Lưu trữ Blog

15 tháng 7, 2010

Rèn nhân cách và lập nghiệp

HỌC MỖI NGÀY. Trong những bức xúc của đời sống hiện nay có vấn đề rèn nhân cách và lập nghiệp. Đạo đức và việc làm là chủ đề vừa nóng hổi tính thời sự vừa căn bản lâu dài. Tu thân và lập thân là những triết lý giáo dục đã ăn sâu vào tiềm thức văn  hóa của dân tộc ta. Giáo sư Nguyễn Đình Chú có bài viết sâu sắc "Hôm nay với Nho giáo" chỉ rõ tâm thế mới mà thời đại đã cho phép đối với Nho giáo hôm nay trên đất nước ta, có một điều cần làm sống dậy càng nhiều càng tốt và có hai điều cần khắc phục. Điều cần làm sống dậy chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói và đã tự mình phấn đấu thực hiện suốt đời đó là tinh thần tu thân theo lôgíc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. mà thực hiện được logic này càng nhiều bao nhiêu thì chắc chắn nhân dân ta, đất nước ta sẽ được nhờ bấy nhiêu và nạn tham nhũng sẽ được chặn lại . Hai điều cần khắc phục là khuynh hướng coi nhẹ pháp luật và coi nhẹ giải phóng năng lực cá nhân của chính mỗi người , cái Tôi triết học với tư cách là động lực phát triển của chính mỗi bản thân con người và toàn xã hội. (HK)

HÔM NAY VỚI NHO GIÁO


GS Nguyễn Đình Chú 

Không phải hôm nay mới nói chuyện Nho giáo. Nhưng hôm nay, nói chuyện Nho Giáo chắc hẳn là phải từ một tâm thế mới mà thời đại đã cho phép. Cái tâm thế mới đó, trước hết là tinh thần tự do tư tưởng (dĩ nhiên là tự do tư tưởng nghiêm túc, thực sự cầu thị, chứ không thể là bừa bãi, nói không suy nghĩ). Cái tâm thế mới đó cũng là niềm ước mong tha thiết tìm lại những giá trị đích thực (chứ không phải dởm) của Nho giáo, đặng có thể góp phần xây dựng cuộc sống tinh thần và xã hội Việt Nam ta trên đà tiến hóa hôm nay và mai sau, chứ hoàn toàn không nên ngừng lại ở mức sách vở, tư biện, nói chuyện suông như đã vốn có. Hãy nhớ rằng việc nghiên cứu Nho giáo là chuyện của các nhà khoa học. Nhưng sự quan tâm đến vai trò Nho giáo trong đời sống Việt Nam hôm nay thì còn là của nhiều người, ít ra là các bậc thức giả hay suy nghĩ về đạo lý truyền thống, về tình trạng đạo đức hôm nay trên đất nước mà từ đó thường lại phải tìm nguyên nhân. Hãy nhớ rằng chuyện Nho giáo không chỉ là chuyện của Trung Quốc, Việt Nam, mà còn là chuyện của nhiều nước trong đó có Nhật Bản mà gần đây, qua tài liệu này khác, người Việt Nam (dĩ nhiên là một thiểu số) hơi ngạc nhiên (nếu không nói thích thú) khi biết rằng: để có được một nước mặt trời chói lọi, siêu cường, thần kỳ như ngày nay, hẳn là có vai trò không nhỏ của Nho giáo đã được Nhật Bản hóa.

Đến với Nho giáo hôm nay mà không có tâm thế mới đó, không từ những ý nghĩ mới đó thì trươc hết là phụ với tinh thần đổi mới của đất nước và cũng sẽ thiếu một tiền đề để giành kết quả mới. Tất nhiên, bên cạnh cái tâm thế mới cần có này lại còn phải có những phương pháp luận mới. Mà để có được những phương pháp luận này, trứơc hết lại phải từ sự tổng kết khoa học nghiêm túc về thực trạng phương pháp luận đã được thực thi trong giai đoạn trước. Tôi rất tiếc là không có thời gian để làm công việc mà chắc chắn là có nhiều chuyện này, nhưng tin rằng, nếu việc này làm tốt thì sẽ sáng lên về mặt phương pháp luận cho vấn đề khám phá lại Nho giáo hôm nay nhiều điều bổ ích.

Đó là chưa nói muốn thống nhất trong kết luận mới phải thống nhất phương pháp luận đã được cải tiến nâng cao này. Sau đây là một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận được nêu ra trong tình trạng chưa có sự tổng kết chu đáo, khoa học theo yêu cầu trên nhưng hẳn là không phải từ một con số không về thực trạng nghiên cứu Nho giáo trước hết là ở Việt Nam từ hơn sáu chục năm qua và chút ít là ở Trung Hoa, Liên Xô trước đây.Vả chăng, đây đang là chuyện cần hội thảo, trao đổi, bàn bạc trên con đường tìm chân lý. Cho nên có nói phóng ra cũng là điều cần thiết, ít ra là thuộc biện pháp làm việc.

Vấn đề I: Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông và thân phận của Nho giáo trong hơn thế kỷ rưỡi đã qua. Phải chăng là hãy đến với Nho giáo hôm nay ít nhiều với itnh thần phục hưng phương Đông một cách tỉnh táo.

Có một sự thật là ở thời cổ đại, giữa phương Tây và phương Đông xét ở trình độ văn minh, không nên nói bên nào hơn bên nào. Nhưng muốn nói phương Đông có phần nhỉnh hơn phương Tây thì không phải là không nói được. Bởi trong thời cổ đại, có ba nền văn minh lớn nhất thì thuộc về phương Đông là hai. Phương Tây có nền văn minh cổ đại Hy Lạp. Phương Đông có nền văn minh cổ đại Trung Hoa và Ấn Độ. Nhưng rồi qua thời trung đại, phương Tây do những điều kiện lịch sử cụ thể của mình, đã vượt qua chế độ phong kiến, đua nhau ào ạt tiến lên chủ nghĩa tư bản với sức mạnh như Tuyên ngôn cộng sản của Mác và Ănghen đã chỉ rõ: “một trăm năm phát triển tư bản chủ nghĩa đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất bằng hàng ngàn năm phong kiến cộng lại”. Trong khi đó, phương Đông, cũng là do những điều kiện lịch sử cụ thể của mình đã ngủ lỳ trong chế độ phong kiến trung cổ. Và kết quả là từ thế kỷ XIX, cuộc tấn công phương Tây đối với phương Đông trong tư thế áp đảo đã diễn ra như mọi người đã biết. Có thể nói thế kỷ XIX là thế kỷ nhục nhã của phương Đông trước sự tấn công của phương Tây (trừ hai nước: Nhật Bản và Thái Lan, và trước hết là Nhật Bản). Có sự áp đảo này, dĩ nhiên là do phương Tây có điểm mạnh. ngược lại bị áp đảo là vì phương Đông có điểm yếu. Cái mạnh và cái yếu ở đây trực tiếp thể hiện là trên phương diện hình thái xã hội (một bên là tư bản chủ nghĩa, một bên là phong kiến chủ nghĩa), phương diện kinh tế (một bên chủ yếu là kinh tế công thương nghiệp, kinh tế hàng hóa,một bên chủ yếu là kinh tế nông nghiệp,có kinh tế hàng hoá nhưng không phát triển), phương diện khoa học kỹ thuật (một bên phát ttiển bề thế, một bên yếu ớt kém cỏi)… Sự mạnh yếu này, truy nguyên đến cùng thì còn liên quan tới hai kiểu tư duy vốn có chỗ mạnh chỗ yếu khác nhau. Với kiểu tư duy của phương Tây, chỗ mạnh của nó đã dẫn đến sự phát triển của khoa học thực nghiệm và do đó là kỹ thuật để giành thành tựu văn minh vật chất. Tư duy của phương Đông là kiểu tư duy cầu tính (esprit sphèrique, globale). Tư duy của phương Tây là kiểu tư duy tuyến tính (esprit linéaire). Kiểu tư duy tuyến tính này đã dẫn đến năng lực tư duy phân tích (analytique) tiền đề quan trọng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học thực nghiệm. Sự khu biệt hai kiểu tư duy như trên là tương đối mặc dù chính mức độ tương đối đó đã làm nên tính đặc thù của hai kiểu tư duy. Trong quá trình phát triển thế giới trong đó có sự giao lưu văn hóa ngày một gắn bó, tăng trưởng giữa phương Tây và phương Đông, tính dị biệt giữa hai kiểu tư duy này sẽ bị giảm bớt rõ rệt. Nước Nhật Bản từ thời đại Duy Tân Minh Trị với khẩu hiệu: “Tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật phương Tây” đến thời đại ngày nay với khẩu hiệu “Tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật Nhật Bản” đã chứng tỏ sự khu biệt này bị xóa đi về cơ bản. Nhưng Nhật Bản chưa phải là toàn bộ phương Đông. Trở lại vấn đề áp đảo và bị áp đảo mà có lẽ chơ tới hôm nay vẫn chưa phải đã dành lại một sự cân bằng cần có.Cần nói thêm là kẻ mạnh để áp đảo được không phải không có cái dở.Ngược lại kẻ yếu bị áp đảo không phải không có cái hay.Nhưng một khi đã có sự áp đảo và bị áp đâo thì cái dở của kẻ mạnh cũng thành chiến thắng ,còn cái hay của kẻ yếu cũng thanh chiến bại.Vấn đề là ở chỗ,chúng bị áp đảo có nghĩa là nhất thời bị mai một đi,nhưng chúng vẫn là cái hay,cái mạnh,có điều kiện được phục hưng,nó vẫn góp ích cho sứ sống,trước hết là ở sự sống của xứ sở của chúng. Tôi đã nghĩ về Nho giáo, cũng như nhiều phương diện khác thuộc văn minh, văn hóa, đặc biệt là nhiều giá trị tinh thần khác của phương Đông trong qúa khứ từ niềm tin vào những điều đã trình bày trên đây về sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông. Cũng nói thêm: trong khi chuẩn bị để viết những điều trên đây, tôi đã đọc lại Nho giáo của Trần Trọng Kim mà suốt mấy chục năm qua từ ngày nó ra đời hầu như đã bị tấn công từ cả hai phía: tả hữu, bỗng thấy có mặt gặp gỡ công trình này, và dấy lên một mong muốn: giá gì chúng ta cũng chịu đọc kỹ Trần Trọng Kim hơn. Và không chỉ đọc kỹ mà còn là đọc trong một tâm thể nhận thức về vấn đề Đông Tây như trên đã nói dù còn là rất sơ lược.

Chuyện cần kết luận ở đây là: đến với Nho giáo hôm nay mà không thương cho cái thân phận của nó trước cuộc tấn công áp đảo không ít phũ phàng của phương Tây đối phương Đông thì dứt khoát là không ổn, thì dứt khoát là thiếu đi một điều kiện tiên quyết để nhận thức vấn đề.

Vấn đề II: Vấn đề văn bản và thực tiễn.Với những ai muốn có sự chuẩn xác, khoa học cao, trong việc luận bàn thẩm đinh về Nho giáo xin hãy coi chừng tính phức tạp của nó

Khoa học nào cũng vậy, trước hết là phải xuất phát từ việc nhận diện đối tượng nghiên cứu. Ở đây, đối tượng nghiên cứu Nho giáo là gì? Vấn đề tưởng như không thành vấn đề mà thực tế qua tình hình nghiên cứu lại đã thành vấn đề. Nho giáo chỉ là Khổng giáo và cận viễn phái thuộc hậu duệ của Khổng giáo thôi ư? Ngay trong giới hạn này, không phải là không có người bị coi là lạc dòng, lạc giống. Ví như:” Cuối đời Tây Hán cho đến đời Lưỡng Tấn, tuy có 5,3 ông nhà Nho Vương Sung, Tuân Duyệt, Từ Cán, Trọng Trường Thống, Mã Dung, Trịnh Huyền, bảo các người ấy là nhà Nho, vẫn là Nho, bảo họ thật là chính phái của Khổng học. e họ cũng chẳng dám thừa nhận. Thôi chúng ta chẳng cần dặt ép họ vào “Khổng phái” (Phan Bội Châu: Khổng học đăng chương III: Khổng học viễn phái) và Phan Khôi cũng chẳng đã không thừa nhận Tống Nho là Nho giáo đó sao? Còn Mặc gia, Pháp gia thì hẳn không phải Khổng giáo rồi. Nhưng đó là với người Trung Hoa, với người có học vấn chu đáo. Chứ ở Việt Nam ta, với không ít người, nhất là trong dân gian, trong khái niệm Nho gia, Nho giáo, thì hiện tượng xô bồ trong nhận thức không phải là không có. Thậm chí, còn có hiện tượng, hễ ai biết chữ Hán (mà quen gọi là chữ Nho) thì đều là Nho cả, là thuộc Nho giáo cả. Nêu qua một chút như trên, ít ra cũng là tự nhắc: khỉ nói về Nho giáo, cần có tính minh xác, không thể xô bồ trước sự phân giòng phân hướng rất phức tạp của Nho giáo nói chung, Khổng giáo nói riêng.

Nho giáo như mọi người đã biết là tồn tại dưới hai trạng thái cơ bản: văn bản và thực tiễn (tức là sự chi phối của nó vào đời sống xã hội). Nho giáo có Tư thư, Ngũ kinh vẫn được bao đời nay coi là kinh điển nói chung là cố định, ổn định. Nhưng việc tiếp nhận, nhận thức nội dung văn bản của người đời thì rõ là khá phức tạp mà trước hết một phần là do chính ngôn ngữ văn bản ít nhiều mang tính cổ đại này đã gây nên. Đó là chưa kể đến tính chủ quan trong tiếp nhận văn bản của người tiếp nhận dẫn đến những cách hiểu văn bản khác nhau điều này điều khác vốn cũng mang tính quy luật tất yếu. Xem các sách chú sớ của Trung Quốc sẽ thấy rất rõ tình hình đó chính trên quê hương Nho giáo. Xem Khổng học đăng của Phan Bội Châu, cũng được thêm nhiều dẫn chứng cho điều đang nói này. Rồi nữa, đọc kỹ lại cuộc tranh luận về Nho giáo giữa cụ Tú Phan Khôi với học giả Trần Trọng Kim trên báo “Phụ nữ tân văn” khoảng năm 1930 hẳn là thấy nhiều điều khác nhau giữa hai con người thuộc hai kiểu trình độ Nho học uyên thâm này. Sự đối lập này đã thể hiện ở hai cấp độ nhận thức, chi tiết, bộ phận và khái quát, bản chất Nho giáo. Ví dụ: chỉ một chữ QUÂN (trong cặp từ quân chủ) mà hai họ Phan, Trần đã không chịu nhau về cách hiểu. Họ Phan chỉ hiểu theo nghĩa thông thường là VUA do đó, chê bai chữ TRUNG QUÂN là không hợp thời. Còn họ Trần lại nói chữ “quân” tức là chữ “chủ” . Họ Trần giải thích:” Khi xưa các dân tộc mới nhóm lên, ai có thể lực giữ được một chỗ nào đó thì gọi là quân. Vậy chữ quân với chữ chủ là một nghĩa. Nhưng quân thì nói về đường chính trị, mà chủ thì dùng về việc gì cũng được” (Nho giáo, quyển hạ, Bộ Giáo Dục, Trung tâm học liệu xuất bản. Sài Gòn 1971, tr 406). Họ Trần từ sự giải nghĩa trên, đi đến kêt luận: “Khổng giáo phát minh ra trong thời đại chỉ biết có đế có vương cho nên cũng nhận các bậc ấy là quân và dạy những bậc ấy phải làm chức vụ của mình, nghĩa là phải bảo dân, cho nên mới nói trung quân chứ không nói trung vương hay trung đế”. Cũng theo họ Trần, về sau “theo lối chuyên chế mà hiểu cái nghĩa trung quân hẹp đi cho nên mới nói trung quân là trung với nhà làm vua”. Để rõ thêm quan điểm của mình, họ Trần còn dẫn ra câu nói của Khổng giáo: người trung thần là “người tòng đạo bất tòng quân” Giữa họ Phan và họ Trần, trong trường hợp này, ai đúng ai sai? Nhất thiết là phải có trọng tài giỏi. Điều có thể nói trước ở đây là cả hai đều đụng đến cách đọc văn bản từng xảy ra trong thực tiễn nghiên cứu Nho giáo mà người đến sau thuộc thế hệ hôm nay rất cần rút kinh nghiệm, và biết cách lựa chọn. Riêng tôi, tôi muốn chọn cách tiếp cận văn bản của họ Trần. bởi thấy khi đụng đến kinh điển Nho gia, không chỉ một chữ quân là như thế mà còn nhiều chữ khác cũng là vậy. Ở đây, quả có vấn đề lịch sử ngữ nghĩa của từ, mà người nghiên cứu cần biết trong suy luận, kết luận về các vấn đề của Nho giáo.

Đến với Nho giáo, còn có vấn đề thực tiễn của nó cũng có một sự biến huyễn vô cùng phức tạp vì ở đây đã có vai trò chi phối của thực tiễn đời sống xã hội vốn dĩ cũng biến huyễn thiên hình vạn trạng. Bởi thế mới hình thành ra lịch sử Nho giáo thời này thời khác ở Trung Hoa và cả ở Việt Nam. Nói lại điều đó đúng là thừa nhưng thiết tưởng không thừa khi ghi thêm điều này: Không thể đồng chất Nho giáo trong văn bản và Nho giáo trong đời sống thực tế nghiên cứu như đã có đó đây trong lịch sử phê bình Nho giáo ở nước ta và dĩ nhiên cũng là ở Trung Hoa. Tôi có đọc lại tiểu luận Lối học khoa cử và lối học Tống Nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không? của cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng đăng trên báo Tiếng Dân (được in lại trong Khổng học đăng của Phan Bội Châu) quả có thấy ít nhiều hiện tượng đồng nhất này, nhất là đoạn cụ nói về Nho giáo thời Nguyễn (đặc biệt là dưới triều Tự Đức). Rồi sau này, qua nhiều bài viết về Nho giáo, qua nhiều ý kiến về Nho giáo (trong đó có ý kiến của người có cương vị), tôi càng có ấn tượng rõ thêm về hiện tượng đồng nhất văn bản Nho giáo với thực tiễn xã hội mà trong đó Nho giáo chỉ là một phương diện ảnh hưởng chứ không phải là tất cả. Đó là chưa kể tới hiện tượng hiểu văn bản Nho giáo rất cạn cợt, (thậm chí có người hình như không đọc gì đáng kể về Nho giáo, nhưng đã không ít đại khôn về Nho giáo). Cho nên, nếu quả có điều như tôi vừa nói, và nếu thực sự muốn có một sự nhận thức khoa học về Nho giáo thì xin hãy giảm bớt, nếu không muốn nói là chấm dứt tình trạng đó. Vì điều này thuộc tư cách khoa học nhưng cũng là phương pháp khoa học.

Vần đề III: Không thể giải mã Nho giáo bằng lối vận dụng lý thuyết giai cấp và lý thuyết về hình thái xã hội một cách máy móc mang tính phổ biến từng có. Hãy bổ sung vào các thứ lý thuyết có tính chất phương pháp luận đó bằng phương pháp tiếp cận văn minh luận, văn hóa luận, nhân tính luận.

Giai cấp và hình thái xã hội là những thực thể khách quan. Lý thuyết giai cấp và hình thái xã hội là sự phản ánh trung thành các thực thể khách quan đó. Việc vận dụng lý thuyết giai cấp và lý thuyết về hình thái xã hội vào việc giải mã các hiện tượng kinh tế,,xã hội,văn hoá đã đưa đến những kết quả khoa học đáng kể.Không ai có thể chối cãi thực tế đó.Tuy nhiên cũng lại có một thực tế khác là sự vận dụng lý thuyết giai caapshình thái xã hội một cách thô thiến máy móc không chỉ trong khoa học nhân văn từng được mệnh danh là Mác xít và cả trong đời sống chính trị xã hội.., đã gây ra không ít sự phi lý. Nhà khoa học nếu quả là khoa học đích thực hẳn cũng không chối bỏ, làm ngơ trước sự thật thứ hai đó.

Tôi đã nói ở trên là chưa đọc hết tất cả văn bản nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam ta nhưng ít ra cũng đã đọc được một số tài liệu nghiên cứu Nho giáo thời Pháp thuộc, ở miền Nam trước 1975, ở Miền Bắc sau hòa Bình lập lại (1954) và một ít là của Liên Xô va Trung Hoa trước đây nên xin được mạo muội có lời nhận xét bước đầu (để rồi còn điều chỉnh về sau) là: có 2 loại: loại đến với Nho giáo không bằng lý thuyết giai cấp và lý thuyết hình thái xã hội và loại ngược lại, tức là vận dụng lý thuyết giai cấp và hình thái xã hội làm hệ quy chiếu đối với Nho giáo. Tiêu biểu cho loại trên là các công trình Nho giáo của Trần Trọng Kim, Khổng học đăng của Phan Bội Châu …, những công trình này, chưa nói đúng sai thế nào, nhưng trước hết đó là những công trình chứng tỏ các tác giả của chúng thuộc sách thuộc vở của Nho giáo phong phú bề thế mà chưa có một công trình nghiên cứu Nho giáo nào thuộc loại sau có được. Tất nhiên đọc các công trình này, tôi cũng có ý nghĩ: nếu các tác giả đó vận dụng thêm lý thuyết giai cấp va ly thuyet hinh thai xa hoi thì kết quả là sao? Hay hơn chăng? Có khả năng là như thế. Nhưng nói vậy, chứ chắc gì? nếu không vận dụng lý thuyết đó một cách nhuần nhuyễn. Lý thuyết giai cấp và hình thái xã hội được vận dụng theo kiểu giản đơn, thô thiển quả đã đưa đến những kết luận về Nho giáo với hôm nay là khó chấp nhận trọn vẹn. Có thể nêu lại một vài nhận định loại đó như sau: “Xu hướng chính trong đạo Khổng là biện hộ cho sự thống trị của các giai cấp có đặc quyền và ca ngợi ý trời …Trong suốt nhiều thế kỷ đạo Khổng là hệ tư tưởng thống trị của Trung Quốc phong kiến (Từ điển triết học. Nxb Tiến bộ, Maxcơva 1975) “Triết học Khổng Tử tập đại thành của giai cấp phong kiến thống trị Trung Quốc phong kiến” (Lã Chấn Vũ: Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc. Bản dịch của Nxb Sự thật, Hà Nội – 1964) “Học thuyết chính trị của Khổng Tử có mặt tiến bộ, cùng có mặt bảo thủ và mặt bảo thủ là chủ yếu. Nhìn về những hoạt động chính trị thực tế của ông từ thời trung niên trở về sau thì thấy càng bảo thủ, phản động hơn nữa. Thích ứng với học thuyết chính trị có tính chất hai mặt của ông, chủ nghĩa triết học của ông, tuy trong đó có nhân tố hoặc khuynh hướng duy vật chủ nghĩa, nhưng xét về mặt cơ bản, thế giới quan của ông là sự hỗn hợp chiết trung của chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan” (Quang Phong – Lâm Duật Thời. Bàn về Khổng Tử. Bản dịch Nxb Sự thật – Hà Nội 1963). “Khổng Tử luôn nói đến “nhân nghĩa” nhưng thực tế là ông ta tuyên truyền cho xã hội có đẳng cấp, bảo vệ quyền lợi của tầng lớp trên, buộc con người lao động phải phục tùng giai cấp thống trị”. (Văn nghệ số 52 (685) ra ngày 18-12-1976)... Quan điểm giai cấp máy móc thô thiển thường đã biến mọi vấn đề thành vấn đề chính trị đơn thuần cũng như quan điểm về hình thái xã hội theo kiểu thô thiển cũng đã dẫn đến cái bệnh tự mãn vô sản coi cái gì thuộc hình thái xã hội chủ nghĩa cũng hơn hết mà Lênin từng phê phán. Các thứ thô thiển, không đúng đó không chỉ chi phối một số người trong việc nhận xét chung về Nho giáo như trên đã dẫn ra một đôi ví dụ, nó còn chi phối cả trong cách hiểu và phán xét các yếu tố của Nho giáo. Chung quanh hai chữ quân tử và tiểu nhân chẳng hạn. Đúng là Nho giáo đã có một cách phân loại con người trong xã hội thành hai hạng như thế. Nhưng phải chăng là hai khái niệm này hoàn toàn tương ứng với hai khái niệm: Thống trị và bị trị, giai cấp phong kiến quý tộc và nhân dân lao động mà sau này học thuyết về giai cấp và hình thái xã hội Mác xít nêu lên? Rõ là không ít người Trung Hoa và Việt Nam theo quan điểm Mác xít thô thiển đã đi đến sự tương ứng đó để quy Nho giáo là công cụ tinh thần của giai cấp phong kiến thống trị. Lã Chấn Vũ từng viết trong “Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc”: Theo Khổng Tử thì người quân tử phải thoát ly khỏi lao động của sản xuất và “cai trị người”. kẻ tiểu nhân phải “làm việc chân tay” và phải bị người cai trị. Giữa quân tử và tiểu nhân có một bức tường về phẩm chất, không thể nào vượt được. Sách luận ngữ nói:

“Người quân tử có sức mạnh mà không có đạo nghĩa thì làm loạn.
Kẻ tiểu nhân có sức mạnh mà không có đạo nghĩa thì trộm cắp” (Dương Hóa).
“Người quân tử biết chịu đựng cái nghèo. Kẻ tiểu nhân nghèo thì lập tức sẽ làm bậy (Vệ Linh Công).
“Người quân tử ưa nghe đạo nghĩa”.Kẻ tiểu nhân ưa nghe điều lợi (Lý Nhân).
“Ngoài mặt thì nghiêm chỉnh mà trong lòng thì yếu ớt, điều đó thường ở kẻ tiểu nhân và có khác chỉ bọn trộm cắp trèo tường đục vách vậy ru” (Dương Hóa).
“Người quân tử mong muốn đạo đức. Kẻ tiểu nhân mong muốn ruộng đất. Người quân tử lo lắng giữ pháp luật: Kẻ tiểu nhân lo lắng cầu lợi” (Lý Nhân).
“Người quân tử lúc nào cũng ung dung thanh thản. Kẻ tiểu nhân luôn luôn băn khoăn” (Thuật Nhi).
“Đức của người quân tử như gió, đức của người tiểu nhân như cỏ. Gió thổi trên cỏ tất cỏ lướt theo (Nhan Uyên).
“Người quân tử mà bất nhân cũng có thể chăng. Kẻ tiểu nhân mà có đạo nhân thì chưa bao giờ có vậy” (Hiến Vấn).
“Chỉ có đàn bà con gái và kẻ tiểu nhân là khó dạy, gần gũi họ thì họ nhờn, xa họ thì họ oán trách” (Dương Hóa).
“Chỉ có bậc thương trí và kẻ hạ ngu là không bao giờ thay đổi” (như trên).

Như vậy, giữa quân tử và tiểu nhân có sự cách biệt về phẩm chất đã định sẵn từ trước. Trong đám những người quân tử, lẽ tự nhiên cũng có thể có người hư hỏng nhưng trong đám tiểu nhân thì tuyệt đối tìm không ra “người có đạo nhân” … Đọc những dòng trên đây của học giả Lã Chấn Vũ, thú thật là tôi chưa dám nói lời cuối cùng nhưng bước đầu thì thấy có sự hoài nghi khoa học và tự hỏi? Có hẳn là Khổng Tử đã nghĩ như họ Lã nghĩ thế không? Trong những câu định nghĩa về quân tử và tiểu nhân mà vị học giả này đã nêu ra (chưa đầy đủ so với những gì các Nho giáo đã nói về quân tử, tiểu nhân đó) liệu đã đủ để kết luận rằng quân tử là kẻ thống trị, còn tiểu nhân là nhân dân bị trị dù rằng có câu: “Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dĩ sử giả” (Luận ngữ - Dương Hóa – XVII). Có thể hiểu như thế này được chăng: quân tử và tiểu nhân trước hết là sự phân loại con người trong xã hội không phải trên bình diện kinh tế, chính trị mà là bình diện đạo đức vốn là điều cốt lõi nhất trong tư tưởng Khổng Tử cũng như Nho giáo nói chung. Nếu đúng là vậy,thì sự khác biệt ở đây là sự khác biệt về phẩm chất đạo đức,về nhân cách làm người trong cuộc sống cổ kim đông tây,chứ đâu chỉ trong một thời đại nào mặc dù sự khu biệt của Khổng Tử là từ thực tiễn đời sống xã hội của ông. Thử đọc lại chính những câu nói về quân tử và tiểu nhân mà Lã Chấn Vũ đã kể ra trên đây bằng cách tiếp cận này, chúng ta sẽ có cách hiểu khác. Ví thử Khổng Tử và môn đệ trung thành của ông như Mạnh Tử, đã phân loại quân tử và tiểu nhân theo kiểu giai cấp như vậy, đặc biệt là khinh tiểu nhân tức là khinh người dân như vậy thì làm sao lại có thể nói ra câu như Mạnh Tử đã nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Một câu nói mà thiết tưởng tới mãi ngày nay, chưa có cách nói nào vượt hơn được. ít ra là trên phương diện ngôn từ. Nói dân vì bang bản đã là hay nhưng vẫn không bằng cách nói này, vì ở đây còn có ý niệm về sự tương quan so sánh giữa chữ “dân” và chữ “quân” (Dân vi quý, quân vi khinh) mặc dù đã phải hiểu chữ khinh là coi nhẹ, chứ không có nghĩa là khinh bỉ. Nhân đây cũng muốn được đề nghị giới nghiên cứu Nho giáo ở nước ta hôm nay, trong khí thế đổi mới của đất nước, hãy xét lại thực chất tư tưởng nhân dân của Nho giáo, đặc biệt là của Mạnh Tử là gì? Có phải cũng có mặt tích cực nhưng tiêu cực là chính không? Có phải chỉ là tư tưởng điều hòa mâu thuẫn giai cấp không? Nếu là điều hòa mâu thuẫn giai cấp thì nghĩ về sự điều hòa như thế nào cho đúng với sự sống vốn là thiên hình vạn trạng, không phải chỉ với quá khứ mà còn là trước mặt và lâu dài? Sự điều hòa mâu thuẫn này có phải chỉ nhằm duy trì địa vị thống trị của giai cấp phong kiến quý tộc không? Ở đây, quả có hai cái logic nội tại (logique interne) cần được xem xét, khu biệt để nhận diện, nhận chân Nho giáo. Nho giáo là học thuyết chính trị có ý nghĩa đạo đức hay là học thuyết đạo đức có ý nghĩa chính trị? Và sẽ có thể có ba khả năng quan hệ giữa hai yếu tố: chính trị và đạo đức: 1) Chính trị là chính, đạo đức là phụ, 2) Đạo đức là chính, chính trị là phụ. 3) Đạo đức và chính trị là đồng đẳng. Khái niệm: chính phụ ở đây tương đương với khái niệm: chính luận và hệ luận. Sự nhận diện Nho giáo trong đó có khái niệm quân tử - tiểu nhân, với yêu cầu nghiêm ngặt, chuẩn xác nhất đòi hỏi việc nhận diện chuẩn xác trong ba quan hệ vừa nói. Ví dụ: nếu thừa nhận quan hệ 2 thì khái niệm quân tử là người tốt, tiểu nhân là người xấu – (tốt xấu là sự phân định theo quan điểm đạo đức). Người tốt là nhờ có học. người xấu là vì không học (nhân bất học, bất tri lý). Trong thực tế, người có học, sẽ dễ có địa vị xã hội cao, trong đó có địa vị chính trị. Và từ địa vị chính trị sẽ dẫn đến địa vị kinh tế, mà ở cái xã hội có giai cấp sẽ là thành viên của giai cấp thống trị mà ở đây cũng có hai mặt: thống trị có nguồn gốc đạo đức và đạo đức được bao lưu;thống trị bị tha hoá ,phi đạo đức. Logic về phía quân tử là thế? Còn logic về phía tiểu nhân là gì? Không tốt là vì không học do đó không có địa vị xã hội nói chung, địa vị chính trị nói riêng, không có địa vị chính trị sẽ không có địa vị kinh tế. Số phận bị trị sẽ là tất yếu với anh ta. Và ở đây cũng sẽ có hai mặt. Bị trị nhờ gắn với nhân dân, với lao động mà có đạo đức. Nhưng cũng có không ít khả năng vô đạo đức do không được học hành, không có văn hóa. Theo tôi học thuyết Nho giáo, đặc biệt là với Khổng Mạnh là đi theo cái logic 2 như vừa miêu tả và logic 2 này không chỉ là sản phẩm của thời đại phong kiến mà còn là “quy luật muôn đời” của sự sống con người, bất cứ ở thời nào, nơi nào trên trái đất. Cũng cần nói thêm rằng: trong quan niệm của người Trung Hoa cổ đại ,hai khái niệm quân tử, tiểu nhân không chỉ là sự phân loại thế giới con người theo bình diện đạo đức, nhân cách,mà còn là theo thuyết âm dương tức là thuộc vũ trụ quan. Theo thuyết này (Kinh Dịch) thì:

DƯƠNG là: Nam, Cường ,thiện, đại, chính, thành, thực, quân tử, phú, quý.
ÂM là: Nữ, nhu, ác, tiểu, tà, ngụy, hư, tiểu nhân, bần, tiện.

Nói những điều co the chưa đúng hay có thể gây băn khoăn như trên, tôi muốn đi đến đề nghị hãy bổ sung vào lý thuyết giai cấp và lý thuyết hình thái xã hội là lý thuyết văn minh luận. văn hóa luận, nhân tính luận trong khi tiếp cận Nho giáo. Các quan điểm được bổ sung có ý nghĩa phương pháp luận khoa học này sẽ cho phép người nghiên cứu vượt được hạn chế máy móc thô thiển trong khi đến với Nho giáo. Nói cụ thể hơn, là với giai cấp luận và hình thái xã hội luận, người nghiên cứu đã thấy Nho giáo, là sản phẩm của giai cấp nào? thuộc hình thái xã hội nào. Nhưng với các phương pháp tiếp cận được bổ sung đó, người nghiên cứu sẽ coi đối tượng nghiên cứu của mình (đây là Nho giáo) là sản phẩm của nhân loại trên tiến trình văn minh, trong đó có yếu tố nhất thời và yếu tố trường tồn. Xin lấy ví dụ về vấn đề tu nhân mà không học thuyết nào trong lịch sử tư tưởng nhân loại có công phu, có cảm hứng xây dựng như Nho giáo để bàn. Nếu chúng ta chỉ nghĩ nó là sản phẩm của giai cấp thống trị thời phong kiến thì dù có thừa nhận cho nó một ý nghĩa tích cực nào đó, nhưng cơ bản vẫn là lỗi thời rồi, là thua mọi thứ lý thuyết về việc xây dựng con người mới ngày nay rồi.Trong khi đó, chúng ta quên mất câu nói thực sự đã làm nên một Hồ Chí Minh như dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đã có là: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm của nó là: lòng nhân ái cao cả.Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Và Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu lợi ích cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lai một chỗ, tôi tin rằng họ sẽ chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vi ấy (Trần Dân Tiên Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Bản dịch Trung Văn của Trương Niệm Thức (Hồ Chí Minh truyện) NXB Tam Liên Thượng Hải, tháng 6 – 1949 tr. 91. Dẫn theo Phan Văn Các trong bài Hồ Chí Minh với Nho giáo. Sách Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. NXB KHKT Hà Nội 1990). Rõ ràng là nếu chỉ theo lý thuyết giai cấp và gì gì đó một cách thô thiển, mà không bằng quan niệm văn minh, văn hóa, nhân loại thì làm sao có được những ý tưởng cao đẹp thế,làm sao nhìn ra cái chân lý rằng: những người như Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên “đều muốn hạnh phúc cho loài người, mưu lợi ích cho xã hội” (chứ không phải cho giai cấp thống trị), làm sao nhìn ra khả năng “ chung sống rất hoàn mỹ như nhũng người bạn thân thiết giữa các vị ấy”. Tôi rất mong rằng những ai trên đất nước ta hôm nay và mai sau khi đến với Nho giáo hãy suy nghĩ nhiều, suy nghĩ kỹ kỹ về câu nói trên đây của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, coi đó là phương hướng, là phương pháp luận cơ bản, là tâm thế mới cần có cho mình.

Vấn đề IV: Nho giáo ích gì cho cuộc sống đất nước hôm nay và mai sau? Hãy nhìn sang nước Nhật xem sao! Từ cái phức tạp đến cái giản đơn tạm thời.

Có một sự thực là trong thời trung đại, ở Trung Hoa đã đành mà ở nước ta cũng vậy, Nho giáo đã có một vai trò rất lớn mà sự nhận thức của người đời sau về vai trò đó, so với cha ông thủa trước là khác nhau rõ rệt, thậm chí là đối cực. Ở nước ta, ngày trước từ kinh đô đến các địa phương, từ tỉnh đến xã, hầu hết đều có nhà tư văn, văn chỉ thờ Khổng Tử và thất thập nhị hiền. Chính đó là bằng chứng cho sự thừa nhận vai trò to lớn của Nho giáo, Khổng giáo. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong phạm vi khu vực do chính quyền cách mạng trực tiếp quản lý, chuyện thờ cúng Khổng Tử và bảy mươi hai ông hiền đó, coi như là chấm dứt. Ngay tại nhà Văn Miếu Hà Nội, tượng Khổng Tử bị cất đi (may là chưa đập vỡ). Ai đề cao vai trò Nho giáo trong lịch sử thì coi là lạc hậu. Nhà sư phạm nổi tiếng Nguyễn Lân chẳng đã bị phán cho ra trò vì đã viết bài“Tiên học lễ hậu học văn” trong đó tỏ ý cho rằng trẻ con học đường ngày nay sinh ra hư nết, kém đạo đức so với trứơc là vì nền giáo dục mới không đi đúng nguyên lý: Tiên học lễ hậu học văn, và cho rằng ngày xưa sở dĩ có được những người có phẩm chất cao đẹp, sáng chói tới muôn đời như Chu An, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng … là nhờ Nho giáo, nhờ biết đặt lễ trước văn.

Nhưng sự đời lại bắt đầu đổi khác. Cái dư luận xã hội, dĩ nhiên trước hết vẫn là các bậc thức giả, cho rằng không thể xem thường Nho giáo, thậm chí phải tìm lại những mặt tích cực của Nho giáo cho cuộc sống hôm nay xem ra có chiều phát triển, ít ra cũng không bị phê phán như cách đây mười năm. Tại Văn Miếu Hà Nội, tượng Khổng Tử được đưa từ kho ra đặt lại. Đúng là thời gian đang có chiều ủng hộ Nho giáo. Nhất là với ai đọc sách viết về nước Nhật siêu cường hiện nay, đều thấy một chân lý là: đạo đức không chỉ là sự phản ánh điều kiện kinh tế xã hội, mà một xã hội muốn phát trển kinh tế xã hội phải có một nền đạo đức kèm theo, làm nền. Tác giả cuốn sách “Vì sao Nhật Bản thành công” (Michio Mouichima) cho người đọc thấy khá rõ thế nào là bản lĩnh tinh thần, đạo lý của nước Nhật qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó có sự tiếp thu Nho giào từ Trung Hoa tới và được Nhật hóa cùng với Thần giáo và Võ sĩ đạo vốn là đặc sản tinh thần của chính mình, tất cả được hỗn hợp làm nên một bản lĩnh tinh thần mang bản sắc Nhật Bản từ lâu đời và do đó tạo được một tư thế vững chãi trong việc tiếp nhận văn minh phương Tây. Tác giả cuốn sách đã hé cho người đọc thấy phần nào sự khác biệt giữa Nho giáo Trung Hoa và Nho giáo Nhật Bản. Ví dụ: ở Trung Hoa, chữ “thứ” được đặt trên cả chữ “trung”. Ở Nhật, chữ “thứ” bị quên lãng, mà nổi lên lại là chữ “trung”mà chữ trung ở đây cùng có phần khác ở Trung Hoa. Ở Trung Hoa, trung lúc đầu có nghĩa là đúng giữa lòng mình (tức là hướng nội) sau đó mới có nghĩa là trung với vua: trung quân (tức là hướng ngoại) có nghĩa là phục tùng. Người Nhật đã tìm sức mạnh cho sự phát triển đất nước bằng tinh thần phục tùng này, do đó ở Nhật, dĩ nhiên là trước đây, hầu như không đặt vấn đề cá thể. Điều này, đối với phương Tây, là bạn chế lớn. Nhưng với Nhật Bản thì lại là một nguồn động lực để phát triển đất nước. Tất nhiên ở đây, trong cái động lực này đã ngầm chứa một nguy hiểm. Chủ nghĩa phát xít Nhật từng gây đau khổ cho khu vực, ít nhiều có nguồn gốc từ cái lối tạo sức mạnh đó.Cách nhìn của chúng ta, người ngoài cuộc về Nhật Bản trên phương diện này là như thế. Có điều là đối với người Nhật thì hình như đến ngày nay, vẫn thừa nhận vai trò tích cực của Nho giáo. Nhiều người nước ngoài đến Nhật Bản hôm nay, ít nhiều cũng thừa nhận sự thật đó trong nếp sống người Nhật mặc dù vẫn thấy sự “đổi đời”, nhất là trong đám thanh niên.

Từ kinh nghiệm Nhật Bản tạm cho nói như trên đã chính xác thì liệu đối với nước ta là thế nào với Nho giáo. Ở đây quả là có chuyện trứơc mắt và lâu dài, chuyện khoa học công phu và chuyện ăn xổi nhưng ăn xổi mà vẫn ngon lành. Thực tiễn vẫn đòi hỏi cao nhưng vẫn cho phép ăn xổi như thế. Ăn xổi chính là sự tiếp thu bộ phận, chưa phải là tiếp thu hệ thống. Nhưng sự nghiên cứu hệ thống sẽ điều chỉnh việc tiếp thu bộ phận. Với cách đặt vấn đề như vậy, tôi cho rằng đối với Nho giáo hôm nay trên đất nước ta, có một điều cần làm sống dậy càng nhiều càng tốt và có hai điều cần khắc phục. Điều cần làm sống dậy không là gì khác, chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói và quan trọng hơn là đã tự mình phấn đấu thực hiện suốt một đời để từ đó mà dân tộc được nhờ: đó là tinh thần tu thân theo lôgíc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Xây dựng đất nước hôm nay, không chỉ một lôgíc này,nhưng thực hiện được logic này càng nhiều bao nhiêu thì chắc chắn nhân dân, đất nước được nhờ bấy nhiêu, chắc chắn nạn tham nhũng đang phát triển như bệnh hạch sẽ được chặn lại dù là không thể nào chặn hết Còn điều cần khắc phục trước hết là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò đạo đức đi đến coi nhẹ vai trò pháp luật (vốn là nhược điểm của Nho giáo).Trong lịch sử Trung Hoa, sự ra đời của Pháp gia để chống lại Nho gia là bởi lẽ đó. Hôm nay, ta đề cao tinh thần tu thân, nhưng lại phải rất coi trọng tinh thần pháp lý, nếu không thì chẳng đi đến đâu. Đạo lý cộng với pháp lý, với khoa học mới đẩy được xã hội tiến lên. Thứ đến là vấn đề giải phóng cá nhân. Một trong những hạn chế lớn nhất nữa của Nho giáo là không đặt ra được vấn đề cái tôi cá nhân để giải quyết hợp lý. Nho giáo chỉ đề cao cái Tôi đạo đức, cái Tôi nghĩa vụ mà không thấy được cái Tôi triết học, cái Tôi với tư cách động lực phát triển của xã hội. Chúng ta cần rút kinh nghiệm thế giới trong vấn đề xử lý với cái Tôi này sao cho thỏa đáng. Nhưng trước hết cần tìm cách khắc phục hạn chế của Nho giáo trong việc đối xử với cái Tôi này.

Để kết thúc bài viết này, một lần nữa, tôi xin được coi tất cả những lời lẽ trên đây chỉ là sự tản mạn, ban đầu, ghi lại để nghĩ tiếp về sau, và quan trọng hơn là để được các bậc đàn anh, các bạn đồng nghiệp chỉ bảo. Với tôi khoa học là “Chercher et rechercher”,tìm đi tìm lại, không thể khác.

 Hà Nội 1994
(Nguồn: viet-studies)

14 tháng 7, 2010

Nhìn từ xa… Tổ Quốc

Nguyễn Duy

HỌC MỖI NGÀY. Dù có sao vẫn Tổ Quốc trong lòng mạch tâm linh trong sạch vô ngần còn thơ còn dân. Ta là dân – vậy thì ta tồn tại.  Giọt từng giọt nặng nhọc Nặng nhọc thay Dù có sao đừng thở dài. Còn da lông mọc còn chồi nảy cây !

*

Ðối diện ngọn đèn
trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng
Ðêm bắc bán cầu vần vụ trắng
nơm nớp ai rình sau lưng ta
Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà
xa vắng
núi và sông
và vết rạn địa tầng
Nhắm mắt lại mà nhìn
thăm thẳm
yêu và đau
quằn quại bi hùng
Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

*

Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá
ai cứ sau mình lẩn quất như ma
Ai ?
im lặng
Ai ?
cái bóng !
A… xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng
bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà
Thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu me ta

*

Có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
ta là ta mà ta cứ mê ta
Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm
hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương
mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm
Vâng – một thời không thể nào phủ nhận
tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng
thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên thum thủm cả tim gan

*

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt không nguôi vón sạn gót chân
nhói dài mỗi bước
Thời hậu chiến vẫn ta người trong cuộc
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày ?
Ai ?
không ai
Vết bầm đen đấm ngực

*

Xứ sở nhân tình
sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu
nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng
Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện
ma cụt đầu phục kích nhà quan
Ai ?
không ai
Vết bầm đen quều quào giơ tay

*

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma
ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…
quỉ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài
Ðêm huyền hoặc
dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác
mắt ai xanh lè lạnh toát
lửa ma trơi
Ai ?
không ai
Vết bầm đen ngửa mặt lên trời

*

Xứ sở linh thiêng
sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh
Giấy rách mất lề
tượng Phật khóc Ðức Tin lưu lạc
Thiện – Ác nhập nhằng
Công Lý nổi lênh phênh
Ai ?
không ai
Vết bầm đen tọa thiền

*

Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
Tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
tuổi thơ bay như lá ngã tư đường
Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
mở mắt… bóng nhân tài thất thểu
Ai ?
không ai
Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh

*

Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…
Ðiếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn
Vật giá tăng
vì hạ giá linh hồn
Ai ?
không ai
Vết bầm đen vò tai

*

Xứ sở cần cù
sao thật lắm Lãn Ông
lắm mẹo lãn công
Giả vờ lĩnh lương
giả vờ làm việc
Tội lỗi dửng dưng
lạnh lùng gian ác vặt
Ðạo Chích thành tôn giáo phổ thông
Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…
quyền lực bày ra đấu giá trước công đường
Ai ?
không ai
Vết bầm đen nhún vai

*

Xứ sở bao dung
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia li toe toét cười
Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê
Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh
nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về
Ai ?
không ai
Vết bầm đen rứt tóc

*

Xứ sở kỷ cương
sao thật lắm thứ vua
vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chỉa
vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…
Lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ
Lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa
Luật pháp như đùa như có như không có
một người đi chật cả con đường
Ai ?
không ai
Vết bầm đen gập vuông thước thợ

*

?…
?…
?…

*

Ai ?
Ai ?
Ai ?
Không ai !
Không ai !
Không ai !
Tự vấn – mỏi
vết bầm đen còng còng dấu hỏi

*

Thôi thì ta trở về
còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại
còn chút gì le lói ở trong lòng

*

Ðôi khi nổi máu lên đồng
hồn thoát xác
rũ ruột gan ra đếm
Chích một giọt máu thường xét nghiệm
tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm
tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề
phật và ma mỗi thứ tí ti…
Khốn nạn thân nhau
nặng kiếp phân thân mặt nạ
Thì lột mặt đi lần lữa mãi mà chi
dù dối nữa cũng không lừa được nữa
khôn và ngu đều có tính mức độ

*

Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao
miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít
mất vệ sinh bội thực tự hào
Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi
bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại
biết thế nhưng mà biết làm thế nào
Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới
thầy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội
Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy
xin đừng hót những lời chim chóc mãi
Ðừng lớn lối khi dân lành ốm đói
vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn
Ðổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?
máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

*

Thật đáng sợ ai không có ai thương
càng đáng sợ ai không còn ai ghét
Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết
ta là gì ?
ta cần thiết cho ai ?

*

Có thể ta không tin ai đó
có thể không ai tin ta nữa
dù có sao vẫn tin ở con người
Dù có sao
đừng khoanh tay
khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối
Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn ?
những người tốt đang cần liên hiệp lại!

*

Dù có sao
vẫn Tổ Quốc trong lòng
mạch tâm linh trong sạch vô ngần
còn thơ còn dân
ta là dân – vậy thì ta tồn tại

*

Giọt từng giọt
nặng nhọc
Nặng nhọc thay
Dù có sao
đừng thở dài
Còn da lông mọc còn chồi nảy cây. !


Bài liên quan:
Đắm tàu Titanic Việt Nam và nỗi sợ hãi của một dân tộc
Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế   cảnh báo của ông Võ Văn Kiệt cách đây ba năm !

2 tháng 7, 2010

Bán cho con một giờ của bố


HỌC MỖI NGÀY. Người lớn, nhất là các bậc làm cha mẹ, đôi khi cứ nghĩ đơn giản là sinh con ra, cho con ăn uống no đủ, học hành tử tế là đã làm tròn bổn phận rồi. Tuy nhiên, họ quên đi rằng, trẻ cũng có nhu cầu được quan tâm, nếu không được như thế, các em sẽ cảm thấy bơ vơ, lạc lõng ngay trong chính ngôi nhà của mình. Dưới đây là mẩu chuyện đáng để các bậc làm cha mẹ suy ngẫm. (Cha mẹ và con: ảnh minh họa)


Người đàn ông đi làm về muộn, mệt mỏi và bực bội. Đứa con trai 5 tuổi chờ ông ta ở cửa.

- Bố ơi, con có thể hỏi bố một câu được không?

- Được chứ, gì vậy? Người đàn ông đáp.

- Bố, một giờ làm việc bố kiếm được bao nhiêu tiền?

- Đó không phải là chuyện của con, tại sao con lại hỏi bố như vậy? - Người đàn ông giận dữ nói.

- Con chỉ muốn biết một giờ bố kiếm được bao nhiêu tiền thôi mà, nói cho con nghe đi, bố. - Thằng bé nài nỉ.

- Nếu con cần phải biết thì bố nói đây, 20 đôla một giờ.

- Vậy hả bố, thằng bé cúi mặt đáp. Con có thể vay bố 10 đôla được không? - Nó hỏi.

Ông bố nổi giận - Nếu con vay tiền bố chỉ để mua đồ chơi vớ vẩn hay mấy cái thứ vô bổ gì đó thì hãy đi ngay về phòng, lên giường nằm và suy nghĩ xem tại sao con lại có thể ích kỷ như vậy. Bố phải làm việc vất vả suốt cả ngày rồi, bố không có thời gian cho những trò trẻ con như thế này đâu.

Thằng bé lặng lẽ đi về phòng, đóng cửa lại.
Người đàn ông ngồi xuống và càng tức giận hơn khi nghĩ đến những điều đứa con trai hỏi. Tại sao nó lại dám hỏi mình những câu hỏi như vậy chỉ để xin tiền thôi nhỉ? Khoảng một giờ sau, khi đã bình tĩnh lại, ông nghĩ có lẽ mình hơi nghiêm khắc với con. Có thể nó thật sự thiếu 10 đôla để mua thứ gì đó và thực ra nó đâu có thường hay xin tiền mình.

Người đàn ông đi về phía cửa phòng thằng bé và mở cửa.

- Con đã ngủ chưa, con trai? - Ông hỏi.

- Chưa bố ạ, con vẫn còn thức.

- Bố nghĩ có lẽ lúc nãy bố quá nghiêm khắc với con. Hôm nay bố phải làm thêm giờ và bố đã trút sự bực bội lên con. Đây, bố cho con 10 đôla. - Người đàn ông nói.

Thằng bé ngồi bật dậy, mỉm cười và reo lên: “Ô, cảm ơn bố!”. Rồi nó luồn tay xuống dưới gối lôi ra mấy tờ giấy bạc nhàu nát. Nhìn thấy tiền của thằng bé, người đàn ông lại bắt đầu nổi giận. Thằng bé chậm rãi đếm từng tờ bạc một rồi ngước nhìn bố nó.

- Tại sao con đã có tiền rồi mà còn xin bố nữa? - Ông bố gầm lên.

- Bởi vì con còn thiếu, nhưng bây giờ thì đủ rồi ạ. Bố, bây giờ con có 20 đôla, con có thể mua một giờ của bố không? Ngày mai bố hãy về nhà sớm, con xin bố, con muốn được ăn tối cùng với bố. - Thằng bé đáp.

Anh Tú (Sưu tầm)Nguồn: Tạp chí Hồn Việt

22 tháng 6, 2010

Hoan hô Quốc hội

HỌC MỖI NGÀY. Với tựa đề "Hoan hô Quốc hộiwww.bee.net đã đăng ý kiến của GS. Chu Hảo, Giám đốc Nhà Xuất bản Tri thức: “Chúng ta cám ơn Quốc hội đã tạo ra bước đột phá này (bác dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam), và hy vọng rằng tinh thần ấy tiếp tục được phát huy để góp phần thực thi một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, như chúng ta vẫn nói hàng ngày”

Mấy ngày qua Hà Nội cực nóng với đầy đủ cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Hôm nay khí trời bỗng dịu đi, cái mát dịu có thêm từ trong lòng người. Chưa bao giờ người dân lại hồi hộp chờ đợi “Giờ G" ở nghị trường đến như thế! Và hình như cũng chưa bao giờ một nghị quyết của Quốc hội lại làm mát lòng người và mang nhiều ý nghĩa đến như thế!

Lòng tin của nhân dân vào cơ quan lập pháp cao nhất của Nhà nước đang được củng cố. Từ nay dân chúng có cơ sở để tin rằng, Quốc hội không chỉ lắng nghe ý kiến của cử tri, mà còn tiếp thu những ý kiến phản biện có cơ sở khoa học để đưa ra các quyết định đúng đắn.

Từ chỗ không được nói thẳng thắn đến chỗ tha hồ được nói nhưng rất ít được tiếp thu đã là một bước tiến dài trên quá trình phát huy dân chủ. Nhưng tiếp thu ý kiến của xã hội công dân, đặc biệt là của các nhà khoa học có chính kiến để “bác” một “siêu” Dự án tưởng như đương nhiên đến mức “không thể không thông qua” là một bước đột phá hết sức quan trọng, không phải chỉ trong các hoạt động của Quốc hội, mà trong toàn bộ hệ thống chính trị cũng như trong sinh hoạt tinh thần của toàn xã hội.

Chúng ta cám ơn Quốc hội đã tạo ra bước đột phá này, và hy vọng rằng tinh thần ấy tiếp tục được phát huy để góp phần thực thi một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, như chúng ta vẫn nói hàng ngày.

Tối ngày thứ Năm, 17 tháng 6, sau khi đọc bài “Trước giờ G ” của anh Tô Văn Trường (một trong những nhà nghiên cứu có những ý kiến phản biện hết sức sâu sắc và có sức thuyết phục cao về dự án ĐSCT) tôi có gửi cho anh một thư điện tử nói rằng: “Nếu vào giờ G số ĐBQH công khai phản đối dự án ĐSCT nhiều hơn 192 thì đó là một tín hiệu rất đáng mừng. Điều đó chứng tỏ rằng một Xã hội công dân lành mạnh cùng với Tầng lớp trí thức thực thụ đang hình thành”.

Nếu kết quả bỏ phiếu ở Quốc hội hôm qua mà số phiếu không đồng ý thông qua Nghị quyết (được ghi nhận bằng cách ấn nút từ chỗ ngồi, tức là về nguyên tắc có thể biết ai là người bỏ phiếu ấy) ít hơn số 192 phiếu chống khi bỏ phiếu thăm dò (mà về nguyên tắc không thể biết chủ nhân của lá phiếu) thì đó là chuyện thường tình.

Nhưng điều bất ngờ thú vị đã xảy ra: số đại biểu khách quan đã nhiều hơn chúng ta tưởng. Xã hội công dân và tầng lớp trí thức chỉ có thể hình thành khi những ý kiến phản biện hợp lý và thẳng thắn của họ được các cơ quan có trách nhiệm cao nhất lắng nghe và tiếp thu, như Quốc hội đã làm.

Cám ơn Quốc hội đã mang lại cho chúng ta thêm niềm tin vào sự đi lên của đất nước bằng sự đổi mới sâu rộng hơn nữa trên cơ sở phát huy dân chủ để khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của toàn dân.

Hà Nội ngày 21 tháng 6 năm 2010

GS Chu Hảo

ĐB Nguyễn Minh Thuyết  trả lời  PV Báo Điện tử VietNamNet, đã nói "Cám ơn các nhà báo"! "Trong kết quả biểu quyết của Quốc hội, rõ ràng báo chí đã đóng vai trò quan trọng khi truyền tải ý kiến của các tầng lớp nhân dân, trong đó có ý kiến của các nhà chuyên môn, người Việt sống ở trong và ngoài nước. Điều đó giúp cho các đại biểu Quốc hội cân nhắc cẩn trọng hơn. Tôi cho đó là một đóng góp của báo chí với Quốc hội. Nhân Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam đang đến, tôi xin gửi đến các nhà báo lời cảm ơn và chúc mừng".

TS Kinh tế Lê Đăng Doanh: "Rất mừng về quyết định của Quốc Hội về ĐSCT, nhân dân hoan nghênh và ủng hộ".


TS Tô Văn Trường: "Qua sự kiện "bấm nút" dự án đường sắt cao tốc chỉ làm cho dân tin Đảng và uy tín của cả Đảng và Quốc hội cao hơn bao giờ hết"

15 tháng 6, 2010

Phản biện đáng lưu ý về dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam

HỌC MỖI NGÀY. Quốc hội Việt Nam bị chia rẽ bởi Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam với nhiều ý kiến đồng tình lẫn phản đối. Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam đã đề xuất dự án với tổng số tiền đầu tư là  55,88 tỷ USD cho đến năm 2035, khi dự án hoàn thành, bằng cách tiến hành từng đoạn, khai thác tức thì, mỗi năm vốn đầu tư 2 - 2,1 tỷ đôla. Chính phủ Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm đầu tư 31 tỷ đôla vào cơ sở hạ tầng, còn tiền đầu tư vào các phương tiện là do các doanh nghiệp. Nguồn vốn của Chính phủ chủ yếu là vốn vay ODA của Nhật. Một trong nhũng phản biện xã hội đáng lưu ý là của Nguyễn Lưu Hải Khôi từ Tokyo (Nhật Bản) tựa đề "Bởi đất nước mang hình dấu hỏi?" không đồng tình với năng lực tư duy chiến lược và cấu trúc thích hợp của tiến trình ra quyết định. Nhận thấy đây là một vấn đề lớn không chỉ cho ngành đường sắt mà còn là kinh nghiệm cho nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân nên tôi đã chép bài  này để đọc kỹ.



BỞI ĐẤT NƯỚC MANG HÌNH DẤU HỎI ?


Kính tặng các Đại biểu Quốc hội Việt Nam!

Nguyễn Lương Hải Khôi

(Tokyo)

“BÁO CÁO GIẢI TRÌNH BỔ SUNG Dự án Đường sắt cao tốc Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh” viết ngày 4/6/2010 mà Bộ Giao thông vận tải trình Quốc hội chứa dựng những phi logic nghiêm trọng. Nhìn từ Báo cáo này, có thể thấy, để sự nghiệp Hiện đại hóa ở nước ta tiếp tục tiến bước, việc xây dựng năng lực tư duy chiến lược và một cấu trúc thích hợp cho tiến trình ra quyết định ở những quyết sách lớn, đã trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
I. Sai ngay từ khâu đầu tiên: Bài toán đặt ra

Trong việc làm toán, có thể tất cả câu trả lời đều sai, vì... bản thân đề toán đã sai. Trong bài viết “Đường sắt cao tốc – Khi số liệu và thực tế cách xa nhau” công bố trên Tuần Việt Nam (bản chi tiết đăng trên viet-studies), Huỳnh Thế Du nhận xét về bài toán mà dự án đường sắt cao tốc đề ra: nhu cầu đi lại đã được thổi lên cao hơn ít nhất hai lần so với thực tế có thể xảy ra và năng lực vận tải đã bị hạ thấp gần một nửa.

Như vậy, trong Báo cáo nói trên, cả một siêu dự án được vạch ra để thỏa mãn một nhu cầu không có thật, và để khắc phục những yếu kém không có thật.

Đối với ngành đường sắt Việt Nam, bài toán cần đặt ra là, giữa đường sắt Bắc Nam, và đường sắt nội đô ở những đô thị đóng góp ngân sách chủ yếu, đường sắt nội bộ trong các vùng kinh tế trọng điểm, thì cái nào cần làm trước? Cái nào nên làm sau? Bài toán này cần trả lời trước thì lại không suy nghĩ.

Một khi những con số về nhu cầu và lợi ích mà đề toán dựa vào vốn đã bị bóp méo thì mọi lời giải cho bản toán ấy đều sai.

Cho nên Báo cáo này phi lý không chỉ ở từng chi tiết cụ thể mà còn phi lý ở toàn bộ mạch lập luận.
II. Tính phi logic của toàn bộ mạch tư duy

Báo cáo đưa ra 4 phương án làm đường sắt Bắc Nam, sau đó chứng minh rằng 3 phương án đầu nhiều hậu quả, không hiệu quả và nhiều khó khăn, rồi kết luận nhất định phải làm phương án 4.

Sau đó, báo cáo đi vào biện minh cho việc chọn phương án 4, bất chấp một thực tế là phương án 4 cũng gây ra tất cả những hậu quả và gặp những khó khăn mà 3 phương án đầu cũng có, cộng thêm cả những hậu quả ghê gớm mà chỉ phương án 4 mới có.

Trong 4 câu trả lời mà người làm toán có thể nghĩ ra, nếu 3 câu trả lời đầu là sai thì không có nghĩa là câu còn lại phải đúng. Câu trả lời số 4 có thể sai tệ hại hơn ba câu trước. Phép loại suy không thể áp dụng ở đây.

Mặt khác, như trên đã nói, cả 4 phương án này đều sai. Bởi lẽ, 4 phương án này là 4 câu trả lời cho một đề toán ra sai. Dù có chọn lời giải nào đi nữa thì cũng không ổn.

III. Tính phi logic trong từng tư duy trọng yếu

1) Chấp nhận rủi ro theo kiểu gì?

Ở phần giải trình vì sao phải loại bỏ phương án 1 và 2, Báo cáo viết:

Nếu mở rộng thành đường đôi, khổ 1.435 mm thì phải mở rộng ít nhất là 15 m, khối lượng công tác giải phóng mặt bằng rất lớn. Việc thu hồi đất để mở rộng đường khổ 1.000 mm thành khổ 1.435 mm và làm thêm một đường khổ 1.435 mm bên cạnh ở các đô thị hầu như không khả thi.

Nhưng ở đoạn sau, nếu mà Quốc hội cho làm tàu cao tốc Shinkansen, thì sẵn sàng “khắc phục” những khó khăn lớn hơn thế:

Qua khảo sát nghiên cứu, Dự án có thể làm khoảng 16.500 hộ gia đình bị ảnh hưởng về đất ở, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp; với chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 34.208 tỷ đồng, trung bình một hộ gia đình sẽ được bồi thường khoảng 2 tỷ đồng.

2) Cách so sánh lạ lùng về thiệt hại rừng

Cũng với tinh thần “thà hi sinh tất cả để làm tàu Shinkansen”, Báo cáo viết:

Theo nghiên cứu sơ bộ hiện nay, dự án ảnh hưởng đến hơn 1.400 ha rừng. Tuy nhiên, căn cứ theo quy mô dự án và chiếm dụng đất của dự án thì diện tích rừng bị ảnh hưởng không cao so với các dự án đường bộ hoặc đường bộ cao tốc.

Đưa ra 4 phương án, rồi lựa chọn phương án 4 vì cho là nó “ưu việt” hơn 3 phương án còn lại. Thế thì phải chứng minh cho điều trên. Chẳng hạn, như Báo cáo nói, tàu Shinkansen sẽ ảnh hưởng đến hơn 1.400 ha rừng. Vậy thì phải chứng minh rằng phương án 1,2,3 mất nhiều rừng hơn thế, và để bảo vệ rừng, phải chọn phương án 4, thì mới logic.

Sao lại so sánh với... đường bộ? Vì rõ ràng, các phương án 1,2,3 ảnh hưởng đến rừng ít hơn thế nhiều lần, thậm chí không ảnh hưởng.

3) Cách hiểu “độc đáo” về “tiết kiệm”

Bàn về lợi ích của dự án, Báo cáo viết:

“Các lợi ích đã được định lượng bao gồm: tiết kiệm chi phí thời gian đi lại của hành khách; tiết kiệm chi phí khai thác của các phương tiện vận tải khác”

Đọc đoạn này, không thể hiểu được Báo cáo muốn nói gì.

Khi Báo cáo nói tàu Shinkansen “tiết kiệm chi phí khai thác của các phương tiện khác” thì có thể hiểu là nó “tiết kiệm” cho máy bay của ngành hàng không.

Nghĩa là, giả sử những người lâu nay có nhu cầu lưu thông Bắc Nam bằng máy bay, nếu thấy nên tiết kiệm một khoản tiền nhỏ thay vì tiết kiệm 3 tiếng đồng hồ, sẽ bỏ hàng không để đi Shinkansen.

Thế là Vietnam Airlines phải cho hàng loạt máy bay đắp chiếu. Không cẩn thận thì phá sản. Đó là một hình thức “tiết kiệm chi phí khai thác của các phương tiện vận tải khác” mà Báo cáo muốn nói tới?

“Tiết kiệm thời gian” thì không phải so sánh với máy bay, vì máy bay chỉ mất 2h Bắc Nam. “Tiết kiệm thời gian” là tiết kiệm so với xe khách đường bộ và đường sắt thường. Nhưng, nếu hầu hết người Việt Nam, khi có nhu cầu lưu thông Bắc Nam, thấy cần tiết kiệm một khoản tiền lớn, hơn là tiết kiệm vài tiếng đồng hồ thì sao?

Mặt khác, nếu hạ giá vé xuống thật thấp, thì sẽ “tiết kiệm” các ngành giao thông khác, nhưng Nhà nước sẽ phải bù lỗ để duy trì sự hoạt động của hệ thống Shinkansen. Như vậy, “tiết kiệm” ở mặt này nhưng sẽ tiêu hao ở mặt kia: Nhà nước tiêu tốn thêm ngân sách, các ngành giao thông liên quan thì thiệt hại lợi nhuận.

Vậy, Báo cáo đang muốn “tiết kiệm” cái gì?

4) Giảm tai nạn giao thông trong tưởng tượng?

Và đây, tàu Shinkansen sẽ “...giảm chi phí xã hội do giảm tai nạn giao thông đưòng bộ...” và “Ngoài ra, văn hoá giao thông sẽ được nâng cao qua việc người tham gia giao thông được sử dụng phương tiện giao thông hiện đại, chính xác, an toàn”

Tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra tại các đô thị lớn. Văn hóa giao thông hỗn loạn của Việt Nam cũng chỉ vì có một lượng xe máy khổng lồ dồn vào trong một đô thị chật hẹp.

Trí tưởng tượng nào có thể hình dung ra được rằng, khi những chiếc tàu Shinkansen kia chạy trên đường sắt Bắc Nam thì... người Đà Nẵng không cần đi lại trong thành phố bằng xe máy nữa, tai nạn trong nội đô Hà Nội sẽ hết, người dân Tp. Hồ Chí Minh có thể đi lại một cách văn minh trong khi đường phố thì như bát quái trận đồ?

Nhưng ngược lại, một mạng lưới đường sắt nội đô thì sẽ giảm thiểu nhu cầu sử dụng xe máy. Và ở những vùng kinh tế trọng điểm, một mạng lưới đường sắt nội bộ vùng, nối thành phố trung tâm và các vệ tinh, sẽ giúp người dân có thể sống ở các vệ tinh vẫn có thể làm việc ở trung tâm, nghĩa là có thể giãn dân cho các trung tâm, giảm hẳn áp lực giao thông nội đô, điều chỉnh giá bất động sản trong vùng.

Hiệu quả kinh tế xã hội của hai hệ thống này (đường sắt nội đô và đường sắt nội bộ vùng) có thể được thuyết phục một cách logic. Đây là kinh nghiệm đã thành công ở chính Nhật Bản, một nước có... chỉ số IQ “cao”, như hình dung của ông Đại biểu tỉnh Hà Nam.

Nhật Bản đã hoàn thiện 2 hệ thống này trước khi làm Shinkansen toàn quốc.
5) “Hiệu quả xã hội” không liên quan đến “hiệu quả kinh tế”?

Cứ theo cách nghĩ của Báo cáo thì hiệu quả kinh tế của dự án là thấp, nhưng hiệu quả xã hội cao. Như vậy, hiệu quả xã hội có thể có mà không liên quan đến hiệu quả kinh tế.

Nhưng ở một công trình giao thông như đường sắt Shinkansen Bắc Nam, hiệu quả xã hội tỷ lệ thuận với hiệu quả kinh tế. Những hiệu quả mà Báo cáo có thể nghĩ ra: giảm tai nạn giao thông, nâng cao văn hóa người Việt, hiện đại hóa đất nước, tiết kiệm thời gian đi lại, tiết kiệm chi phí của các ngành giao thông liên quan (nghĩa là cho họ “đắp chiếu”)... đều là những “hiệu quả” chỉ có thể có khi đi kèm với hiệu quả kinh tế (số người sử dụng cao).

Ai có thể tưởng tượng ra được “hiệu quả xã hội” mà những toa tàu Shinkansen trống rỗng có thể tạo ra đối với một dân tộc đang đứng dưới chân đường sắt nhìn lên?

6) Cách tính tỷ lệ kỳ quặc

Giáo sư Trần Văn Thọ, trong bài “Đường sắt cao tốc – Việt Nam hôm nay và Nhật Bản 50 năm trước” – chỉ ra rằng khi Nhật làm đường sắt cao tốc đầu tiên, trong 5 năm, chi hết 380 tỷ Yên, bằng 2,4% GNP.

Báo cáo này cũng cho rằng nếu đầu tư làm “đường sắt cao tốc”, Việt Nam còn chi ít hơn nữa: từ nay đến 2020, chi phí làm đường sắt cao tốc chỉ chiếm 1,7% GDP (21 tỷ), theo kịch bản GDP tăng 5,5%, hoặc chỉ chiếm 1,5% GDP, theo kịch bản GDP tăng 7,5%.

Sự phi logic thể hiện ở 2 điểm:

- Nhật chi 2,4% GDP là hoàn thành đường cao tốc đầu tiên. Còn khi Việt Nam chi 1,7% hoặc 1,5% GDP mỗi năm cho công trình thì công trình vẫn chưa hoàn thành, vẫn chỉ là một đống bê tông sắt thép, chưa dùng được vào việc gì.

- Tỷ lệ của GDP dự kiến ở năm 2020 và số tiền chi cho dự án ở từng năm, thực chất, là con số không có ý nghĩa gì. Dự án sẽ hoàn thành vào 2035. Vậy, nếu lấy GDP dự kiến năm 2035 chia cho chi phí từng năm của dự án thì tỷ lệ còn nhỏ hơn thế nữa.

Báo cáo nói rằng chỉ dùng hết số tiền 55,88 tỷ USD kia vào năm 2035, khi dự án hoàn thành. Cứ cho là GDP Việt Nam hiện nay đã 100 tỷ (tưởng tượng như vậy cho đẹp), và đặt giả thuyết Việt Nam từ đây đến 2035 tăng trưởng liên tục 6,5% / năm, thì khi đó, GDP Việt Nam khoảng hơn 480 tỷ USD. Tỷ lệ 480/ 55,88 là khoảng hơn 11% GDP.

Có một con số liên quan mà Báo cáo không nói tới: trong số 55,8 tỷ USD thì vay nợ nước ngoài bao nhiêu? Vay trong những năm nào? Vay trong bao lâu? Vay bao nhiêu lần? Năm đầu tiên phải trả nợ? Lãi suất thế nào? Trả cả vốn lẫn lãi là bao nhiêu? Lộ trình trả nợ thế nào? Những điều này hoàn toàn có thể tính toán được dễ dàng, và rất cần thiết để đất nước biết hậu quả mà dự án để lại.

Quốc hội ở đất nước nào có thể bấm nút thông qua khi chưa nắm được những con số đè lên miếng cơm manh áo của các thế hệ sau như vậy?

7) Lợi thì ngành Đường sắt hưởng, nợ nần thì..?

Đó cũng là một “logic” của Báo cáo. Khi biện minh cho hiệu quả kinh tế của dự án, Báo cáo viết:

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nomura - Nhật Bản (...): Nếu không tính chi phí kết cấu hạ tầng đường sắt cao tốc mà chỉ phân tích hoạt động khai thác vận tải thì dự án đường sắt cao tốc đem lại hiệu quả tài chính cao.

“Không tính đến chi phí kết cấu hạ tầng đường sắt cao tốc” là thế nào? Nghĩa là, không cần bận tâm đến chuyện ai phải trả nợ để có được tuyến đường Shinkansen ấy? Nếu có tàu Shinkansen thì Tổng Công ty Đường sắt sẽ được lợi rõ ràng rồi đấy. Nhưng chả lẽ kể từ khi ký vào tờ giấy vay nợ, toàn thể dân tộc Việt Nam này tồn tại trên đời... chỉ để nai lưng làm việc mà trả nợ cho người Nhật, chỉ để cho Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam kiếm được “hiệu quả tài chính cao”?

Trong kinh tế, ai có thể tưởng tượng đến một thứ “hiệu quả tài chính” bằng cách loại bỏ số tiền đầu tư khổng lồ ban đầu?

8) “Hiện đại” là cái có thể đi vay?

Báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải bộc lộ một cách nghĩ nguy hiểm về “hiện đại hóa”. Dân tộc Việt Nam sẽ không thể hiện đại hóa được nếu còn những suy nghĩ như vậy.

“Các lợi ích chưa định lượng được bao gồm (...) Dự án được tổ chức thực hiện sẽ góp phần để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Cũng với ý nghĩ như thế về “hiện đại hóa”, Báo cáo viết:

Chính phủ sẽ chỉ đạo Chủ đầu tư nghiên cứu kỹ hơn khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi và khả năng chuyển giao công nghệ để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ đường sắt cao tốc.

Những người soạn chính sách nghĩ thế nào là “làm chủ”? Thế nào là “làm chủ từng bước”?

Báo cáo nói trên thể hiện một cách nghĩ rằng công nghệ Shinkansen là lọai công nghệ mà chỉ cần Nhật Bản “chuyển giao” là Việt Nam có thể “từng bước làm chủ”. Nhưng, đó không phải là khẩu súng kíp thời Cao Thắng để có thể chỉ cần nhìn rồi bắt chước mà làm được. Phải có một lực lượng kỹ thuật đủ khả năng lĩnh hội, đủ khả năng nghiên cứu để dân tộc có thể thông qua họ mà tự lực tự cường.

Nếu nghĩ một cách đơn giản rằng, chỉ cần có một tiếc tàu Shinkansen là đã trở thành “hiện đại”, thì con đường “Hiện đại hóa” là con đường hết sức đơn giản: chỉ cần đi vay ODA và vỗ béo cho tư bản xây dựng nước ngoài.

Và nếu “hiện đại hóa” là việc đơn giản đến vậy thì thế giới này đã “hiện đại” hết cả rồi, đã “phẳng” từ lâu chứ đâu có “lồi lõm” như bây giờ: kẻ thì cao chót vót, kẻ thì nằm dưới đáy.

9) Và cuối cùng...

Tổng mức đầu tư: 55,88 tỷ USD, trong đó, vẫn có các khoản chi khác được nêu trong báo cáo đầu tư, không lặp lại ở báo cáo bổ sung, với độ chính xác đến 3 chữ số thập phân (triệu USD) là:

Phía tư vấn, chủ yếu là của Nhật Bản, hưởng trọn 3,83 tỷ USD.

Những người quản lý dự án sẽ chia nhau 1,05 tỷ USD.

Ngay cả cái “chi phí khác” chưa được tính toán mục đích một cách rõ ràng cũng đã lên tới 1,415 tỷ USD.

Tại sao ở một dự án hiệu quả kinh tế - xã hội không rõ ràng, nhưng hậu quả thì rất rõ ràng (khiến các thế hệ sau của đất nước lâm vào siêu nợ nần) mà cả người “quản lý” lẫn người “tư vấn” đều hưởng một số tiền không lồ đến như vậy?

IV. Hiện đại hóa bằng sức mạnh nào?
1) Lòng tự trọng

Dân tộc Việt Nam chỉ có thể trở thành một dân tộc hiện đại bằng những con người hiện đại của chính nó, chứ không thể bằng những đồ vật nó có bằng tiền vay của kẻ khác, bằng trí tuệ của kẻ khác.

Đã có vô số nghị quyết Đảng khẳng định “Hiện đại hóa” là hiện đại hóa ở con người.

Không xây dựng sức mạnh cho dân tộc bằng cách xây dựng lực lượng kỹ thuật của riêng mình thì “làm chủ công nghệ” bằng cách nào?

2) Tư duy chiến lược

Báo cáo nói trên cũng đặt ra vấn đề về năng lực tư duy chiến lược của đội ngũ hoạch định chính sách của đất nước chúng ta.

Trong lĩnh vực kinh tế, suốt một thời gian dài, chúng ta tư duy bằng những chỉ tiêu, cụ thể hóa chỉ tiêu bằng những nghị quyết, và thực hiện nghị quyết bằng cách phát động những phong trào. Nhật Bản vượt qua hết khó khăn này đến khó khăn khác và thành cường quốc, nhờ cách làm ngược lại: tư duy xuất phát từ những mục tiêu, đi đến mục tiêu bằng tư duy chiến lược, và vận hành chiến lược đó bằng cách cụ thể hóa ở luật pháp.

Phải nhắc lại điều trên, vì dù đã Đổi mới 25 năm, Báo cáo đường sắt cao tốc vẫn chưa dứt khỏi phương thức tư duy cũ và cách vận hành cũ. Suốt mấy chục năm tư duy kinh tế thông qua những chỉ tiêu, dường như đã làm thui chột khả năng tư duy chiến lược của chúng ta.

Tư duy chiến lược không chấp nhận những mối quan hệ nhân quả phi logic, thì theo cách nghĩ của Báo cáo, khi những chiếc tàu Shinkansen chạy trên đường Bắc Nam thì... Tp. Hồ Chí Minh hết kẹt xe.

Tư duy chiến lược không nhìn quan hệ nhân quả là một đường thẳng, thì ở Báo cáo, ta lại thấy kiểu tư duy một chiều mà chính phép biện chứng của triết học Marx đã phê phán là “siêu hình” (cứ hễ có “cao tốc” là thành “hiện đại”).

Tư duy chiến lược không nhìn sự vật trong sự cô lập của nó, thì ở Báo cáo này, “hiệu quả xã hội” (lý do cốt tử để thực hiện dự án), được người ta tư duy như là cái có thể có mà không liên quan gì đến “hiệu quả kinh tế”. Kiểu tư duy này là kiểu tư duy mà những người thầy của chủ nghĩa Cộng sản gọi là tư duy “duy vật máy móc”, kiểu triết học duy vật Hi Lạp... thời cổ đại.

Tư duy chiến lược thúc đẩy sự vận động của sự vật bằng chính cái “thế” của nó. “Thế” là cái bối cảnh (nước đẩy thuyền đi), nhưng “thế” không đơn giản là cái bao quanh mà ẩn ngay trong cấu trúc nội tại của sự vật (“thế như chẻ tre”). Còn ở Báo cáo, bản thân bối cảnh của dự án, bản thân nền giao thông của Việt Nam, và bản thân công trình này, đã bị tư duy cơ giới tách ra thành từng phần rời rạc, hoặc bị khuếch đại, hoặc bị giảm thiểu đến nỗi tư duy lý tính buộc phải băn khoăn về sự thực của nó.

3) Tái cấu trúc tiến trình ra quyết sách

Người viết bài này tuổi đời còn trẻ, có nghĩ đến những vấn đề vĩ mô của người lớn thì cũng chỉ là nghe lỏm rồi nói leo. Người viết bài này vẫn nhớ cách đây hơn 10 năm, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn khỏe mạnh, trong một lần nói chuyện với sinh viên Tp. Hồ Chí Minh, ông khẳng định: Những cuộc đấu về mặt quân sự đã qua rồi. Chúng ta đã bước vào thời đại mới, thời đại của cuộc đua tranh về mặt trí tuệ giữa các dân tộc. Dù cho bạn học gì đi nữa, hãy luôn nhớ lấy điều này khi học!

Theo Báo cáo nói trên, toàn bộ nền tảng tri thức, bao gồm những đánh giá về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế, về nhu cầu đi lại của hành khách, về năng lực vận tải hiện có và sẽ có, thậm chí kể cả kiểu tính “lợi nhuận” bằng cách... bỏ qua tổng vốn đầu tư khổng lồ ban đầu, hoàn toàn do phía tư vấn Nhật thực hiện và đề xuất.

Như vậy, ở dự án này, khâu đầu tiên của tiến trình ra quyết định – khâu nghiên cứu chiến lược, hay như cách nói của Đại tướng là khâu “trí tuệ” – là các nhóm tư vấn nước ngoài. Và Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam hoàn toàn tin tưởng, không lập một nhóm nghiên cứu chuyên trách nào để phản biện đề xuất của phía Nhật.

Không thể phủ nhận rằng, ODA trong lĩnh vực hạ tầng của Nhật đã giúp cải thiện diện mạo giao thông Việt Nam. Nhưng mặt khác, phải thừa nhận rằng, diện mạo hệ thống giao thông của chúng ta hết sức nham nhở. Nó nham nhở trên thực tế, vì trước tiên, nó đã nham nhở trên tư duy.

Chúng ta không có một think tank nào đảm nhận trách nhiệm hoạch định chiến lược giao thông cho toàn quốc, với tư cách là kiến tạo một hệ thống mạch máu cho cả cơ thể. Hơn 10 năm qua, điều này hoàn toàn do nước ngoài làm thay, mà tiêu biểu là JICA, một mắt xích trong cỗ máy ODA của Nhật.

Người ta tư vấn, là chỉ với mục đích cho vay để giành hợp đồng về cho đất nước họ. Nên thay cho tư duy hệ thống, họ dùng tư duy dự án, làm theo kiểu “gắp từng món trên mâm”.

Ngay trong dự án Shinkansen Bắc Nam này, như bài viết “Người Nhật thực sự nghĩ gì về dự án đường sắt cao tốc?” đã chỉ ra, họ nghĩ về dự án đơn giản như là một món trên mâm cần gắp ngay, không để Hàn Quốc gắp mất.

Việt Nam không hề thiếu người, chỉ thiếu tính khoa học trong cách tổ chức tiến trình ra quyết định. Vì vậy, xin nhắn lời cuối cùng tới các nhà hoạch định chính sách và các Đại biểu Quốc hội rằng, nếu không xây dựng lại tư duy chiến lược, và không tái cấu trúc tiến trình ra quyết định, thì đất nước mang hình dấu hỏi này sẽ mãi mãi chỉ là một dấu hỏi mà thôi.

Tokyo, 9/6/2010

Nguyễn Lương Hải Khôi
(Nguồn Viet -studies)

18 tháng 5, 2010

Học không bao giờ muộn

HOCMOINGAY. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh  vừa đề xuất yêu cầu với các cấp lãnh đạo có thẩm quyền: " Đến khi nào Đại tướng Võ Nguyên Giáp trút hơi thở cuối cùng, cần tiến hành nghi lễ Quốc tang đối với Đại tướng và Ngôi nhà 30 Hoàng Diệu nên dùng làm nhà lưu niệm Đại tướng mà không dùng vào bất cứ việc gì khác." . Ý kiến này lường trước sự việc sẽ đến và nêu ra sớm ngày 9 tháng 5 năm 2010 khi Đại tướng còn khỏe mạnh là rất cần thiết, để đồng bào cả nước và bầu bạn năm châu không đột ngột và báo chí thông tin chính xác kịp thời. Nhân điều này làm tôi nhớ đến hai trong số những kiến nghị sâu sắc của  Đại tướng Võ Nguyên Giáp về biển đảogiáo dục - khoa học. Kiến nghị biển đảo được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính Trị Trung ương Đảng ngày 25.3.1975 "Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ" . Kiến nghị giáo dục -khoa học tại bài viết của Đại tướng đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1-1989  " Để cho khoa học thật sự trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội". Những đề xuất thật trách nhiệm và quý biết bao! Học không bao giờ muộn ! (Ảnh trong bài Mùa xuân Võ Nguyên Giáp)


PHẢI ĐỐI XỬ VỚI ĐẠI TƯỚNG TỔNG TƯ LỆNH ĐÚNG VỚI VAI TRÒ MỘT KHAI QUỐC CÔNG THẦN
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên – Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Mọi người đều biết trong suốt cuộc đời làm Tổng tư lệnh, ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP đã chỉ huy các lực lượng vũ trang nước ta lập nên nhiều chiến công lừng lẫy: Chiến thắng Điện Biên Phủ – Tây Bắc, chiến thắng Điện Biên Phủ trên không – Hà Nội, chiến thắng Tết Mậu Thân xoay chuyển tình thế, chiến thắng Buôn-Ma-Thuột bước ngoặt, chiến thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc… góp công to lớn hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Với việc đánh thắng 2 đế quốc to giàu mạnh hơn Việt Nam rất nhiều, với việc lần lượt đánh thắng các tướng lĩnh hàng đầu của Pháp, mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới ca ngợi là "Một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của mọi thời đại" và là "Một danh tướng thế giới". Đại tướng Võ Nguyên Giáp là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam ta.

Nay Đại tướng đã 100 tuổi (theo âm lịch). Lâu nay Đại tướng được chăm sóc trong Bệnh viện 108, song sức đã quá yếu, dù có hồi phục sức khỏe từ Tết AL đến nay, song vẫn khó tránh khỏi quy luật tự nhiên, tuy diễn ra sớm hay muộn thì ta chưa thể đoán trước. Thay mặt cho tâm nguyện của đông đảo chiến sĩ và tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang cũng như nhân dân cả nước, chúng tôi xin đề xuất yêu cầu với các cấp lãnh đạo có thẩm quyền: Đến khi nào Đại tướng trút hơi thở cuối cùng, cần tiến hành nghi lễ Quốc tang đối với Đại tướng.

Được biết có quy định Quốc tang chỉ tiến hành đối với 4 chức danh: Tổng bí thư BCH TW Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Chúng tôi cho rằng trường hợp Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trường hợp đặc biệt, cần có quyết định đặc cách làm lễ Quốc tang. Nếu cứ theo quy định mà một vị nào trong 4 chức danh đó, công lao chẳng có bao nhiêu, lại có những vấn đề không minh bạch, hoặc có khuyết điểm, bị công luận chê trách… vẫn được thực hiện quốc tang, còn một vị khai quốc công thần công lao to lớn, được toàn dân kính trọng, thế giới ngưỡng mộ như Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại không được làm lễ quốc tang thì thật là đại bất công và trái đạo lý.

Ngôi nhà 30 Hoàng Diệu cũng nên dùng làm nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không dùng vào bất cứ việc gì khác. Sinh thời Đại tướng biết bao nhiêu hiện vật do các tầng lớp nhân dân đem đến chúc Tết, mừng sinh nhật Đại tướng, nhiều nguyên thủ quốc gia, nhân sĩ nổi tiếng thế giới đã đến ngôi nhà ấy thăm Đại tướng và tặng hiện vật lưu niệm. Trong ngôi nhà ấy, Đại tướng đã ngồi chỉ huy trận đánh B52 năm 1972. Ngôi nhà 30 Hoàng Diệu đã thành một di tích lịch sử quan trọng. Một nhà thờ họ của một dòng họ có nhiều người đỗ đạt cao thủa trước cũng được công nhận là di tích lịch sử, thì ngôi nhà 30 Hoàng Diệu càng xứng đáng được công nhận là di tích lịch sử.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, lão thành cách mạng
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, lão thành cách mạng.

Nguồn: http://boxitvn.wordpress.com/2010/05/09/phải-dối-xử-với-dại-tướng-tổng-tư-lệnh-dng-với-vai-tr-một-khai-quốc-cng-th/

12 tháng 5, 2010

Hoàng Cầm sông Đuống trôi đi một giòng lấp lánh

HỌC MỖI NGÀY. "Em ơi! /Buồn làm chi / Anh đưa em về bên kia sông Ðuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ / Sông Ðuống trôi đi / Một giòng lấp lánh / Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ... " Nhà thơ Hoàng Cầm, nhà thơ đất Phúc Tằng, Việt Yên, Bắc Giang đã đi vào cõi vĩnh hằng lúc 9g 30 sáng ngày 6 tháng 5 năm 2010 nhưng các vần thơ của ông về giòng sông  Đuống thân thương vẫn còn đó như Tế Hanh với "Nhớ con sông quê hương", Lưu Quang Vũ với "Qua sông Thương" Dư âm lắng đọng là tình nước tình người


BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

Hoàng Cầm


Em ơi! 
Buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sông Ðuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ
Sông Ðuống trôi đi
Một giòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Ðứng bên này sông luyến tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay


Bên kia sông Ðuống
Quê hương ta lúa nếp thêm nồng
Tranh Ðông Hồ gà lợn nét tươi trong
Mầu dân tộc sáng bừng trong giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm vườn hoang
Mẹ con đàn lợn chia lìa
Âm dương chia lìa đôi ngả
Ðám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâủ ?


Ai về bên kia sông Ðuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai.
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu ?
Những nàng môi đỏ quết trầu
Những cụ già bay tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu về đâu ?


Ai về bên kia sông Ðuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Biển Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Ði bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Ðồng tỉnh Huê Cầu
Bây giờ đi đâu về đâu ?
Bên kia sông Ðuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài xếp giấy đẫm hoen sương buổi sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đập gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông


Chưa bán được một đồng


Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu ?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ.


Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn


Đêm buông xuống dòng sông Đuống
- Con là ai ? - Con ở đâu về ?
Hé một cánh liếp
- Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng


Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân


Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu buổi trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
"À ơi... cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù"
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
"Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu..."


Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa, hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời.


Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.


Việt Bắc, tháng 4-1948










Nhà thơ Hoàng Cầm và nhạc sĩ Phạm Duy ngày gặp lại  -
Ảnh trong Phạm Duy và tôi  (Hoàng Cầm)

CON ĐƯỜNG TÌNH



12 giờ trưa ngày thứ năm, 6 tháng 5 - 2010


Ông Hoàng của tôi ơi! (*)


Tôi vừa soạn xong bản nhạc phổ thơ bài “Bên kia sông Đuống” và đã đưa cho người soạn hòa âm để thu thanh, với ý định tặng riêng ông cho ông nghe để ông đỡ buồn (vì thấy ông không có một bài viết nào trên các báo Xuân vừa rồi, nghĩ rằng ông ốm...) thì nghe tin ông vừa qua đời sáng hôm nay!


Thế là tôi lại mất đi một người bạn tốt, đã từng chia sẻ với nhau những vinh quang và tủi nhục của cuộc đời Việt Nam trong một thời gian đang thay da đổi thịt.


Phải xa nhau gần nửa thế kỷ, khi cuộc đời Việt Nam đã bình thường rồi thì chúng ta đã trao đổi thư từ trong đó, hai ông già ngoài 70 tuổi vẫn cứ xưng hô mày tao như trong tuổi 20. Chúng ta đều cho rằng cả hai thằng bạn, vào lúc gần đất xa trời, rốt cuộc đều thấy đời mình chỉ là một cuộc chơi! Cuộc chơi đã đưa hai đứa lên rất cao, rồi cũng đã dìm hai thằng xuống rất sâu nhưng cả hai kẻ đãng tử này đều được cứu rỗi bởi một sợi dây bí ẩn. Đó là sợi dây cảm nhận, rung động và sáng tạo nghệ thuật làm cho chúng ta, sau nhiều cơn vật vã, vẫn có thể gạn đục khơi trong rồi làm ra những vần thơ điệu nhạc lung linh sức sống kỳ diệu của con người. Vâng! Nghệ thuật đã rửa hồn chúng tôi, như Hoàng Cầm nói: ton art purifie ton âme và sẽ còn giúp chúng ta đi nốt con đường chúng ta đã chọn: CON ĐƯỜNG TÌNH, tình nước, tình người.


Vĩnh biệt người bạn cố tri. Chúc Ông yên vui trong giấc ngủ ngàn thu.


Phạm Duy


(*) Trong 4 tập Hồi ký, Phạm Duy đã dành nhiều trang rất trân trọng để nói về Hoàng Cầm. Hai ông cũng có những ký ức rất đẹp và động lòng về nhau, trong hai bài ký “Hoàng Cầm trong tôi” (Phạm Duy) và “Phạm Duy và tôi” (Hoàng Cầm). Nguồn: Nhịp càu Thế giới

Người theo dõi