Lưu trữ Blog

29 tháng 5, 2012

Thực phẩm nhiễm độc Oni ở Đồng Nai

HOCMOINGAY. Báo Thanh Niên đăng loạt bài điều tra Kinh hoàng heo siêu nạc, Hoang mang thực phẩm nhiễm độc; Công bố đánh giá hóa chất độc hại trong thịt heo siêu nạc ;Bác sĩ thú y làm “trùm” chất cấm. Các cơ quan chức năng ở tỉnh Đồng Nai cùng nhiều địa phương khác trên toàn quốc đã quyết liệt vào cuộc tìm ra và chặt đứt đường dây pha trộn chất cấm vào thức ăn chăn nuôi của bọn bất lương.

Bác sĩ thú y làm “trùm” chất cấm

Thanh Niên Online  9

Từ nguồn tin và sự phối hợp tác nghiệp của PV Thanh Niên, cơ quan chức năng đã phát hiện doanh nghiệp do một bác sĩ thú y làm chủ chuyên trộn chất cấm vào thức ăn chăn nuôi bán ra 20 tỉnh, thành khu vực phía nam.

“Hung thần” Oni
Quyết tâm đưa những “đường dây đen” trong lĩnh vực này ra ánh sáng, PV Thanh Niên chủ động phối hợp với Phòng 4 - Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Bộ Công an (thường trực phía nam - C49B) tiến hành điều tra.

Đích thân thượng tá Võ Văn Đông, Phó trưởng phòng, cùng 2 trinh sát và PV đã về địa bàn tỉnh Đồng Nai bí mật thu thập thông tin từ các đầu mối tin cậy. Sau 1 tuần “khoanh vùng”, tổ công tác của Phòng 4 “đưa vào tầm ngắm” hơn 10 địa điểm kinh doanh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và lần lượt kiểm tra, làm rõ. Từ đầu mối này, tổ công tác lần ra địa chỉ của “ông trùm” chất cấm là Công ty TNHH Oni, trụ sở tại 316/3 hương lộ 80, P.Bình Hưng Hòa B, Q.Bình Tân, TP.HCM. Doanh nghiệp này do một bác sĩ thú y tên Đặng Văn Hải, 39 tuổi, quê Bình Thuận, làm giám đốc, chuyên sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản, thuốc thú y, với 14 mặt hàng bán rộng rãi ở 20 tỉnh thành khu vực phía nam.
Công nhân Công ty TNHH Oni đang đóng gói sản phẩm - Ảnh: Hoài Nam
Ngày 10.4, Phòng 4 - C49B phối hợp với Chi cục Thú y và Chi cục QLTT TP.HCM tiến hành kiểm tra trụ sở Công ty TNHH Oni. Tại thời điểm kiểm tra, công ty có hơn 10 công nhân đang tất bật với công việc đóng gói các mặt hàng là thức ăn bổ sung cho gia súc. Ngoài 12 tấn nguyên liệu được nhập từ Trung Quốc dùng để pha trộn làm thức ăn cho heo, tổ công tác xác định và niêm phong 7,3 tấn sản phẩm đã thành phẩm, gồm các sản phẩm dùng để tăng trọng, tạo nạc, bung mông, nở vai, siêu tăng trọng, siêu chống còi cho heo…

Đặc biệt, trong những hóa đơn nhập và bán hàng của công ty bị thu giữ, tổ công tác cũng phát hiện nhiều tài liệu thể hiện việc mua chất cấm để sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Sau một tháng kiểm nghiệm thận trọng, khách quan, khoa học gồm cả định tính và định lượng đều khẳng định lô hàng thành phẩm 7,3 tấn của Công ty TNHH Oni dương tính với chất cấm (nhóm beta-agonist), C49B đã lập tức phát văn bản đề nghị các cơ quan chuyên môn của 20 tỉnh, thành khu vực phía Nam (tính từ Quảng Nam trở vào) nhanh chóng phối hợp thu hồi toàn bộ sản phẩm của Công ty TNHH Oni cung cấp.

Ngày 22.5, PC49 - Công an tỉnh Quảng Nam đã phát hiện và tiến hành thu hồi 14 loại sản phẩm của Công ty TNHH Oni đang bán trên nhiều huyện của tỉnh này (Thanh Niên đã thông tin). Hiện C49B đang tiếp tục lấy lời khai một số người có liên quan, yêu cầu giải trình nguồn nguyên liệu mà công ty này nhập về, số lượng bán ra thị trường... Đặc biệt, cơ quan điều tra cũng đang làm rõ một công ty dược đã bán chất cấm cho Công ty TNHH Oni.

Cơ quan chức năng niêm phong sản phẩm của Công ty TNHH Oni
Siêu nạc và siêu lời
Trở lại với quy trình chăn nuôi của những kẻ vô lương tâm, PV Thanh Niên có trong tay một công nghệ sản xuất chất cấm "siêu nạc và siêu lời" (thường gọi là thần dược hoặc bột ngọt), như sau: Để có 1 tạ “thần dược”, bọn bất lương tập hợp 55 kg bột sò, 20 kg trấu, 300 gram chất cấm, 4 kg CHROM (chất tạo thịt nạc đỏ hồng), hương trái cây và vitamin rồi pha trộn. Tổng cộng số liệu thể hiện trên hóa đơn nhập nguyên liệu đầu vào để sản xuất 1 tạ “thần dược” chưa đến 3 triệu đồng. Thế nhưng, bảng giá giao sỉ cho các đại lý từ 100.000 đến 200.000 đồng/kg, trung bình bọn bất lương thu lời từ 12 đến 15 triệu đồng.

Ngoài sự nguy hiểm của chất cấm đối với sức khỏe người tiêu dùng, theo PGS-TS Võ Văn Sơn, nguyên Phó trưởng khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng - Trường đại học Cần Thơ, bột sò là chất can xi, nếu sử dụng quá nhiều làm thức ăn cho heo cũng sẽ gây một số mầm bệnh cho heo. Rõ nhất là khi heo ăn quá nhiều bột sò sẽ bị thừa can xi và thiếu kẽm, thường bị lở loét... Nếu sử dụng bột sò làm thức ăn cho heo đúng tỷ lệ chỉ được trộn 2 kg bột sò cho 1 tạ thức ăn. Còn nếu sử dụng trấu nghiền nhỏ cho heo ăn một thời gian dài sẽ làm loét dạ dày.

Điều đáng nói, trong quá trình phối hợp với cơ quan chức năng, PV Thanh Niên cũng phát hiện chất cấm không chỉ được tuồn đến cho người chăn nuôi hám lợi bằng một nguồn duy nhất. Những đại lý nhỏ lẻ thì tự mua chất cấm về pha trộn rồi đóng vào những bao bì không nhãn mác, sau đó đưa đi bỏ mối cho những cửa hàng bán cám và thuốc thú y bán lại cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, người chăn nuôi cũng có thể theo lời đồn tìm mua “bao xanh”, “bao hồng” ở các cửa hàng bán cám về cho heo ăn, bởi vì chất cấm đã được trộn sẵn vào cám (bao xanh cho heo ăn lúc còn nhỏ, bao hồng cho heo tăng tốc để chuẩn bị xuất chuồng).

Hoài Nam

Hoang mang thực phẩm nhiễm độc



Tôi phải làm sao đây để biết những miếng thịt tươi ngon toàn nạc, những con gà thịt sẵn vàng ươm được bày bán ngoài chợ là đồ ăn sạch?

Những miếng thịt tươi ngon toàn nạc, những con gà thịt sẵn vàng ươm được bầy bán ngoài chợ, bề ngoài chúng trông thật bắt mắt nhưng chẳng ai dám chắc chúng không phải thịt siêu nạc, gà nhuộm chất tạo màu độc hại, thực phẩm không rõ nguồn gốc. Thế nhưng có hay không thì người tiêu dùng vẫn phải ăn thôi.
Chỉ trong vòng vài tháng trở lại đây liên tiếp có những thông tin phản ánh về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm gây hoang mang cho người tiêu dùng.
Không ai biết đằng sau những miếng thịt nạc này là gì? Ảnh minh họa
Chưa hết bàng hoàng về thông tin lợn siêu nạc lại tới thông tin gà thịt sẵn bày bán được nhuộm chất tạo màu gây độc cho gan, thận. Gần đây nhất là việc cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ gần 14 tấn hôi thối, bốc mùi đang trên đường vận chuyển vào TP HCM và 3 tấn gà không rõ nguồn gốc đang trên đường đưa vào tiêu thụ tại Hà Nội mà báo chí đã đưa tin.

Trước những thông tin trên người dân đã có nhiều phản ứng khác nhau trong việc lựa chọn thực phẩm của mình. Lúc trước tôi cũng có thói quen mua gà thịt sẵn cho tiện nhưng nay đã chuyển qua mua gà sống rồi về tự thịt. Thịt lợn thì mua trong siêu thị, dù mất công nhưng ăn vào cảm thấy an tâm hơn.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện để mua gà sống rồi tự thịt. Do công việc bận rộn và túi tiền có hạn đa phần người dân Hà Nội lựa chọn gà thịt sẵn, thịt lợn bày bán ngoài chợ.

Chưa hết lo lắng về thịt heo tạo nạc, người tiêu dùng lại lo thịt gà có nhuộm chất tạo màu độc hại. Ảnh minh họa

Để được yên tâm họ thường lựa chọn những hàng quen hoặc có uy tín và chọn thịt có dấu kiểm định chất lượng. Nhưng khi được hỏi không ai dám chắc liệu thực phẩm mình mua có đảm bảo 100% không có chất độc hại hay không và họ đều mong muốn cơ quan chức năng sớm có biện pháp khắc phục tình trạng này.

Những người bán thịt lợn, thịt gà tại một số chợ khu vực Cầu Giấy(Hà Nội) khi được hỏi đều cho biết lượng thịt họ bán ra trong những ngày gần đây không có biến động lớn và họ đều cam đoan thịt mình bán đều lấy từ những cơ sở giết mổ uy tín, có đóng dấu kiểm định đàng hoàng.

Tuy nhiên, qua cuộc kiểm tra cơ sở giết mổ vừa qua cơ quan chức năng đã phát hiện, thu giữ một số con dấu kiểm tra chất lượng giả nên chẳng ai dám chắc liệu thực phẩm có đóng dấu đang được bầy bán trên thị trường có phải là thật hay không.

Nhìn lại vụ thịt thối được phanh phui, chúng ta dể dàng nhận thấy tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho sức khỏe như sử dụng hóa chất bảo quản, ngâm tẩm hàm lượng cao để tẩy mùi hôi thối, sẽ gây độc cho người tiêu dùng nếu hàng hóa lọt ra được thị trường.

Những sản phẩm thịt đã bị biến chất như thế còn có nguy cơ ô nhiễm độc tố, như độc tố tụ cầu vàng đun sôi ở 1000C trong vài chục phút cũng không chết. Tôi cho là nếu tăng cường kiểm tra phát hiện thì những vụ việc như thế này còn nhiều.

Hiện nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành vấn đề đáng báo động không chỉ ảnh hưởng đối với sức khỏe mà có còn gây hoang mang cho người tiêu dùng. Dù biết độc đấy, hại đấy nhưng vẫn phải ăn vì không thể chỉ hít không khí mà có thể sống được.

Người tiêu dùng vẫn chỉ biết trông ngóng các cơ quan chức năng sớm có biện pháp ngăn chặn tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm như hiện nay để không phải rơi vào tình cảnh ăn ít nhưng lo nhiều.

Bằng Giang
Công bố đánh giá hóa chất độc hại trong thịt heo siêu nạc

(TNO) Tại cuộc họp do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội hôm nay 28.4, Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng (VINASTAS) đã đưa ra công bố kết quả đánh giá tồn dư hóa chất độc hại trong thịt heo siêu nạc cũng như việc đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng.
 Chất tạo nạc đã bị Bộ NN-PTNT cấm sử dụng từ năm 2009 - Ảnh: Trung Hiếu
VINASTAS cho biết, thời gian qua, có một số cơ sở đã sử dụng “thần dược” chất tăng trọng, tạo nạc để kích thích heo tăng trưởng, cho thịt siêu nạc. Đây là những hóa chất độc hại thuộc nhóm Beta-agonist, rất độc hại, bị Bộ NN-PTNT cấm sử dụng từ năm 2009.
Khi ăn thịt heo nuôi bằng hóa chất này, người dùng sẽ bị nhức đầu, buồn nôn, nhịp tim nhanh, huyết áp tăng hoặc hạ, rối loạn tiêu hóa.

Số liệu năm 2006 của Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) cho thấy 47/428 mẫu thịt heo bán tại TP.HCM dương tính với một hóa chất thuộc nhóm Beta-agonist. 30% trong số 500 mẫu thịt heo lấy từ 6 quận, huyện trên địa bàn dương tính với chất cấm nói trên. Tháng 5.2011, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn tiêu dùng (CESCON) phát hiện 17% số mẫu thịt gà, heo khảo sát tại TP.HCM chứa chất tăng trọng.
Kết quả kiểm tra 5 mẫu thịt heo mua tại chợ, siêu thị ở TP.HCM mới nhất đều phát hiện có tồn dư Beta-agonist.
* Cũng trong hôm nay, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH cũng bàn đến các vấn đề cháy xe, sạt lở mỏ than Phấn Mễ ở Thái Nguyên, rò rỉ nước tại thủy điện Sông Tranh 2.
Về vấn đề cháy xe, Ủy ban này đã có kết luận ban đầu về nguyên nhân gây cháy nổ xe song lại loại trừ nguyên nhân xăng dầu.
Còn về vụ rò rỉ ở đập thủy điện Sông Tranh, một số ý kiến đề nghị cần làm rõ trách nhiệm duyệt thiết kế công trình này, đồng thời trả lời câu hỏi: có an toàn không?
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng, đây là việc không mong muốn và Bộ Công thương đang phối hợp với chủ đầu tư, các cơ quan liên quan khẩn trương xử lý.
 
Cần làm rõ trách nhiệm duyệt thiết kế công trình thủy điện Sông Tranh - Ảnh: V.M.T

Ông Vượng thông tin thêm, hôm 27.4 đã gọi điện cho đoàn đám phán với các chuyên gia Trung Quốc để thống nhất tiến độ. Dự kiến trong vòng tháng 8.2012 sẽ dán xong 10 khe nhiệt vì vốn nước thấm chủ yếu qua 10 khe này. “Nếu dán xong mà giảm được nước thấm thì yên tâm, nếu không sẽ tiếp tục xem xét để xử lý triệt để sự cố này”, Thứ trưởng Bộ Công thương quả quyết.
Riêng về nguyên nhân sạt lở bãi thải mỏ than Phấn Mễ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH dành khá nhiều thời gian bàn luận. 
 

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH đặc biệt quan tâm đến nguyên nhân gây sạt lở ở bãi thải số 3, mỏ than Phấn Mễ - Ảnh: Lê Quân

Phát biểu kết luận về vấn đề này, ông Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH cho rằng, hiện tại chưa thể đưa ra kết luận chính thức về nguyên nhân gây sạt lở ở bãi thải mỏ than Phấn Mễ.

Theo ông Dũng, trước mắt, tỉnh Thái Nguyên cần phối hợp với các sở ban ngành liên quan điều tra, sớm làm rõ nguyên nhân gây sạt lở. Bên cạnh đó, tăng cường công tác kiểm tra an toàn các khu mỏ, bãi thải khác trên địa bàn tỉnh để tránh hậu quả đáng tiếc.
Bảo Cầm - Thái Sơn-  Lê Quân

9 tháng 5, 2012

Thuý Tím trong rừng U Minh hạ

HỌC MỖI NGÀY . Anh ngây ngất đi trong rừng U Minh Hạ cùng Thúy Tím với cảm giác rất lạ: Nghe "Nhạc rừng" của Xuân Hồng ùa về, nghe "Nhớ rừng" lời con hổ ở vườn bách thú của Thế Lữ, trở về với tuổi thơ đi trong rừng "Vừa nhắm mắt vừa mở của sồ" của Nguyễn Ngọc Thuần, lắng sự gây nghiện tiếng sáo Đông Tà "Tiếu ngạo giang hồ" của trãi nghiệm Kim Dung. Bài thơ Thuý Tím ma mị, huyền ảo, ám ảnh, kích thích trí tưởng tượng, cảm giác lạ của người đi săn. Vừa sợ nhưng lại thích dấn tới khám phá. Bản nhạc rất hợp với bài thơ. Cám ơn Thúy Tím. Anh xin chép bài này về đọc để hiểu thêm một vùng hoang sơ của rừng nguyên sinh NGỌC PHƯƠNG NAM

TRONG RỪNG U MINH HẠ

Thuý Tím
 

.
Roạt
roạt
soạt soạt soạt
móng nhọn bọc nhung mềm
mắt đói thịt đỏ lửa trong đêm
con mồi hốt hoảng tìm đường sống trong cuộc đua bấn loạn
ánh nhìn vờn mồi
lặng lẽ bủa vây
thú hoang hú gọi trăng báo giờ giây kết liễu.
Róc rách
róc rách
tí tách nước va rơi, tí tách
nhạc suối veo trong veo
trăng lấp loá vỡ cười
nai con rúc, đùa chơi vú mẹ
lau cỏ tựa vào bờ, ca tình khúc mùa thu
vài con tép ánh lân tinh rất ngu
lượn lờ trước mõm cá đói meo ngoác mở
Xoẹt xoẹt xoẹt
tiếng máy cưa đang rít
âm giai chói chang đặc quánh nhạc ve rừng
chùm lá sắp lìa đời vạch di chúc lên da trời đen búp hoa màu máu ứa
chi chít sao không tên
hay ngấn nước mắt của đêm: đỏ hoe, sáng, nhạt, mờ?
cây đổ lìa đời, nức nở nhựa sau lưỡi rìu âm thầm tách vỏ
nụ cười lâm tặc ngã vào đêm
chuội như khúc gỗ lao từ trên cao theo rãnh máng đà về bến đỗ
"Đừng để lại gì ngoài dấu chân trên những bước cỏ mềm"
"Đừng để lại gì ngoài dấu chân trên những bước cỏ mềm"
lửa trại đánh rơi vài tiếng cười rất trẻ
dương xỉ già cong mầm, vít chẽ
vài con vắt lắng nghe và thân mềm cong khẽ
chọn cự li, chọn thời khắc tuyệt vời
hút máu từ da người không lời bàn sinh tử
DOPOEM quấn chặt lấy DOSING (*)
điệu luân vũ phê ngất ngây trong rừng U Minh Hạ
...........từng mẩu tóc trăng đêm buông xoã
..............vật vờ lẫn vào bàng bạc gió đi hoang......
Thơ THÚY TÍM
------------------------------------
*) DOSING: Một dòng nhạc kỹ thuật số đang gây nghiện trong giới trẻ về tác động phê của thứ âm thanh do nó tạo ra. (Thứ nhạc này cần nghe bằng tai nghe trong không gian yên tĩnh. Cảm giác âm nhạc đưa đến từ hai tai rất khác nhau tác động lên bộ não thành những lớp sóng có tần số thay đổi tạo ra ảo giác)

*) DOPOEM?: Liệu có chăng một dòng thơ, khi đọc lên nó khiến ta xoáy cuồng trong ảo giác bởi sự thay đổi liên tục của các cung bậc cảm xúc? Bài thơ này là một thử nghiệm của Tím về ý tưởng DOPOEM

.



.



7 tháng 5, 2012

Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam

Long Biên - Cầu sắt cổ nhất
Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, do Pháp xây dựng từ năm 1899-1902 với chi phí khoảng 6,2 triệu franc Pháp.

Ban đầu cầu đặt tên là Doumer, theo tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, người đã phải đối mặt với sự phản bác của cả người Pháp và người Việt về việc xây cầu. Riêng người dân gọi nó là cầu sông Cái.

Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Cầu dài 2.500m, gồm 19 nhịp dầm thép và đường dẫn xây bằng đá. Các làn trên cầu gồm đường sắt đơn chạy ở giữa, hai bên là đường dành cho xe cơ giới và đường đi bộ. Đặc biệt luồng giao thông của cầu theo hướng đi xuôi ở phía trái cầu chứ không phải ở bên phải như các cầu thông thường khác.
Sau khi hoàn thành, ngoài cầu nối giữa sông Hồng và ngoại thành, Hà Nội và Trung Quốc, cầu Long Biên cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của các phố, ví dụ như phố Lò Rèn.
Vĩnh Tuy - Cầu rộng nhất
Cầu Vĩnh Tuy được xây dựng trên địa bàn hai quận Long Biên và Hai Bà Trưng, là cây cầu rộng nhất Việt Nam (38m).
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Cầu được khởi công xây dựng ngày 3/2/2005 và thông xe kỹ thuật vào ngày 2/9/2009, có tổng chiều dài 5.830m. Quy mô mặt cắt ngang rộng 19,25 m. Theo đánh giá, đây là cây cầu hiện đại bậc nhất Việt Nam với kết cấu chuỗi nhịp chính vượt sông lớn nhất là tám nhịp liên tục, đúc hẫng dài và chiều dài cầu chính, cầu dẫn bằng bê tông và bê tông cốt thép dự ứng lực dài nhất...

Mỹ Thuận - Cầu dây văng đầu tiên
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Là cây cầu dây văng đầu tiên của nước ta bắc qua sông Tiền, nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, cầu nằm cách Sài Gòn 125km về hướng Tây Nam, trên Quốc lộ 1A, là trục giao thông chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Cầu có tổng chiều dài 1.535m được chính thức khởi công ngày 6/7/1997 và hoàn thành vào 21/5/2000. Về mỹ quan, đây là một trong những cây cầu có view đẹp nhất nước ta.

Bãi Cháy - Cầu dây văng một mặt phẳng đầu tiên
 
Cầu Bãi Cháy nằm trên quốc lộ 18, có chiều dài là 903m, chiều rộng 25,3m, nối Hòn Gai với Bãi Cháy qua eo Cửa Lục, ngăn cách vịnh Cửa Lục với vịnh Hạ Long, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Đây là cây cầu có kết cấu dây văng một mặt phẳng đầu tiên của nước ta. Đồng thời, cầu Bãi Cháy cũng lập kỷ lục thế giới về chiều dài nhịp chính (435m). Cầu được thiết kế và điều hành xây dựng bởi các nhà thầu Nhật Bản.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,


Bính - Cầu dây văng đẹp nhất miền Bắc
Đây là cây cầu nối liền hai bờ sông Cấm, nối thành phố Hải Phòng với huyện Thủy Nguyên và đi ra tỉnh Quảng Ninh, được đánh giá là cây cầu dây văng đẹp nhất miền Bắc.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Cầu có chiều dài 1.280 m, rộng 22,5 m, với bốn làn xe cơ giới và hai làn xe thô sơ.  Cầu được thiết kế theo đường cong để tạo dáng kiến trúc và thẩm mỹ, đường dẫn hai đầu cầu là đường cấp 1 đô thị.

Pá Uôn - Cầu có trụ cao nhất
Cầu Pá Uôn khởi công vào ngày 28/5/2007, nối liền vào ngày 18/4/2010 là cây cầu có trụ cao nhất Việt Nam bắc qua sông Đà (tại địa phận xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai). Cầu có tổng vốn đầu tư gần 740 tỷ đồng và được thiết kế vĩnh cửu với khả năng chịu được các trận động đất mạnh.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,


Cầu sông Hàn - Cầu quay dây văng duy nhất
 
Cầu quay dây văng sông Hàn là được khởi công ngày 2/9/1998, khánh thành ngày 29/3/2000. Cầu có chiều dài 487,7m, rộng 12,9m, gồm 11 nhịp, mỗi nhịp dài 33m. Đây là cây quay cầu dây văng đầu tiên và duy nhất do kỹ sư, công nhân Việt Nam tự thiết kế, thi công.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Hàng ngày, vào khoảng 0h30 khuya, phần giữa của cây cầu quay 90 độ quanh trục, nằm dọc theo dòng chảy của dòng sông, mở đường cho tàu lớn đi qua, vào khoảng 3h30 cầu sẽ quay trở lại như cũ.
Khi thành phố lên đèn, cả sông và cầu quay như được nhuộm trong những bảng màu rực rỡ của hệ thống đèn trang trí hai bên đường. Một lời khuyên nhỏ cho bạn khi đến Đà Nẵng là đừng cố thức khuya xem cầu quay bởi sự kiện sẽ không xảy ra như mong muốn. Hầu hết những người "rình" xem cầu quay đều không để ý cầu quay vào lúc nào. Thay vào đó, bạn nên chọn cách du ngoạn bằng thuyền trên sông.

Cầu Rồng - Cầu có thiết kế độc đáo nhất
Với thiết kế mô phỏng hình dáng một con rồng đang bay trên sông Hàn, đầu rồng ngẩng cao, thân rồng uốn lượn và cùng với hệ thống đèn chiếu sáng trang trí, cầu Rồng được Hiệp hội cầu đường thế giới ghi nhận là một trong những cây cầu có thiết kế độc đáo và mới lạ nhất Việt Nam.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,

Cầu Rồng do Công ty Louis Berger Group, Inc. (Mỹ) thiết kế, khởi công vào khởi công năm 2009 và dự kiến hoàn thành năm 2013. Cầu có mức đầu tư 1.498 tỷ đồng. Theo đó, cầu được xây dựng tại khu vực nút giao thông gần Cổ Viện Chàm nối với nút giao thông Nguyễn Văn Linh nối dài, phía đông là nút giao thông đường Trần Hưng Đạo, kéo dài đến đường Sơn Trà - Điện Ngọc.

Thuận Phước - Cầu treo dây võng dài nhất
Cầu Thuận Phước là cây cầu treo dây võng hiện đại và dài nhất Việt Nam. Tổng chiều dài cây cầu nối 2 bờ vịnh Đà Nẵng là 1.850m (dài hơn cầu Mỹ Thuận 300 m), rộng 18m, với mức đầu tư gần 1.000 tỷ đồng do thành phố Đà Nẵng làm chủ đầu tư từ nguồn ngân sách.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,

Cầu khởi công xây dựng vào ngày 16/1/2003; thông xe kỹ thuật ngày 25/3/2009 và khánh thành ngày 19/7/2009. Cầu cách sông Hàn 2.700 m về phía hạ lưu, điểm đầu cầu phía quận Hải Châu, nối với tuyến đường Liên Chiểu - Thuận Phước; điểm cuối cầu phía quận Sơn Trà, nối với tuyến đường từ khu công nghiệp đóng tàu đến khu công nghiệp dịch vụ thủy sản.


Cần Thơ - Cầu dây văng nhịp chính dài nhất
Cầu Cần Thơ có chiều dài toàn tuyến là 15,85km với 4 làn xe, là cây cầu được đánh giá cao nhất nước ta nối thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long. Cầu được khởi công xây dựng ngày 25/9/2004 và khánh thành vào ngày 24/4/2010 sau nhiều biến cố. Tại thời điểm hoàn thành (2010), đây là cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất Đông Nam Á.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,


Thị Nại - Cầu vượt biển dài nhất
Thị Nại là cây cầu vượt biển dài và lớn nhất Việt Nam nằm nối thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai. Cầu được khởi công vào tháng 11/2002 và hoàn thành vào ngày 12/2006. Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng công trình là 582 tỷ đồng. Cầu gồm 54 nhịp có khẩu độ mỗi nhịp là 120 m.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Nhìn từ xa, cầu Thị Nại đẹp, thanh mảnh như một dải lụa trải ngang biển, đẹp, mong manh nhưng bền bỉ.


Rạch Miễu - Cầu thương hiệu Việt
Đây là một cây cầu dây văng nối liền 2 tỉnh Tiền Giang (Mỹ Tho) và Bến Tre, là công trình do Việt Nam tự đầu tư, thiết kế và thi công. Cầu được khởi công từ tháng 4/2002 và khánh thành vào tháng 1/2009 do gặp khó khăn về tài chính.
Thời gian thi công lâu như thế nên trong giới hướng dẫn viên của tỉnh Bến Tre và Tiền Giang truyền miệng câu chuyện ngộ nghĩnh về một du khách nước ngoài đến thăm nơi này. Lần đầu tiên thấy công trình đang thi công, ông đã hỏi hướng dẫn viên bao giờ hoàn thành, thì nhận được câu trả lời “1 năm nữa”. Song 2 năm sau ông quay lại, thấy cầu chưa hoàn thành, ông lặp lại câu hỏi và được nhận được câu trả lời tương tự. Lần thứ 3, khi người bạn đi cùng hỏi hướng dẫn viên bao giờ cầu làm xong, thì ông lập tức trả lời: “Đến khi nào khánh thành thì xây xong”.
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,
Sau khi hoàn thành, cầu rút ngắn thời gian qua lại giữa hai tỉnh này từ 30 phút xuống còn 5 phút.


Phú Mỹ - Cầu dây văng đầu tiên của Sài Gòn
Cầu Phú Mỹ là cây cầu dây văng lớn nhất TP.HCM bắc qua sông Sài Gòn kết nối Khu đô thị mới Thủ Thiêm và Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, nối Quận 7 với Quận 2 và Quận 9, thuộc đường vành đai ngoài của của Thành phố. Không chỉ là một công trình trọng điểm của nước ta, cầu Phú Mỹ còn là công trình cầu dây văng hiện đại nhất thế giới
Những cây cầu độc đáo nhất Việt Nam, Du lịch, du lich, du lich viet nam, cau viet nam, kinh nghiem du lich, du lich the gioi, du lich 2012,

Cầu Phú Mỹ được khởi công ngày 9/9/2005 và khánh thành vào ngày 2/9/2009 với tổng mức đầu tư 2.076 tỷ đồng.


Ngọc phương Nam
(sưu tầm)

21 tháng 4, 2012

Tư liệu chọn lọc về Nguyễn Du

HỌC MỖI NGÀY. Tôi đã có một ít bài viết về Nguyễn Du (Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu, Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa; Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ; Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ; Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ.) . Gần đây, tôi đọc được một số bài viết mới ( Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương;  Tết, đọc lại thơ Nguyễn Du;  Đọc Nguyễn Du, nhớ Nguyễn Khuyến, Khóc Tố Như.) khá hay, soi sáng thêm những tìm hiểu mới. Nay xin được chép lại cùng chuyên mục để thuận tiện tra cứu và giúp bạn đọc dễ theo dõi.

Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

Ho Xuan Huong
Hình: Wikipedia Commons
Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, tôi nghĩ đến Nguyễn Khuyến. Và cũng nghĩ đến một người khác nữa: Hồ Xuân Hương.
Nguyễn Du được xem là ông hoàng của thơ Việt Nam, còn Hồ Xuân Hương lại được tôn vinh là “bà Chúa thơ Nôm”. Giữa “ông hoàng” và “bà chúa” dường như có một điểm chung: mối tình kéo dài ba năm.
Trước khi nói về mối tình của họ, xin nói một chút về Hồ Xuân Hương. Cho đến nay, hầu như giới phê bình và nghiên cứu đều đồng ý với nhau một điểm: Đó là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất và cũng là nhà thơ độc đáo nhất của Việt Nam. Về điểm thứ nhất, tôi rất tâm đắc với bảng xếp hạng của Xuân Diệu: Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm (nếu bà thực sự là tác giả của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành), Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Tú Xương là năm nhà thơ lớn nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Về điểm thứ hai, cũng đã có nhiều người nhấn mạnh: với những bài thơ Nôm còn lại hiện nay, Hồ Xuân Hương là một hiện tượng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam. Hồ Xuân Hương có thể không bằng Nguyễn Du ở sự bát ngát trong tâm tình, sự lộng lẫy và đa dạng của bút pháp, đặc biệt, Hồ Xuân Hương không có một tác phẩm nào đồ sộ, nguy nga có thể sánh được với Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng mặt khác, Hồ Xuân Hương lại độc đáo hơn Nguyễn Du. Độc đáo hơn vì cá tính mạnh mẽ hơn, phong cách sắc sảo hơn, ngôn ngữ dữ dội hơn. Nguyễn Du là người đi đến tận cùng nỗi đoạn trường chung của nhân loại. Hồ Xuân Hương là người đi đến tận cùng màu sắc riêng tây trong một con người. Nguyễn Du là đóa hoa đẹp nhất trong các loài hoa. Hồ Xuân Hương là đóa hoa lạ nhất trong các loài hoa. Chung quanh Nguyễn Du, châu tuần nhiều nhà thơ khác, gần gũi ở nhiều khía cạnh, tuy mức độ tài hoa có thể ít hơn. Chung quanh Hồ Xuân Hương hầu như không có ai cả. Nguyễn Du cao ngất mà không lẻ loi. Hồ Xuân Hương, ngược lại, là một hiện hữu dị thường, một mình chiếm riêng một góc trời.
Nhưng nhà thơ được xem là độc đáo nhất của Việt Nam ấy lại là một hiện tượng vô cùng phức tạp. Phức tạp, trước hết, là về tư liệu. Trước, người ta không biết gì về bà. Đến độ nhiều người nêu lên giả thuyết: bà không có thật. Tên của bà chỉ là một cái tên giả của một hay một số nhà thơ nam tinh nghịch nào đó. Sau, người ta tìm ra khá nhiều tài liệu về bà. Nhưng những tài liệu ấy lại mâu thuẫn với nhau đến độ nếu tin vào chúng, chúng ta sẽ có không phải một mà là hai hay ba nhà thơ mang tên Hồ Xuân Hương khác nhau. Hoàn toàn khác nhau.
Trong các khám phá liên quan đến Hồ Xuân Hương, quan trọng nhất là việc phát hiện tập thơ Lưu Hương Ký vào năm 1963. Tập thơ gồm 52 bài: 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Đặc biệt, trong tập thơ có một bài tựa viết năm 1814 của một người có biệt hiệu là Tốn Phong, người Nghệ An. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.”
Xuất hiện vào năm 1814, đó là văn bản cổ nhất và cũng đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Trước khi tập Lưu Hương Ký được phát hiện, toàn bộ những bài thơ Nôm được truyền tụng lâu nay đều chỉ được lưu hành trong dân gian trong cả một thế kỷ. Chúng chỉ được sưu tập và in thành sách vào năm 1913 (nhà xuất bản Xuân Lan).
Tuy nhiên, ở đây lại xuất hiện một số vấn đề: một, không có bài thơ nào trong tập Lưu Hương Ký năm 1814 và Thơ Hồ Xuân Hương năm 1913 trùng nhau cả; hai, phong cách và giá trị của hai tập thơ cũng khác hẳn nhau: thơ trong cuốn sách in năm 1913 vốn chứa đựng các bài thơ được truyền tụng rộng rãi lâu nay sắc sảo và độc đáo bao nhiêu, thơ trong Lưu Hương Ký lại hiền lành và bình thường bấy nhiêu.
Trước hai hiện tượng trên, chúng ta có thể có ba giả thuyết chính:
1. Có hai Hồ Xuân Hương khác nhau. Tạm gọi là HXH1, tác giả của các bài thơ được truyền tụng rộng rãi lâu nay, và HXH2, tác giả của tập Lưu Hương Ký do Tốn Phong viết lời tựa. Một số nhà nghiên cứu không quyết liệt đến mức xem HXH1 và HXH2 là hai người khác nhau, nhưng, khi phê bình, họ tạm loại trừ HXH2 ra khỏi phạm vi phân tích và đánh giá. Họ chỉ tập trung vào HXH1 với những bài thơ họ cho là thực sự xuất sắc.

2. Có một Hồ Xuân Hương thật và một Hồ Xuân Hương giả. HXH2 là Hồ Xuân Hương thật, có văn bản đàng hoàng và khả tín; còn HXH1, tức tác giả của những bài thơ nổi tiếng trong quần chúng lâu nay, từ “Khóc Tổng Cóc” và ”Khóc ông phủ Vĩnh Tường” đến “Làm lẽ”, “Không chồng mà chửa”, “Bánh trôi nước”, “Quả mít”, v.v… là Hồ Xuân Hương giả. Giả ở đây được hiểu theo nghĩa là: Đó chỉ là biệt hiệu được dựng lên để che giấu tông tích của một người thật, có thể là một hay một nhóm nhà nho nghịch ngợm nào đó. Họ làm thơ để cợt nhã, nhưng, dưới áp lực nặng nề của dư luận thời phong kiến, phải ngụy trang dưới một cái tên bịa là Hồ Xuân Hương. Nhưng Hồ Xuân Hương này lại không dính líu gì đến Hồ Xuân Hương, tác giả của Lưu Hương Ký và là bạn của Tốn Phong.

3. Cả HXH1 và HXH2 chỉ là một. Tuy nhiên, thuộc nhóm này, có hai khuynh hướng khác nhau:

3.1.Chỉ có những bài thơ trong Lưu Hương Ký là thực sự của Hồ Xuân Hương. Còn những bài thơ tương truyền của HXH1, trải qua trên dưới một thế kỷ truyền miệng, đã ít nhiều bị/được dân gian hóa. Giống như ca dao. Điều này giải thích tại sao chúng không còn giống hẳn với phong cách của những bài thơ trong Lưu Hương Ký. (Đó là chưa kể nhiều bài thơ bị gán đại cho Hồ Xuân Hương.)

3.2.Xem tất cả những bài thơ được truyền tụng lâu nay và những bài thơ trong Lưu Hương Ký là của một tác giả. Không chút thắc mắc nào cả. Khuynh hướng này có chút ngây thơ. Nhưng đó là cách dễ dàng nhất. Bởi vậy, có vẻ càng ngày càng có nhiều người chấp nhận.Trong phạm vi một bài viết ngắn để đăng trên blog, tôi không có tham vọng đi sâu vào các vấn đề nêu trên. Vả lại, thành thực mà nói, bản thân tôi cũng còn hết sức phân vân. Tôi biết, trên thế giới, không ít người từng thử nghiệm nhiều phong cách khác nhau. Tuy nhiên, điều ấy chưa từng xảy ra ở Việt Nam, nhất là ở thời Trung Đại, lúc ngay cả ý niệm về cái gọi là phong cách cũng chưa hề xuất hiện. Tất cả những cái gọi là phong cách của các tác giả cổ điển Việt Nam đều có tính chất tự phát. Đã là tự phát thì cũng không thể có vấn đề ngụy trang.
Bởi vậy, ở đây, khi nói đến mối tình giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, chúng ta tạm giới hạn vào HXH2, tác giả của Lưu Hương Ký (và một số bài thơ vịnh Hạ Long do Hoàng Xuân Hãn sưu tầm được).
Đó là một mối tình có thật chứ không phải là giai thoại. Bằng chứng là một bài thơ có nhan đề “Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu”, trong tập Lưu Hương Ký. Bài thơ như sau:
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Cậy ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.
Nhan đề bài thơ nghĩa là “Nhớ người cũ – viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu”. Xin lưu ý là, trong nguyên tác, ngay dưới nhan đề là một tiểu chú: “Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân” (Hầu, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Cả hai đều cho thấy cái người được gọi là “Nguyễn hầu” ấy không thể là ai khác ngoài Nguyễn Du. Thứ nhất, trùng họ: họ Nguyễn. Thứ hai, trùng quê quán: Nguyễn Du quê quán ở Tiên Điền, Nghi Xuân. Và thứ ba, trùng chức vụ: tháng 2 năm 1813, lúc đang làm Cai Bạ Quảng Bình, Nguyễn Du được thăng chức Cần chánh điện học sĩ, trước khi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.
Dựa vào nhan đề liên quan đến chức vụ của Nguyễn Du, người ta có thể biết bài thơ được sáng tác vào năm 1813, một năm trước khi Hồ Xuân Hương nhờ Tốn Phong viết lời tựa. Nhưng như vậy, mối tình kéo dài “ba năm vẹn” giữa hai người xảy ra vào lúc nào? Hoàng Xuân Hãn đoán nó phải xảy ra vào khoảng 1792-1795, lúc Nguyễn Du còn khá trẻ, khoảng dưới 30 tuổi. Lý do là, sau đó, nhất là kể từ năm 1802, lúc đã ra làm quan, rất ít khi Nguyễn Du có mặt lâu ở Hà Nội. Hết làm tri huyện Phù Dung lại làm tri phủ Thường Tín, rồi vào Huế, và làm Cai Bạ ở Quảng Bình. Nếu ông đi ra Bắc thì cũng chỉ ở lại một thời gian ngắn. Dù sao, đây cũng chỉ là giả thuyết. Cái gọi là mối tình “ba năm” ấy không nhất thiết là gần gũi trọn vẹn ba năm. Ở xa, nhưng thỉnh thoảng gặp nhau, cũng là tình yêu chứ?
Bài thơ trên là một trong những bài thơ hay nhất trong tập Lưu Hương Ký. Hay và cảm động. Nó cho thấy, dù có chút chua chát, Hồ Xuân Hương vẫn còn yêu Nguyễn Du. Và vẫn còn băn khoăn không biết Nguyễn Du có còn nhớ thương mình? Đó là ý nghĩa của chữ “sương siu” ở câu thứ 7, theo Hoàng Xuân Hãn, có nghĩa là bịn rịn.
Không hiểu sao, khi đọc bài thơ trên, tôi cứ ao ước HXH1 và HXH2 là một người. Chỉ là một người.
Cứ tưởng tượng “bà Chúa thơ Nôm” và “ông hoàng” của thơ ca Việt Nam là tình nhân của nhau?
Thì thú vị biết chừng nào.
***
Chú thích:
Tài liệu về Hồ Xuân Hương khá nhiều. Ở đây, tôi sử dụng ba cuốn chính:
Thơ Hồ Xuân Hương của Nguyễn Lộc, nxb Văn Học, Hà Nội, 1982.
Thiên tình sử Hồ Xuân Hương của Hoàng Xuân Hãn, nxb Văn Học, Hà Nội, 1995.
Hồ Xuân Hương, tiểu sử văn bản: Tiến trình huyền thoại dân gian hóa của Đào Thái Tôn, nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1999.

Tết, đọc lại thơ Nguyễn Du

Nguyễn Hưng Quốc
Tết, buồn, tôi đọc lại một số tập thơ cổ, trong đó có thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Càng buồn.
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du (1766-1820) còn lại khá nhiều, khoảng 249 bài, tập hợp trong ba tập: Thanh Hiên tiền hậu tập (sáng tác từ năm 1786 đến 1804), Nam trung tạp ngâm (từ 1805 đến 1812) và Bắc hành tạp lục (sáng tác nhân chuyến đi sứ sang Trung Quốc - 1813). Có thể xem đây là những tập nhật ký của Nguyễn Du từ lúc 21 tuổi đến năm 49 tuổi, 5 năm trước khi qua đời. Đó là nơi Nguyễn Du kể lể về cuộc đời mình và bộc bạch tâm sự của mình một cách trực tiếp, chứ không phải qua trung gian của một câu chuyện dịch từ tiếng Tàu như Truyện Kiều. Điểm nổi bật nhất, toát lên từ cả ba tập thơ, có lẽ là một tâm trạng: buồn rầu.
Buồn nhất là vì nghèo.
Xin lưu ý là Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình quý tộc, có thể gọi là đại quý tộc. Cha Nguyễn Du, ông Nguyễn Nghiễm (1708-1776), đỗ Tiến sĩ, có thời gian làm tham tụng, tức tể tướng, dưới quyền Chúa Trịnh. Anh cả, cùng cha khác mẹ của ông, Nguyễn Khản (1734-1786), cũng đỗ Tiến sĩ và cũng có thời gian làm tể tướng. Ca dao thời ấy có câu: “Bao giờ Ngàn Hống hết cây / Sông Rum hết nước, họ này hết quan.”
Có điều, khi Nguyễn Du lớn lên, tất cả những điều đó chỉ còn là những vang bóng một thời. Khi Nguyễn Du được 10 tuổi, cha mất; 20 tuổi, anh cả mất. Gia sản còn lại cho Nguyễn Du chắc chắn không nhiều, nếu không muốn nói là không có gì cả. Nguyễn Nghiễm có đến 8 vợ và 21 người con; mẹ của Nguyễn Du lại là vợ lẽ, lúc Nguyễn Nghiễm đã 48 tuổi (còn bà thì khoảng 16). Sau khi ông chết, phần lớn các bà vợ đều về nhà riêng. Mẹ của Nguyễn Du chỉ là con của một vị quan nhỏ, làm chức câu kế. Hơn nữa, bà cũng mất sớm, 3 năm sau chồng, lúc Nguyễn Du mới 13 tuổi. Sau đó, Nguyễn Du sống với Nguyễn Khản, lớn hơn ông 31 tuổi. Nguyễn Khản giàu có, tài hoa và cũng cực kỳ hào hoa. Nhưng quan lộ của Khản cũng rất lận đận, có lúc lên tột đỉnh vinh quang nhưng cũng có lúc bị giam cầm hoặc trốn tránh đây đó. Vả lại, ông cũng mất khi Nguyễn Du còn khá trẻ, lúc mới 20 tuổi, chỉ có một mảnh bằng nho nhỏ: tam trường (tức chưa phải Cử nhân) và phải chấp nhận làm một quan võ cấp thấp thay thế cho ông bố nuôi, người họ Hà.
Đến năm 1786, lúc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà và đánh tan chúa Trịnh thì toàn bộ những vinh hoa của dòng họ Nguyễn đều tan thành mây khói. Ngay cả dinh cơ của họ Nguyễn ở Nghi Xuân bị cũng phá sạch. Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập.
Ba hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong tập thơ này là: bệnh, đói và đầu bạc. Nên nhớ lúc này Nguyễn Du chỉ mới trên dưới 30 tuổi. Mà tóc đã bạc trắng (Trong tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu): “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở).
Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày).
Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương).
Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc, trong đó có chuyện bất lực và bế tắc về văn chương.
Một điều chắc chắn là ngay từ trẻ, Nguyễn Du đã mê văn chương và biết mình có tài về văn chương, như có lần, nhân dịp ghé thăm ngôi nhà cũ của Liễu Tông Nguyên (nhà thơ đời Đường, 773-819), trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa, ông đã tự nhận: “Tráng niên ngã diệc vi tài giả” (Thời trẻ, ta cũng là kẻ có tài năng). Cả đời, ông mê đọc sách. Thuở hàn vi, suốt 10 năm sống nhờ nhà người khác, hầu như lúc nào cũng đối diện với nguy cơ đói ăn và thiếu mặc, vậy mà nhà ông lúc nào cũng đầy sách: “Tứ bích đồ thư bất yếm đa” (Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng không vừa); “Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư” (Chuột đói leo giường gặm sách vở của ta). Bệnh, ông nằm với sách: “Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt” (Cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật). Sau này, năm 1813, ông được vua Gia Long cử làm chánh sứ sang Trung Hoa. Con đường đi sứ từ Huế đến Yên Kinh dài dằng dặc, băng qua những Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Nam, Hồ Bắc, An Huy, Hoài Nam, Sơn Đông; trên đường về, lại băng qua Hà Bắc, Sơn Tây, Hà Nam, trước khi nhập lại con đường cũ, qua Hán Dương, Nhạc Dương, Hành Dương, Quế Lâm, v.v… Suốt cuộc hành trình dài đằng đẵng ấy, lúc thì đi bộ, lúc thì đi ngựa, lúc thì đi thuyền, phần lớn thời gian Nguyễn Du dành cho việc đọc sách: “Khách lộ trần ai bán độc thư” (Thì giờ trên đường gió bụi, một nửa là đọc sách).
Mê sách và mê văn chương như thế, nhưng hầu như lúc nào Nguyễn Du cũng ngậm ngùi khi nói đến văn chương. Ông không tin văn chương là đầu mối của bất hạnh (“Vị hữu văn chương sinh nghiệp chướng” – Chưa từng có chuyện văn chương sinh ra nghiệp chướng). Nhưng ông cũng thừa biết văn chương không giúp được gì trong việc giải quyết các bế tắc trong cuộc sống thường nhật, nhất là lúc đất nước nhiễu nhương, hết chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Trịnh thì đến chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Lúc ở ẩn và chịu nghèo đói ở quê vợ, ông nhận ra một sự thật bẽ bàng: “Thư kiếm vô thành sinh kế xúc” (Nghề văn nghề võ đều không thành, sinh kế quẫn bách), “Nhất sinh từ phú tri vô ích / Mãn giá cầm thư đồ tự ngu” (Một đời chuyên về từ phú biết là vô ích / Sách đàn đầy giá, chỉ mình làm ngu mình). Có lúc, nhìn tóc bạc trắng và ngửa mặt lên trời, ông tự hỏi: “Văn tự hà tằng vi ngã dụng” (Văn tự nào đã dùng được việc gì cho ta). Sau, khi ra làm quan với Gia Long, ông được thăng cấp rất nhanh: thoạt đầu (1802) làm tri huyện; mấy tháng sau, đã được thăng lên làm tri phủ; ba năm sau, được thăng Đông Các Đại Học Sĩ; mấy năm sau, làm Cai Bạ, rồi được cử làm Chánh sứ sang Trung Hoa; về, được thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ, hàm Tam phẩm. Có thể nói quan lộ của Nguyễn Du rất hanh thông. Nhưng ông vẫn buồn. Thấy cảm hứng văn chương càng ngày càng leo lắt. Trên đường đi sứ, ông than thở: “Lão khứ văn chương diệc tị nhân” (Già rồi, văn chương cũng xa lánh người); rồi lại than thở: “Văn chương tàn tức nhược như tơ” (Hơi tàn, văn chương mảnh như sợi tơ).
Buồn, ông quay sang đọc kinh Phật: “Ngã độc Kim cương thiên biến linh / Kỳ trung áo chỉ đa bất minh” (Ta đọc kinh Kim cương hàng nghìn lượt, những ý nghĩa gọi là sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng).
Không biết việc đọc kinh Phật có làm ông nguôi ngoai hay không. Nhưng đọc thơ chữ Hán của ông, từ lúc trẻ đến lúc già, hết tập này đến tập khác, lúc nào cũng thấy một tâm trạng hiu hắt.
Bởi vậy, ông mới phân trần:
Tri giao quái ngã sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung?
(Bạn thường trách bảo hay sầu mộng,
Thiên hạ ai người thực tỉnh không?)
(Phạm Khắc Khoan và Lê Thước dịch)


Đọc Nguyễn Du, nhớ Nguyễn Khuyến

Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Khuyến
Hình: Wikipedia Commons
Nguyễn Khuyến
Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thấy tâm trạng buồn rầu và cảm giác bế tắc của ông khi nghĩ về chuyện văn chương, tự dưng tôi nhớ đến Nguyễn Khuyến.
Nguyễn Khuyến (1835-1909) ra đời sau khi Nguyễn Du đã mất được 15 năm. Cả hai đều trải qua những thời loạn lạc: với Nguyễn Du, loạn lạc xảy ra lúc còn trẻ; với Nguyễn Khuyến, lúc đã về già. Mức độ của cái gọi là loạn lạc ấy cũng khác: thời Nguyễn Du, đất nước thay chủ, từ Lê-Trịnh sang Nguyễn Tây Sơn và cuối cùng, Nguyễn Gia Miêu (quê gốc của các chúa và sau đó, của các vua Nguyễn, thuộc Tống Sơn, Thanh Hóa); thời Nguyễn Khuyến, không phải là chuyện thay đổi triều đại, mà là chuyện đánh mất chủ quyền: cả nước lọt vào tay thực dân Pháp. Cuối cùng, phạm vi của khái niệm loạn lạc cũng khác: thời Nguyễn Du, chỉ là loạn lạc về chính trị và xã hội; thời Nguyễn Khuyến, loạn lạc một cách toàn diện: không những chỉ trong lãnh vực chính trị hay xã hội mà còn cả trong lãnh vực văn hóa với sự thất thế của chữ Hán và sự lên ngôi của chữ quốc ngữ, từ đó, sự thay đổi trong hệ thống học đường và khoa cử, sự đảo lộn trong bảng giá trị đạo đức cũng như thẩm mỹ.
Cả hai, lúc còn trẻ, chắc chắn có rất nhiều tham vọng. Nguyễn Du thì sinh ra trong gia đình thế gia vọng tộc, lại nổi tiếng tài hoa về văn chương. Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình khiêm tốn hơn: cha chỉ đỗ tú tài, làm nghề dạy học và khá nghèo. Nhưng về khoa cử, ông lại hơn hẳn Nguyễn Du: Trong khi Nguyễn Du chỉ đỗ tam trường (tú tài), Nguyễn Khuyến lại thi đỗ cả ba kỳ thi Hương (1864), thi Hội (1871) và thi Đình (1871); hơn nữa, ở cả ba cuộc thi, ông đều đỗ đầu; nổi tiếng cả nước với danh hiệu “Tam nguyên Yên Đổ”. Đó là điều Nguyễn Khuyến rất tự hào. Trong bài “Di chúc”, có đoạn ông viết:
… Đức thầy đã mỏng mòng mong
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy.
Học chẳng có rằng hay chi cả;
Cưỡi đầu người kể đã ba phen….
Mà tự hào kể cũng phải. Nên nhớ trong cả lịch sử khoa cử bằng chữ Hán tại Việt Nam, kể từ khoa thi đầu tiên vào năm 1075 đến khoa thi cuối cùng vào năm 1918, tức hơn 800 năm, chỉ có cả thảy năm người đoạt được danh hiệu “tam nguyên” như thế: Đào Sư Tích (đời Trần), Lê Quý Đôn (1726-1784), Trần Bích San (1838-1877), Nguyễn Khuyến và Vũ Phạm Hàm (1864-1910).
Nhờ đỗ đạt cao, con đường làm quan của Nguyễn Khuyến khá thuận lợi, ít nhất là ở giai đoạn đầu. Hai năm sau khi đỗ khoa thi Hội và thi Đình, ông được bổ làm Đốc học ở Thanh Hóa; năm sau, làm Án sát Nghệ An, rồi mấy năm sau, được thăng làm Bố Chánh tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, sau đó, hoạn lộ của ông bắt đầu bị trắc trở. Năm 1879, vì chuyện gì đó, ông bị đàn hặc và bị điều về Huế, làm Toản tu Quốc tử giám, không còn quyền lực gì cả. Năm năm sau, ông cáo quan, lúc mới 50 tuổi ta. Tổng cộng ông làm quan chỉ được 11 năm.
Có cảm tưởng phần lớn những bài thơ còn lại đến bây giờ của Nguyễn Khuyến đều được sáng tác sau khi ông về hưu. Khung cảnh là khung cảnh làng quê. Một số nhân vật xuất hiện trong thơ ông cũng là những người dân dã. Tâm trạng là tâm trạng của một người đứng ngoài công danh. Tuy nhiên, chính ở đây, chúng ta thấy có sự khác biệt sâu sắc giữa Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến. Nguyễn Du hầu như lúc nào cũng phấp phỏng lo sợ, lúc nào cũng cô đơn và cô độc, lúc nào cũng thu mình lại, kín kẽ, giữ gìn, thậm chí có lúc phải đóng kịch: “Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục / Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân” (Ở đất khách, giả vụng về để phòng thói tục; gặp đời loạn vì muốn giữ thân nên luôn sợ người ta). Nguyễn Khuyến thì khác. Ông sống chan hòa với mọi người. Ông xem những người dân quê chung quanh như là bạn bè: “Chú Đáo làng bên lên với tớ / Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.” Điểm chung giữa Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến là tâm trạng của họ khi nói đến chuyện văn chương: Nhìn đâu cả hai cũng đều thấy bế tắc.
Nguyễn Khuyến xem thời mình sống là một thời “mạt học”: “Mạt học văn chương nhập hạ tằng” (Văn chương trong buổi học vấn suy tàn, đã rơi xuống bậc dưới). Rơi xuống bậc dưới là bậc gì? Nó chỉ trên bậc ăn mày một chút: “Hạnh nhân nho đẳng vi tiên cái” (Cũng may nhà nho còn được xếp trên hạng ăn mày). Thì cũng chẳng có gì lạ. Ngày xưa, ngay một nhà thơ lớn như Đào Tiềm cũng từng có lúc làm thơ xin ăn cơ mà: “Cổ nhân khất thực dĩ thành thi” Người xưa từng đã có thơ “xin ăn”). Biết thế, nhưng Nguyễn Khuyến không thể không trằn trọc tự hỏi: “Sách vở ích gì cho buổi ấy?” và có lúc ứa nước mắt: “Bút nghiễn trầm tư ưng hữu lệ” (Ngẫm nghĩ đến bút nghiên đáng tràn nước mắt).
Bây giờ chúng ta quen nhìn Nguyễn Khuyến như một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của Việt Nam. Nhưng thuở sinh thời, không chắc Nguyễn Khuyến đã có được mấy tri kỷ. Không đăng trên báo và cũng không in thành sách, thơ ông chủ yếu được truyền tụng trong bạn bè và một số người quen. Nhiều lần, ông nói là ông không cần có nhiều người đọc: “Tạp cú bất tu nhân cộng hưởng” (Câu thơ vặt không cần mọi người thưởng thức) hoặc “Phóng ngâm hà tất vạn nhân truyền” (Thơ ngâm tràn, cần gì phải vạn người truyền tụng). Nhưng có nhắc đến là có ảm ảnh. Mà ám ảnh ấy chắc chắn là buồn.
Một điểm đáng chú ý là khi nhắc đến thơ, ít khi Nguyễn Khuyến nhắc đến đơn vị bài. Mà chỉ dừng lại ở đơn vị câu.
Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu
Khi buồn ngâm láo một câu thơ.
(Đại lão)
Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén
Bút mới xô tay thử một hàng.
(Khai bút)
Câu thơ nghĩ, đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?
(Khóc Dương Khuê)
Ngoài những câu quen thuộc ở trên, Nguyễn Khuyến còn có câu thơ này tôi rất thích và cứ đọc đi đọc lại hoài trong đêm giao thừa vừa qua:
Trầm ngâm tọa đối hàn đăng chước
Nhất cú liên niên, hứng vị cùng.
(Ngồi lặng lẽ dưới bóng đèn, rót rượu uống
Ngâm một câu thơ kéo dài hai năm liền, hứng vẫn chưa cạn).
Ngâm thơ, ở ngay thời điểm giao thừa, từ phút trước sang phút sau đã là hai năm. Hình ảnh thật đẹp.
Một điểm nữa cũng cần lưu ý: Trước hình ảnh “ông đồ” trong thơ của Vũ Đình Liên, Nguyễn Khuyến đã từng là người viết thuê câu đối để sống trong những ngày tết. Chắc chắn là ông viết rất nhiều. Bây giờ chỉ còn lại vài chục câu. Câu nào cũng hay. Với chúng, Nguyễn Khuyến được giới phê bình và nghiên cứu xem là người viết câu đối nhiều, mẫn tiệp, và thú vị nhất trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam, một lịch sử, ở đó, hầu như bất cứ người đi học nào cũng phải viết câu đối.
Trong bài thơ “Đối trướng phát khách” (Bán hàng đối trướng), Nguyễn Khuyến kể về việc bán câu đối của mình như sau:
Sinh thục văn tự cách
Tân xuân hựu phát khách.
Nhất nguyên chí thập nguyên
Đa thiểu giá bình địch
Hữu khách lai mãi chi
Chỉ dĩ can lang bách
Ngã văn tuy bất giai
Khởi bất xứng tam mạch
Khách mãi giá hà liêm
Bất xứng ngã bất dịch
Trì lang khách thả quy
Bất thụ ngã bất thích
Khách khứ độc tư ta
Văn tự hà nhất ách.
(Một lối văn tự dở sống dở chín
Cứ đến năm mới lại đem ra bán.
Từ một đồng đến mười đồng,
Nhiều ít giá phải chăng.
Có một người khách đến mua,
Chỉ đưa có một trăm miếng cau khô.
Văn ta tuy chẳng hay
Há không đáng ba tiền?
Khách sao mua rẻ thế?
Không đáng giá thì ta không bán.
Thôi khách hãy mang cau về.
Không đắt hàng ta cũng không ngại!
Khách đi rồi ta than thở một mình:
“Văn tự mà cũng gặp khó khan đến thế!”)
Đọc bài thơ trên, không thể không nhớ đến Tản Đà (1888-1939). Là một nhà thơ nổi tiếng và tài hoa nhất của Việt Nam trong suốt mấy thập niên đầu của thế kỷ 20, kể từ sau cái chết của Tú Xương (1907) và Nguyễn Khuyến (1909) đến lúc phong trào Thơ Mới ra đời (1932), có lúc, do túng quẫn, Tản Đà phải sống bằng nghề bói toán. Lời quảng cáo đăng báo cũng là một bài thơ:
Còn như đặt quẻ
Nhiều năm (5 đồng) ít có ba (3 đồng)
Nhiều ít tuỳ ở khách
Hậu bạc kể chi mà.
Từ Nguyễn Khuyến đến Tản Đà, ngoài những thay đổi về văn hóa, bao gồm cả văn tự, khoa cử, ý thức hệ và cách sống, còn có hai thay đổi lớn khác ít được nhắc đến: xu hướng chuyên nghiệp hóa và thương mại hóa văn chương.
Khi nào có hứng sẽ bàn tiếp chuyện ấy.

Nguồn: VOA Tiếng Việt (theo blog TS. Nguyễn Hưng Quốc)


Khóc Tố Như.

Huy Việt 

Các bạn trẻ giờ không thích truyện Kiều, rằng: “Truyện Kiều hay ở chỗ nào, Nguyễn Du giỏi ở chỗ nào, chẳng qua là tả một con đĩ tàu lại dựa vào cốt truyện có sẵn. Vậy mà mọi người hết lời ca ngợi lại còn tôn vinh danh nhân văn hóa thế giới nữa chứ. Danh nhân văn hóa của các nước có nhiều tác phẩm để đời về văn hóa nước họ và giới thiệu văn hóa nước họ ra thế giới”. Kể ra điều đó không phải không có lý, ngay như Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:
"Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai"
. (Vịnh Thúy Kiều).
Vậy thì nên đọc Truyện Kiều sao đây?
Nguyễn Du có nhiều tác phẩm thơ văn khác nhau. Thế nhưng nói đến Nguyễn Du danh nhân phải là Nguyễn Du của Truyện Kiều. Bởi Truyện Kiều là một tác phẩm gắn liền với dân tộc Việt Nam, như thịt với xương. Ít có tác phẩm nào mà theo thời gian vẫn được yêu chuộng như Truyện Kiều. Truyện Kiều là tác phẩm “kinh điển”, khẳng định sức mạnh ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Truyện Kiều đã là một bài ca tình yêu và là một cuốn sách Đời, hoà trong đời sống của toàn dân tộc. Ngoài nội dung phong phú và sâu sắc, Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc. Ở đó Nguyễn Du đã “mượn” ngôn ngữ bình dân “làm nền” cho ngôn ngữ bác học, lột tả “thượng tầng kiến trúc” xã hội. Học giả Phạm Quỳnh đã nói như chân lý: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn”. Tức là vận mệnh đất nước gắn liền với Truyện Kiều, là bảo vật, là linh hồn của cả dân tộc. Thậm chí trong dân gian còn dùng Truyện Kiều làm sách bói thì chứng tỏ như nó đã ăn sâu thành tập quán trong nhận thức của xã hội.
Kiều, một người con gái đẹp người “làn thu thủy nét xuân sơn”, đẹp nết “thông minh vốn sẵn tính trời, pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”; xuất thân trong gia đình “thường thường bậc trung” có Vương Quan “nối giòng nho gia”. Kiều “hứa hôn” với Kim Trọng, một chàng trai “vốn nhà trâm anh”,“văn chương nết đất thông minh tính trời. Thiên tư tài mạo tót vời, vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”.
Do sự “búa xua” của thời cuộc, Kiều phải “bán mình chuộc cha”.
Trong lầu xanh Kiều đã gặp Thúc Sinh “cũng nòi thư hương” và “trước còn trăng gió sau ra đá vàng”. Vợ Thúc “Vốn dòng họ Hoạn danh gia, con quan lại bộ, tên là Hoạn Thư”, “Ở ăn thì nết cũng hay, nói điều ràng buộc thì tay chẳng vừa” và cái gì đến cũng phải đến, Kiều bị hành hạ bởi “thói đánh ghen”, để rồi kinh hãi thốt lên “Đàn bà thế ấy thấy âu một người, Ấy mới gan, ấy mới tài, Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời”.
Thoát Hoạn Thư Kiều lại rơi vào chốn lầu xanh lần nữa, ở đây nàng đã gặp “khách biên đình” Từ Hải, văn võ toàn tài “Một tay xây dựng cơ đồ, bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành” và “đống xương vô định đã cao bằng đầu”. Từ Hải đã nghe lời Kiều để “bó thân về với triều đình”, để rồi “chết đứng trời trồng”. Hết nạn binh đao, “hại một người, cứu muôn người”.
Cuối cùng, sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều và Kim Trọng tái hợp.
Nếu Kiều không đơn giản chỉ là Kiều thôi, mà là “con đỏ”nước Việt thì sao nhỉ? Rồi Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải không phải là các nhân vật ấy nữa mà là các thế lực cầm quyền, các thế lực “xưng hùng, xưng bá” trong “thời nội chiến” kéo dài 32 năm thời bấy giờ thì mọi chuyện sẽ khác.
Lúc đầu cụ Nguyễn mô tả xuất xứ của Kiều “Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung...Vương quan là chữ nối dòng nho gia”,
Cái “cơ đồ” của “con đỏ” nước Việt cũng không tồi đấy chứ, nói như Nguyễn Trãi “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Kiều “hứa hôn” với Kim Trọng cũng chỉ là “con đỏ” đi với nhà cầm quyền, như nhà Lê và nhà Nguyễn.
Các thế lực “vu oan giá họa” (sai nha) có thể là “nội tình” chúa Trịnh đàng ngoài và Trương Phúc Loan đàng trong. Nếu không thì làm sao “cấu thành” nội chiến. Cần phải nói rằng Trịnh – Nguyễn phân tranh nhưng Nguyễn chính danh, còn Trịnh thì không. Bởi khi Nhà Mạc soán ngôi Nhà Lê thì Nguyễn Kim đã phục hồi Nhà Lê, chỉ khi Nguyễn Kim mất thì con rể Trịnh Kiểm đã sát hại con cả của Nguyễn Kim, “đẩy” Nguyễn Hoàng ra rồi “rảnh tay” xây dựng ngôi chúa. Việc Nguyễn Hoàng xây cơ ngơi của chúa Nguyễn có thể chấp nhận được ít ra là dưới con mắt các nhà nho bấy giờ.
Kiều đi với Thúc Sinh “cũng nòi thư hương” thấp thoáng bóng dáng “Cống Chỉnh” (Nguyễn Hữu Chỉnh), cuộc “hôn phối” này cũng lãng mạn đấy chứ. Cũng như Thúc Sinh, “Cống Chỉnh” cũng là “người tử tế”, chỉ nỗi ghen tuông của Hoạn Thư đã đày đọa Kiều, giết chết tình yêu của Kiều, cũng như Công Chỉnh bị giết vì tài ba đến mức “phát ghen’ sợ mất ngôi nen vu cho “âm mưu làm phản”.
Kiều đi với Từ Hải, là “con đỏ” đi với Quang Trung. Nguyễn Du nói về Từ Hải ở hai khía cạnh khác nhau: tài thì đứng đầu nhưng danh thì không chính, nếu như không muốn nói là giặc cỏ, là giang hồ. Điều này không sai và trùng với ý bác Hồ khi “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường”. Phi thường nhưng lại là kẻ. “Kẻ” ở đây là đại từ vô nhân xưng, có thể hiểu là không chính danh. Cuối cùng “con đỏ” vẫn trở về với triều Nguyễn.
Chắc Nguyễn Công Trứ không đồng tình cách ứng xử của Nguyễn Du là trung thần nhà Lê nhưng sau đó lại là đại thần nhà Nguyễn. Ông không chịu được thứ tình cảm mâu thuẫn vừa yêu mến Từ Hải lại vừa nể sợ quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến của Nguyễn Du và nhiều người đương thời. Đặc biệt ông không thể tán thành lối sống của phần lớn nho sĩ cùng thời với ông lăn lóc trong chốn hành lạc mà lại luôn luôn lên mặt đạo đức dạy đời, luôn tỏ ra mình là đấng mô phạm, là quan phụ mẫu bách tính.
Tuy nhiên cụ thượng phê là phê thế thôi chứ cụ sinh sau Nguyễn Du 13 năm, mà thưở trai tráng cụ lại lo “ăn chơi nhảy múa” (theo một nghĩa nào đó –con hát mà). Mãi đến năm 42 tuổi cụ mới đỗ giải nguyên và ra làm quan đúng năm Nguyễn Du qua đời, 18 năm sau nội chiến. Thử hỏi “con đỏ” có con đường nào khác trong thế sự đó, họ phải chấp nhận không nhà cầm quyền này thì nhà cầm quyền khác. Vả lại trong lịch sử vẫn luôn tồn tại cuộc “hôn phối” giữa “con đỏ” với các nhà cầm quyền, nếu không thì cũng là “tỳ thiếp”, “con sen” của họ. Nguyễn Du nói về “con đĩ Kiều” nhưng lại không hề “chê bai” hay “mạt sát” mà ngược lại chia sẻ và đầy thông cảm “rằng tài nên trọng mà tình nên thương” . Kiều bán mình để chuộc cha hay kẻ sĩ hy sinh cuộc sống để giữ lấy đạo nhà. Kiều làm đĩ là “bất khả kháng, chính vậy mà cụ Nguyễn phải thốt lên “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”. Đau lắm chứ, không đau sao được khi mà một “kiều nhi” đẹp người, đẹp nết, tài hoa, ngây thơ, trong trắng bị rơi vào hố “bùn nhơ”. Nhiều lần muốn quyên sinh cũng nào có được. Chẳng khác nào kẻ sĩ phải đánh đu với thời cuộc, đánh đĩ với quyền lực. Cái đau của kẻ bất lực trước nàng Kiều đáng thương. Nhưng nhờ hy sinh cuộc sống để giữ đạo nhà, cho nên kẻ sỹ vẫn giữ dược nhân phẩm, lại được qua “cuộc bể dâu” nên vẫn còn đó “quả mai ba bảy đương vừa”. Nhức nhối thế sự lắm Nguyễn Du mới thốt lên: "Không biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời ai khóc Tố Như chăng".
Vậy cớ sao cụ lại tả “con đĩ tàu”? Tả ai có quan trọng gì đâu, thông điệp gửi đến người đọc mới là quyết định, mà điều này thì cụ đã làm được. Nếu không vậy liệu cụ có “tồn tại” được không giữa triều đình còn đầy nghi kỵ với một ông vua “độc tài” và “cay nghiệt” Gia Long và như vậy làm sao có Truyện Kiều. Cụ ra làm quan với Nhà Nguyễn để thể hiện cái tâm, đem chút cái năng lực của “quả mai ba bảy” để giúp dân, phụng sự đất nước, để rồi “tự chết” mà không chịu uống thuốc.
Thử hỏi rằng hà cớ gì một tác phẩm có tính nghệ thuật cao vời vời như thế, lột tả “thượng tầng kiến trúc” (tư tưởng) của một giai đoạn lịch sử của xã hội “nham nhở, chông gai” với tất cả tính “nhân văn” cao nhất có thể được mà tác giả của nó lại không xứng tầm danh nhân thế giới kia chứ?
Khóc Tố Như đồng nghĩa với hiểu Tố Như, có hiểu nỗi đau cụ phải chịu đựng thì mới khóc cụ, khóc cụ tức là cùng khóc với cụ, chia sẻ với cụ. Xin được khóc Tố Như.

Nguồn: Blog Huy Việt - Tiếng vọng thời gian


Trở về trang chính

9 tháng 4, 2012

Trò chuyện với anh Lưu Quốc Hoà

HOCMOINGAY. Tôi chưa gặp anh (nhà văn Lưu Quốc Hoà) và Thúy Tím ngoài đời nhưng thân thiết với anh qua "Những ngôi sao không bao giờ tắt" và biết Thúy Tím qua "Ru Đêm". Nay đọc Thúy Tím-bạn tôi thấy thân thiết và sinh động quá ! Đó là một Chân dung và đối thoại đặc sắc, có thần và có hồn. Những cảm nhận chân thành của bạn hữu cuối bài chứa nhiều điều thật thú vị.

Tôi thích lời tự bạch của Thúy Tím: "...Bài viết của anh khiến em thấy rõ là trong con mắt bạn bè em có rất nhiều khuyết tật gai góc. Tính cách đó có thể bởi tại chính cách nghĩ của em chăng? Em luôn cảm thấy mọi người rón rén đi trong cuộc đời, vừa đi vừa cố mài giũa và đánh bóng mình sao cho ai nhìn vào cũng thấy ưng ý. Làm như thế họ đạt được nhiều thứ: Danh vọng, lời khen tặng và ngấm ngầm tự hào về bản thân. Đó có lẽ là cách sống rất chuẩn với các quy ước xã hội. Em cũng tin rằng anh biết rõ điều đó, nhưng anh cũng như em có lẽ trời đã bắt tội phải sống theo lối khác. Nghĩa là cứ phăm phăm tiến về phía trước mà chả thèm nhìn ngó bản thân mình xem thiên hạ bình phẩm về mình ra sao. Khen cũng được mà chê cũng được, hì hì. Trong những tiêu chí bước trên đường đời em chỉ chú trọng một ý niệm duy nhất là tuyệt đối không làm điều gì khiến lương tâm bị cắn rứt. Em rất cố gắng sống hòa đồng và đơn sơ như cỏ cây. Trở về với bản thể của chính mình."

Hãy là chính mình, đó là điều tâm đắc. Phúc hậu và thực việc là bài học lớn. Tôi bật cười khi chính mình trong cuộc đời không thể đi nhanh, đi phăm phăm được như Thúy Tím mà ưa lối đi thung dung, khoan thai, tìm tòi hơn. Âu đó cũng là bệnh nghề nghiệp ! Xin anh được chép bài này về trang HỌC MỖI NGÀY http://hocmoingay.blogspot.com

Hoàng Kim

Xem tiếp

Thúy Tím ( ĐẶNG HỒNG THÚY) BẠN TÔI.

Lưu Quốc Hoà

Trong số bạn bè văn chương có dấu ấn đặc biệt với tôi và với các chị Cựu pháo thủ, đồng đội 10 cô gái Lam Hạ có Đặng Hồng Thúy ( vẫn gọi là Thúy Tím theo panme trang mạng của cô)

Thúy Tím nhiều lần cưỡi xe hơi về nhà tôi chơi cùng chồng con và bè bạn. Anh Hiến, chồng Thúy hơn tôi một tuổi rất đẹp trai, trầm tư bên cô vợ phá phách ngang nghạnh về tính khí, đùa như lốc cuốn, cười như vỡ chợ, ngay thẳng đến mức nhiều người khó chịu, không thích cái gì là vỗ mặt luôn không vòng vèo rào đón…Cái đặc điểm táo tợn ấy nếu ai luôn gần thì khoái, thì yên lòng nhưng người chưa hiểu thì …Hãi. Chính Thúy Tím với bút danh Ru Đêm nhiều lần hoành tác, làm nổi những cơn phong ba trên mạng…Lúc mới sơ kiến, chính tôi cũng hãi nàng về cách viết, cách nghĩ, những lời đấu khẩu như táp lửa vào những điều mà cô coi là “chưa ổn”…Tôi lặng lẽ và run dẩy ngắm nàng như ngắm một tên đầu gấu bất trị đang nhăm nhe kịch chiến với tôi.

Bây giờ thì Thúy và tôi đã thành bạn văn thân thiết và luôn có nhau trong các cuộc vui. Tôi bám càng Thúy còn một lý do hơi thực dụng nữa là được cưỡi ô tô miễn phí do chính tay nàng lái và hai bên “thi đua” tán bậy.

Là Kỹ Sư điện, Thúy không là kẻ lấy nghiệp văn nuôi thân nhưng rất có ý thức về tác phẩm của mình. Rất nhiều truyện ngắn và thơ đã được đăng gây hiệu ứng tốt trong giới văn chương, bản thân cô đã có những tác phẩn thơ in tập rất trĩnh triện trên Thi đàn. Cả hai mảng thơ và văn Thúy đều thành công. Những cây bút thoát sự cường tỏa của áo cơm, cường quyền thường rất đúng với tâm mình, không phải uốn éo để phù hợp với nhiệt độ chính trị.

Đặc điểm riêng của Thúy Tím là bỗ bã ngay thẳng….Đến mức thẳng đuỗn. Ngay những cây bút đã thành danh khi có điểm gì đó chưa đạt tầm Thúy cũng có chính kiến phản biện…Bạn văn có gì đó nhấp nhênh về lối sống, lập dị và cố ý lập dị cũng không qua mắt Thúy…Điều ấy vừa đáng yêu nhưng cũng gây khó chịu cho bạn khi đặc điểm nghề chữ nghĩa người ta hay soi bóng mình trên vách. Có lần Tím chỉ mặt tôi trước bạn văn với câu nửa đùa nửa thật: “Ông là loại nói tục, viết tục nhất trong cánh văn chương mà tôi quen biết”

Tôi định đả lại nhưng thôi, kệ nàng, trời sinh ra nàng nó thế. Ngang nghạnh, bướng bỉnh thì trời cũng sinh ra tôi: phá phách, ngang tàng, hài hước, tục tĩu và trên mỗi trang viết, chủ đề tình dục đi trước tình yêu rồi trượt sang…dâm dục.

Quả thật không ai có quyền phủ định ai dưới gầm trời này. Trời đã bỡn cợt khoác lên cổ họ cái nghiệp, cái tính khí thì cứ gò cổ mà đeo đến chết mới thôi.

*

Tôi thích giao lưu với Tím vì ngoài văn chương, Thúy rất chu đáo và tín nghĩa với bạn bè. Hễ ai trong nhóm bạn văn gặp ốm đau hoạn nạn là nhanh chân nhẹ miệng đến chăm sóc hỏi han, động viên. Đó là sợi dây gắn kết nhóm bạn Văn trên Blog. Nói tốt, viết hay nhưng cư xử với nhau không chân thành cũng khó lấy của nhau được sự nể trọng lâu dài…

*

Chiều qua, tiết Thanh Minh tôi nhận được cú điện của nàng: Này ! Thủ từ ơi, ra ngay mở cổng đền cho mẹ con em vàolễ 10 cô gái Lam Hạ.

Thúy Tím xuống xe , đi theo là cô gái rượu, người đi sau, tiếng cười đi trước. Qua tết đến giờ nàng chăm tẩm bổ tẩm béo nên trông rất “hùng vĩ”. Nếu cắt bỏ phần đầu, nàng sắp trở thành cái giáo cụ trực quan hình chữ nhật.

Chi hội Cựu dân quân do tôi thành lập đang dâng hương đồng đội. Mẹ con Tím ngồi cùng chiếu, ấm áp và tin tưởng đọc thơ. Bài dấu lặng không tên mà nàng đã góp cùng tôi trong tập NHỮNG VÌ SAO KHÔNG TẮT đang treo trên vách Đền thiêng.

Gặp lại Thúy , nghe Thúy đọc thơ nhiều chị khóc, ôm Thúy như ôm một đứa em vừa đi vắng lâu ngày trở về. ..Tôi thấy Thúy cũng đỏ hoe đôi mắt…Giữa lúc đang lạm phát thơ như hôm nay thế mà có người làm thơ để ám ảnh người đọc, lấy được nước mắt người nghe kể cũng là của hiếm. Thúy hứa lần sau về sẽ tặng mỗi chị một bộ đồng phục để các chị xập xòe đi hội.
Tôi lại thấy ghen ghen, các trang viết về các chị 9 năm nay cũng hiếm được hạnh phúc như thế.

Nguồn: Blog Lưu Quốc Hoà


Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC


Người theo dõi