bênh lúc 4 giờ sáng hôm qua”

Hoặc những chữ sau đây:

“Giọng bà Hình, nghèn nghẹt như thổi gió vào ống tre, giọng thằng Quý, khậu khẹt, ngầu ngò”.

“Anh Ứng, thập thừng.”

Hoặc những chữ, “giấy thiu, múc từng thìa nắng, bung biêng thấp cao, sương khổ... Không còn nhớ được đã đọc tác phẩm nào của Phan Đình Minh, chỉ nhớ chữ rất lạ.
Có những chữ Anh viết tôi không hiểu. Tôi đoán có thể đó là phương ngữ, cũng có thể do âm tiết phát âm mà ra. Nhưng có nhiều chữ như chữ “lát gió”, tôi tin chắc là do Anh nhào nặn máu thịt mình mà thành.

Có những chữ khi đứng riêng lẻ chắc nó chưa biểu hiện nghĩa gì, thậm chí không có nghĩa như “vô vảo”. Nhưng khi nó đứng trong câu: “Ánh mắt cô gái buồn vô vảo”, thì đã khiến tôi hình dung trong mắt cô gái ấy không bắt gặp bóng người, không bắt gặp lá bay, chim liệng hay bất kỳ thứ gì kể cả ảo ảnh. Nó chỉ còn hiện diện choáng ngợp nỗi buồn. Hay như chữ “ khậu khẹt, nó chỉ gợi một âm thanh, không có nghĩa gì khi đứng riêng; hoặc chữ “giấy thiu, múc từng thìa nắng” chỉ có nghĩa bóng…

Tôi tin, kho chữ Việt không ngừng bổ sung nhiều từ mới, nhiều chữ mới do thời đại, do cuộc sống mang lại để cũng có thể dùng nó chuyển tải lại hơi thở thời đại và mạch đập cuộc sống. Hy vọng những con chữ “ lặm lội” chào đời của nhà văn Phan Đình Minh sẽ có ngày cùng đứng trong hàng chữ Việt, trên nhiều trang viết.

Nguyễn Lâm Cúc

Không có nhận xét nào: