Lưu trữ Blog

27 tháng 9, 2008

Gặp “ông chủ” Viet-studies



GS. Trần Hữu Dũng trả lời phỏng vấn

Nguyễn Thị Ngọc Hải thực hiện

HOCMOINGAY Báo Người Đô thị 9.2006. Các “fan” bất ngờ gặp ở Press Café trong cơn mưa lạ Sài Gòn. Hiểu vì sao trên trang web được coi như bộ lọc tri thức lớn nhất, có dòng báo cáo: “Cho đến ngày 16.8 trang này không được cập nhật thường xuyên – người làm trang về quê”. Vị khách cao gầy, áo pun giản dị, kêu “1 ly cà phê đá lớn” – giáo sư tại Mỹ nổi tiếng nhưng khiêm nhường - Trần Hữu Dũng.

Dị ứng với “trí thức” và “Việt kiều”

Dị ứng với cách gọi “trí thức” “Việt kiều” vậy thưa phải gọi ông là gì ạ?

Gíao sư Trần Hữu Dũng: Một người sống xa tổ quốc. Tôi không nghĩ mình là Việt kiều. “Trí thức” nghe quá kênh kiệu. Người khác dùng trung hoà hơn. Tôi cũng dị ứng với các từ “toàn cầu hoá” và “hiến kế”. Nghe to tát quá.

Ông quan niệm trí thức chỉ là một thuộc tính của nhiều ngành. Toàn cầu hoá sản sinh một giai cấp mới, làm việc sinh sống khắp nơi. Nhưng vì sao tham luận của ông trong hội thảo hè Nha Trang vừa xong lại là về trí thức Trung Quốc 20 năm gần đây?

Quan niệm mới của một nhà kinh tế - triết gia (Amartya Sen) viết về “toàn cầu hoá nhân thân” cho rằng toàn cầu hoá và yêu quê hương không trái nhau. Phải có một quê hương. Giúp toàn cầu hoá trọn vẹn đúng nghĩa hơn. Nhưng sống ở đâu cũng đóng góp được cho quê. Bên nhà lâu lâu lại nói “thu hút Việt kiều về nước đóng góp” là cổ lỗ sĩ. Trí thức là đầu óc mở rộng, không là bằng cấp. Nhiều người bằng cấp không trí thức.

Nhưng tại sao tham luận của ông không là nghiên cứu trí thức Việt Nam mà lại là trí thức Trung Quốc?

Tôi phát hiện thấy họ có sinh hoạt rất sinh động, bộc lộ được quan điểm công khai trên báo, có những phê phán chính phủ được lắng nghe. Nhiều chính sách ra đời từ ý kiến như thế. Trí thức mình ít bộc lộ - nước mình không như Âu Mỹ (mặc dù ai mà nói chỉ có Mỹ dân chủ là tôi “xin phép” đó). Nhưng tôi hiểu ở đâu cũng có những vùng trống cho phép. Thí dụ ở Trung Quốc đó là các vấn đề môi trường, y tế giáo dục, đất đai, hành chính, lãnh chúa đỏ… Họ thử từng bước, không ngồi than. Lãnh đạo phải tự tin, phải để vùng trống cho suy nghĩ, không sợ nghe phản biện.

Có phải vì thế mà trang web của ông có tờ Thời Đại Mới, “Một tạp chí nghiên cứu thảo luận” – và một web tiếng Anh (cùng làm với một giáo sư triết người Mỹ) - web này được giải lớn tương đương Oscar trong điện ảnh và tờ New York Times gọi đó là “chỗ hẹn trí thức toàn cầu”?

Sở trường của tôi là đọc nhiều trào lưu kinh tế văn hoá. Tờ Thời Đại Mới của chúng tôi viết khoa học cho dân đọc, những vùng trống có thể làm được. Nếu không thử, sẽ không tìm ra cách. Ở ngoài nước, cứ tối ngày ngồi than Việt Nam thiếu dân chủ, nhưng có nhiều vấn đề ích lợi học thuật sao không làm. Không ai thử, chỉ ngồi than. Tiếp xúc trong nước tôi cũng thấy vậy, 2/3 câu chuyện là than phiền.

Làm Viet-studies.info


Ông vừa giảng dạy đại học, hướng dẫn sinh viên vừa viết sách giáo khoa kinh tế bằng tiếng Anh, lại làm trang web như một bộ lọc tri thức lớn, ông lấy đâu ra thời gian và có ai giúp không?

Tôi làm một mình từ A-Z kể cả đánh máy, còn bỏ tiền túi ra làm. Nhưng mỗi năm bỏ 2.000 USD không là vấn đề. Mà bỏ rất nhiều thời gian. Một ngày ngủ 4 tiếng, trừ thời gian lái xe trên đường là không làm việc. Còn thì ngồi computer. Cơm cũng dọn ăn ở bên computer.

Tôi ham nhiều thứ, luôn viết trễ. Giáo trình kinh tế lãnh nhuận bút rồi mà chưa nộp. Tôi ham chuyện này làm một nửa lại bắt chuyện khác. Tội tôi thường xuyên.

Ông làm Viet-studies như thế nào?

Tôi không coi đó là tờ báo, chỉ thu thập những bài vở có nhiều người thích như tôi để chia sẻ với bạn bè. Tôi đọc không phân biệt. Bài hay ở nguồn nào cũng đăng. Tờ Công An Nhân Dân có mục văn hoá khá.

Sao ông không cho đăng mục ý kiến ngắn như nhiều web làm?

Tôi không thích những comment, giống như “người tức giận chạy xe qua quăng lựu đạn rồi chạy mất”. Ngay cả nhiều trang hải ngoại nghiêm túc để cho độc giả phê bình, tôi thấy như có người đi ngang qua chửi, cười hà hà, bất công với tác giả.

Nhưng lời bình ngắn của ông sau các bài, tuyệt vời độc đáo đấy chứ! Nhiều câu đau. Nhiều câu hóm lắm, đọc rồi cười mãi không thôi. Ngay cả vấn đề nghiêm túc…


Vậy à?

Thí dụ: “Bộ trưởng chống lãng phí hội họp” – bình: Bộ trưởng cho biết không bao giờ ông ngủ gật lúc họp – xin lỗi bộ trưởng, tôi không tin”. Hoặc: “Cho ăn kẹo tôi cũng không dám bình luận chỉ thị này”. “Gia tăng xâm hại tình dục trẻ em” - bình: Một dân tộc mà không che chở được con cháu của mình là một dân tộc gì. “Tường đổ đè trúng 3 người đang uống café sáng” – bình: tự nhủ, về Việt Nam lần sau phải cẩn thận chọn chỗ ngồi uống café, không nên để fan của viet-studies dẫn đi đâu thì đi đó, hahaha!

Tôi vẫn thường nhờ anh em khi nào có lời bình quá đáng thì nhắc nhở giùm. Tôi cố khách quan, đúng đắn, không phá đám, cũng không cuồng tín.

Ông có lý giải được vì sao độc giả miền Bắc đọc Viet-studies nhiều hơn miền Nam?

Thắc mắc của tôi đó. Hỏi nhiều anh em. Có lẽ miền Bắc văn chương chú ý nhiều. Miền Nam kinh tế làm ăn năng động hơn.

Giáo dục – khó không do tiền bạc


“Một nhóm tư nhân” – chữ dùng của Ban tổ chức – thường tổ chức những hội thảo hè ở nhiều nước (vừa rồi ở Nha Trang). Ông còn tham gia đề án cải cách giáo dục Việt Nam cùng nhóm giáo sư – nhà nghiên cứu tên tuổi trong ngoài nước. Ông thấy khó nhất của Việt Nam là gì?

Là cơ chế.

Xin ông nói rõ. Vì “cơ chế” như cái “bị bông” đấm hoài không đổi. Rất mơ hồ, xin ông nói cụ thể.

Ai cũng biết tình trạng giáo dục như thế nào. Chúng tôi làm đề án không thấy khó tiền bạc. 20 triệu USD là có thể có một trường đại học chất lượng cao. Bằng kinh phí cuộc thi hoa hậu hoàn vũ vừa rồi. Kinh nghiệm canh tân của Hàn Quốc, Nhật rất cần quyết tâm nhà lãnh đạo. Dự án nguyên tử Manhattan của Mỹ, hoặc dự án đưa người lên mặt trăng. Chọn người chỉ huy project toàn quyền, tổng thống đứng sau. Đó là cơ chế.

Còn ở Việt Nam? Làm sao chọn được người chỉ huy như vậy?

Đúng. Nếu ở Việt Nam cho tôi làm bộ trưởng, tôi cũng không biết làm được gì. Khó khăn nhất là cơ chế chồng chéo mê hồn trận. Sự cố lặt vặt hành chính giấy tờ không tưởng tượng được. Nhiều người Việt ở ngoài muốn giúp đất nước lắm, nhưng cơ chế xơ cứng ngăn cản. Thí dụ nhỏ thôi như ông Võ Tòng Xuân được mấy anh em bên Úc về An Giang thấy cơ sở của ông xài vi tính cũ quá. Anh em gửi, hải quan không cho nhập, bảo hàng second-hand, phải có lệnh bộ Tài chính. Ông chạy tới chạy lui. Mấy trăm cái vi tính nằm hải quan cả năm. Chắc hư hết rồi. Tôi cũng có mấy ngàn quyển sách quý muốn gửi về, nghe nói phải kiểm duyệt.

Là một giáo sư đại học Mỹ, ông thấy sự khác biệt nào trong giảng dạy, học hành so với Việt Nam?

Chuyện lương đủ sống để chuyên tâm giảng dạy, nghiên cứu thì biết rồi. Còn nạn xin điểm, dùng áp lực thì Mỹ chỗ tôi không có. Trưởng khoa tôi không có quyền nếu tôi cho học sinh rớt. Có chuyện con một giám đốc cỡ lớn, ông ta cho trường cả triệu đô. Tôi cho rớt vì điểm kém. Ban giám hiệu đứng sau giáo sư, ủng hộ. Đó cũng là cơ chế chứ gì?

Sinh viên tôi vào lớp không đọc – chép. Phải đọc sách trước đó, phải hỏi, phải thảo luận. Một cua tôi dạy mỗi người có thể chọn một SGK tham khảo, đọc các bài báo chuyên ngành để vào lớp thảo luận.

Nhớ mùi hương tuổi trẻ

Về Việt Nam lần này, ông thấy sao?

Tôi khá ngạc nhiên, tưởng lạm phát kinh tế suy thoái, mà dân thành thị vẫn ăn nhậu như điên. Giàu nghèo phân hoá sâu sắc. Kinh tế thuơng mại thiếu dữ liệu, nhiều tin đồn. Tập đoàn này của ông này, vợ ông kia, đúng sai không rõ, nhiều việc không biết địa chỉ ai làm. Về lần này tôi phát giác một điều: cuộc sống tôi may mắn. Bình ổn. Có cảm giác sống ở Việt Nam bon chen quá, ham kinh tế, quyền lực.

Biểu hiện nào làm ông nghĩ tới ham quyền lực?

Qua câu chuyện, họ tả xã hội Việt Nam ông này muốn làm cái này, muốn tranh chức kia. Bị ám ảnh quyền lực.

Cuộc sống của ông ở Mỹ thế nào?

Tương đối bình ổn, dù con người không bao giờ hết lo. Lúc trẻ lo lên, xuống, biên chế… tôi qua rồi. Làm chuyện nghiên cứu. Nhược điểm: ham nhiều việc, không có thời gian. Đời sống ở Mỹ khắc nghiệt so với châu Âu. Nhưng ít bị áp lực nhóm xã hội như ở Nhật. Chữ hạnh phúc cũng khó nói. Châu Á liên hệ gia đình nhiều. Thời kỳ tôi phỏng vấn đi làm, một người hỏi: mày li dị mấy lần rồi. Họ cho là thường nhưng ở Việt Nam đó là điều tổn thương nặng nề. Vậy mà người Việt bên đó bắt đầu như vậy.

Ông có như nhiều người lớn tuổi muốn về Việt Nam sống?

Ai cũng nhớ quê hương . Nhưng nhiều người nói để tôi ở bên ấy làm nhiều điều ích lợi hơn về đây dạy học. Mỗi năm chúng tôi cũng giúp cho các em sinh viên đi du học. Còn bây giờ bắt tôi vào lớp Việt Nam dạy cách đó tôi dạy không được.

Yêu và nhớ thương quê hương nhất là những khoảnh khắc: chiều mưa, một nụ cười cô gái, cụ thể chứ không hùng vĩ sông núi. Tôi nhớ mùi hương, khó nói lắm. Mùi sau cơn mưa. Nước, lá cây, gió lạnh mát… không diễn tả được. Sáng nay tôi nghe ở nội thành Sài Gòn có tiếng gà gáy. Tiếng bà hàng xóm quét lá. Quê hương là tố chất của con người. Không có thì thiếu thốn. Nghĩ nặng nặng, buồn buồn trong tâm hồn. Quê hương quá khứ của mình…

Buồn buồn vì nghĩ quê hương còn khổ, hay vì phải xa cách?

Vì xa cách theo hai nghĩa: địa lý và thời gian. Quê hương sinh đẻ. Đi con đường nghe mùi hương chợt nhớ mùi hương tuổi trẻ của mình. Thế mới biết công ơn nhân loại như Einstein hoặc mỗi ngày nghe nhạc Mozart đem lại cho con người niềm vui hoài hoài. Phần thưởng tạo hoá cho con người hưởng mãi.

Ông là con trai bác sĩ nổi tiếng Trần Hữu Nghiệp, yêu thích y khoa, văn học, báo chí, âm nhạc lại trở thành giáo sư kinh tế ở Mỹ?


Con người là sự tình cờ của lịch sử. Ngay việc tôi qua Mỹ, được học bổng, đổi nghề (ngày xưa tôi là kỹ sư), cũng tình cờ như tung đồng xu sấp, ngửa. Tôi thích sử. Hồi lên 7 tuổi, tết được tiền lì xì. Đang buổi tối tôi gõ cửa nhà sách xin mua cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim về đọc liền.

Ông có biết tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn?

Cũng tình cờ, mà đâu biết ông làm tình báo. Thời kỳ tôi mới học ở Mỹ về còn chờ việc làm, hay ra ngồi café với ông Ẩn và đám báo chí tán dóc. Thời kỳ ở Givral – tiệm Café.

Tôi học tiếng Việt thực sự


Qua Mỹ rất sớm, từ những năm 60, nhưng tiếng Việt của ông thật tuyệt vời – là do ông làm báo mạng?

Không dễ vậy đâu. Tôi học tiếng Việt thật sự. Câu nào hay, tôi chép lại. Hơn 10 năm về trước tôi viết tiếng Việt chưa thạo. Vì có nhu cầu viết nên tôi làm một từ điển kinh tế Anh Việt cho mình.

Ông thấy tiếng Việt trong nước có nhiều biến đổi không?

Tiếng Việt giàu có hơn. Tiếng đời thường đi vào viết lách nhiều hơn. Xưa miền Nam không đưa vào văn viết chữ “hầm bà lằng” chẳng hạn. Nguyễn Ngọc Tư viết nhiều tiếng dân dã. Tôi dám viết vì thấy xài rồi. Tôi yêu tiếng Việt có những cái hồn, người hiểu tiếng Việt mới thấm được. Ngay cả khi viết mail, đối với tôi tiếng Việt không dấu thì cũng như bỏ một đoá hoa thơm vào bao giấy kiếng, không có mùi hương gì hết.

Tôi viết có dựa vào cuốn từ điển của Hoàng Phê. Mua hai cuốn. Một để ở sở làm, một ở nhà. Nhiều người muốn viết hồi ký để lại cho các con, nhưng con đâu biết tiếng Việt. Thật buồn phải không?...

Nguyễn Thị Ngọc Hải (thực hiện)
9-9-08

23 tháng 9, 2008

Thư từ Mỹ: Về cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sắp đến


Trần Hữu Dũng

Bạn quý mến,

Thế là, trừ khi có biến chuyển hoàn toàn bất ngờ, hai liên danh tranh cử tổng thống Mỹ ngày 4 tháng 11 này sẽ là Barack Obama – Joseph Biden (đảng Dân Chủ) và John McCain – Sarah Palin (đảng Cộng Hòa). Nghị sĩ Obama và McCain đã đến vị trí này bằng hai con đường khá khác nhau. McCain thì từ tháng 4/2008 đã không còn đối thủ nào đáng kể. Đúng ra, cho đến đầu năm 2008 thì dư luận đều cho là cuộc đời chính trị của McCain đã đến đoạn kết vì ông hết tiền, mà lại có vẻ lè phè, không biết tổ chức tranh cử. Nhưng rồi, nhờ những lỗi lầm nặng nề trong chiến lược tranh cử của các ứng viên khác (như cựu thống đốc Mitt Romney, cựu thị trưởng Rudy Giuliani, cựu thống đốc Mike Huckabee...), cũng như sự kém cỏi về cá tính của họ (theo nhận định của cử tri), McCain trở thành người sống sót cuối cùng và mặc nhiên là ứng viên chính thức của đảng này từ tháng 4/2008, như đã nói.

Khác hẳn con đường của McCain, con đường của Barack Obama đi đến chỗ được đảng Dân Chủ chính thức để cử là khá “trầy da tróc vảy”, mà nguyên nhân chính là bà Hillary Clinton. Trong giai đoạn bầu cử sơ bộ, tuy bà đã bị “xiểng liểng” ngay từ đầu song thỉnh thoảng cũng thắng ở vài bang quan trọng, và ngày càng quyết liệt chỉ trích Barack Obama (tất nhiên, sau này, phe McCain khoái chí dùng lời của bà để hạ Obama). Mãi đến tháng 6 thì bà Clinton mới chịu đầu hàng, rút lui khỏi cuộc chạy đua. Dù vậy, cuộc tranh đua Obama-Clinton (dù chưa đến độ “tỉ đệ tương tàn”) vẫn để lại một dư vị không mấy ngọt ngào trong nội bộ đảng Dân Chủ, nhất là về phe bà Clinton. Tuy rằng bà đã (ngoài mặt) tuyên bố ủng hộ Obama hết mình song khó biết hậu quả của sự chia rẽ này trong cuộc bầu cử năm nay. Liệu những người ủng hộ “đến chết” của bà Clinton có sẽ bỏ phiếu cho Obama?

Thoạt nhìn, hầu như ai cũng nghĩ là năm nay Nhà Trắng sẽ lọt vào tay đảng Dân Chủ. Điểm lại “thành tích” của chính phủ Bush lẫn đảng Cộng Hòa nói chung, hay là xét về hầu hết vấn đề khác, từ kinh tế, ngoại giao, môi trường, đến chiến tranh Iraq, thì đa số dân Mỹ đều thiên về đảng Dân Chủ. Hơn nữa, về cá nhân, McCain đã khá “trọng tuổi” (72). Nếu đắc cử, ông sẽ là người nhiều tuổi nhất khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống trong lịch sử nước Mỹ (Reagan già hơn, nhưng đó là vào nhiệm kỳ thứ hai của ông ta). Song, có lẽ cái gánh “nặng” nhất của McCain chính là “thành tích” của Bush (và đảng Cộng hòa) trong gần 8 năm qua.

Nhưng... nhưng... theo những cuộc thăm dò ý kiến vào đầu tháng 9 thì McCain là ngang ngửa với Obama trong cuộc đua vào Nhà Trắng, thậm chí một số kết quả cho là McCain đang dẫn đầu. Tại sao McCain lại hấp dẫn như vậy với không ít dân Mỹ?

Thứ nhất là, trong mắt của hầu hết người Mỹ, McCain có một quá khứ “anh hùng” (hơn 5 năm là tù binh ở “Hanoi Hilton”). Thứ hai là (cho mãi đến gần đây) ông được tiếng là thẳng thắn, bộc trực, và có tính độc lập (maverick), không theo bầy đàn. Và thứ ba, ông rất “chịu chơi” với giới báo chí. Hầu hết ký giả đều thích ông, nhất là sau cuộc tranh cử năm 2000 mà ông được tiếng là người nói thẳng, nói thật (và nói chẳng ngừng!). Cũng không nên coi thường sự “khôn ngoan” của đảng Cộng Hòa (hoặc, nói khác hơn, “khả năng phán đoán” của không ít người Mỹ), nhất là khi đảng này có những quân sư cực kỳ “quỷ quyệt” như Karl Rove (mà đồ đệ, Steve Schmidt, hiện là cố vấn số một của McCain).

Song, hầu như không ai ngờ là ứng cử viên gây nhiều sóng gió nhất, đem lại nhiều ngạc nhiên nhất cho cuộc bầu cử năm nay lại là bà Sarah Palin (thống đốc bang Alaska), một người mà gần như không ai (ngoài Alaska) biết trước khi McCain chọn bà đứng chung liên danh, trong vai phó tổng thống, chỉ ba hôm trước ngày đại hội toàn quốc của đảng Cộng Hòa khai mạc. Yếu tố quan trọng nhất là bà làm những người cực hữu (nhất là phe truyền giáo “evangelical”, trước đây không mấy “mặn mà” với McCain) vô cùng phấn chấn. Sự có mặt của bà trong liên danh cũng đánh thức sự “bất mãn” của dân Mỹ, tiềm tàng trong thái độ “phản trí thức” (“nghi kị” những người có bằng cấp cao, tốt nghiệp trường giỏi -- như Barack Obama!) của khối dân mà báo chí gần đây “tế nhị” gọi là những người “kém thông tin” (low information): cư dân ở thành phố nhỏ, nông thôn, những người không tốt nghiệp đại học, những “lao động cổ xanh”, những người cao tuổi... nói chung là những người ít theo dõi thời sự. Đáng lo hơn cho phe Obama là, theo vài cuộc thăm dò, bà Palin (có đứa con năm tháng tuổi bị hội chứng Down, và nhiều vấn đề khác trong gia đình, mà đàn bà Mỹ rất có sự “đồng cảm”) đã thu hút đông đảo phụ nữ Mỹ da trắng, khối cử tri mà trước đây Obama được đa số ủng hộ.

Nhược điểm của Obama chẳng những ông là (lai) da đen (theo một cuộc thăm dò thì có đến ít nhất 6% dân Mỹ sẽ không bao giờ bỏ phiếu cho người da màu), chỉ mới nổi lên trong chính trường quốc gia khoảng 5, 6 năm nay (do đó bị coi là thiếu kinh nghiệm), nhưng còn vì thời niên thiếu của ông khá “khác thường” đối với đại đa số người Mỹ (ông theo mẹ sống nhiều năm ở nước ngoài, v.v). Đó là không nói đến những “đòn hiểm” của kẻ thù chính trị của ông (kể cả phe bà Clinton, trong giai đoạn bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ), như tung tin đồn (hoàn toàn thất thiệt) rằng ông là tín đồ kín của đạo Muslim, rằng ông không thật sự “yêu nước Mỹ” v.v . Thế nên, dù được đại đa số dân trí thức, những người “phóng khoáng” nhiệt tình ủng hộ, Barack Obama vẫn rất khó khăn “bắt tay” được với đa số dân cư ở các bang như Pennsylvania, Ohio, West Virginia, Tennessee, Arkansas... là những nơi mà trong vòng bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ ông đã bị bà Clinton đè bẹp. Liệu những người này có sẽ bỏ phiếu vì quyền lợi kinh tế của họ (thì Obama sẽ thắng) hoặc vì những “giá trị văn hóa” (mà liên danh McCain-Palin có thể khai thác) mà Obama yếu hơn? Đó là một câu hỏi khó trả lời vào thời điểm này.

Một biến số nữa là tài tổ chức của Barack Obama, nhất là khả năng huy động các ủng hộ viên “trẻ” của ông đi bỏ phiếu. Còn nhớ, năm 2004, John Kerry cũng đã đặt niềm tin vào những cử tri này, nhưng khi đến ngày bầu cử thì, chứng nào tật nấy, họ cũng không kém ... lười đi bỏ phiếu bao nhiêu, so với quá khứ. Ngược lại, những cử tri “có tuổi”, bảo thủ, “thành phần chủ lực” của đảng Cộng Hòa thì lại là khối dân có tỷ lệ đi bầu cao nhất. Liệu tình trạng này có sẽ tái diễn năm nay?

Điều oái oăm nữa là vì Barack Obama quá hùng biện, đảng Cộng Hòa thường mỉa mai: “Chỉ nói là giỏi!”. Hơn nữa, chính vì ông nói quá hay nên diễn văn nào của ông cũng bị (báo chí) đón chờ như sắp lại được thưởng thức một “kiệt tác”, rồi mỗi lần ông nói “như người thường” thì họ lầm bầm thất vọng! Ngược lại, báo chí Mỹ đánh giá Palin quá thấp (như trước khi bà đọc diễn văn ở đại hội đảng Cộng hòa, ai cũng tiên đoán rằng bà sẽ ấp úng, phơi trần trình độ kém cỏi của bà), rồi khi bà ta vượt hơn cái “sàn” này một tí thôi – ăn nói khá mạch lạc, tự tin, và cũng biết châm chọc, khôi hài – thì cũng các phương tiện truyền thông này đua nhau “xuýt xoa” về khả năng của bà, đưa uy tín của Palin lên cao hơn! Tôi e rằng việc này sẽ xảy ra khi bà “đấu khẩu” với nghị sĩ Biden tháng tới.

Khi tôi sắp viết xong thư này thì đa số các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy Obama đang vượt McCain trở lại (với những con số gần giống như trước khi đại hội của hai đảng). Có hai lý do: (1) Cái “mới” của bà Sarah Palin dần dần phai nhạt, đồng thời sự “trống không” trong kiến thức của bà, cũng như những lời phát biểu rõ ràng là “không thật” của bà, khiến ngày càng nhiều cử tri “tỉnh ngộ”. (2) “Trận sóng thần” tài chính đang ào lên nước Mỹ, và có cơ lan rộng toàn cầu. Trong quá khứ, đảng Dân Chủ bao giờ cũng “mạnh” hơn đảng Cộng Hòa về mặt kinh tế, nhất là, như chính McCain thú nhận, ông “không rành về kinh tế cho lắm”. Xin hẹn bạn thư sau sẽ viết về cuộc “khủng hoảng” này – đúng là một mớ “bòng bong”.

Quý mến,

Trần Hữu Dũng
http://www.viet-studies.info/THDung/THDung_ThuTuMy__Sept08.htm
(ký Tiểu Hằng Ngôn)
Dayton
21/9/2008

19 tháng 9, 2008

Diễn văn của Bill Gates tại đại học Harvard



Bill Gate Blog http://www.microsoft.com/presspass/exec/billg/default.aspx

Trường đại học Harvard là nơi năm 1975 Bill Gates đã bỏ ngang khóa học để theo đuổi ươc mơ Microsoft - một trong nhưng câu chuyện thần kỳ nhất trong thế kỷ 20 và 21. Vào lễ tốt nghiệp năm 2007 của trường đại học này, ông được trường mời quay lại để nhận bằng tiến sĩ và dành cho các sinh viên tốt nghiệp một bài diễn văn. DGMN.ORG lược dịch những đoạn ngắn, thú vị nhất của bài diễn văn.Ông bắt đầu bài diễn văn bằng một giọng hài hước, chia sẻ lại ký ức tuổi trẻ của mình.

...Tôi đã trông đợi hơn 30 năm nay để nói lên được điều này: Ba ơi, con đã luôn nói với Ba là rồi một ngày con sẽ quay lại trường đại học để nhận lấy tấm bằng (cười). Tôi muốn cảm ơn Harvard vì vinh dự này, vì tôi sẽ chuyển sang làm việc khác vào năm sau, và thật là tuyệt vời vì tôi sẽ có thêm bằng đại học trong hồ sơ xin việc của tôi (cười).

Tôi xin tán thưởng những cử nhân ngồi ở đây ngày hôm nay vì con đường của họ đến với tấm bằng đại học trực tiếp hơn nhiều. Về phần tôi cũng rất hào hứng khi ông Crimson đã gọi tôi là "Người Bỏ Học Havard thành công nhất". Tôi đoán là cái đó biến tôi thành người phát ngôn cho nhóm người đặc biệt này..., tôi là kẻ thành công nhất trong những người thất bại nhất.

Những tôi cũng muốn được công nhận là người đã lôi kéo Steve Ballmer bỏ học (lời người dịch: Steve Ballmer hiện thay thế Bill làm giám đốc điều hành của Microsoft và là một trông những doanh nhân Do Thái thành công nhất thế giới).Tôi thực sự là một ảnh hưởng xấu lên người khác. Đấy là lý do tại sao tôi lại được mời tới nói chuyện tại lễ tốt nghiệp vào cuối năm. Chứ nếu tôi mà nói chuyện ở trường này vào khai giảng đầu năm, thì chắc là ít người trong số các bạn sẽ ngồi ở đây ngày hôm nay (cười).

Harvard là một kinh nghiệm gây ảnh hưởng lớn đối với tôi, đời sống học đường đầy kỳ thú, tôi từng ngồi ở rất nhiều lớp học mà tôi không hề đăng ký. Và cuộc sống trong ký túc xá thật tuyệt diệu, tôi sống ở Radcliffe, trong Currier House. Trong phòng kí túc của tôi luôn có rất nhiều người thúc tới tận khuya nói chuyện, thảo luận, vì ai cũng biết là tôi chằng hề quan tâm tới việc buổi sáng cần phải tỉnh dậy. Đấy là con đường đã dẫn tôi trở thành người lãnh đạo của nhóm chống đối những hoạt động xã hội. chúng tôi bám vào nhau như một cách tán thành sự chống đối của lẫn nhau đối với những người tham gia nhiều vào hoạt động xã hội.

Radcliffe là một nơi tuyệt vời để sống. Ở đấy có nhiều các cô gái hơn (cười), và hấu hết mọi người là những người ngâm mình trong lĩnh vực toán-khoa học. Tổng thể của tất cả điều đó đã cho tôi những lợi thế tốt nhất, và nếu bạn hiểu tôi muốn nói gì: đây là nơi tôi đã học bài học buồn rằng tăng thêm những lợi thế của bạn không đảm bảo bạn thành công.

Một trong những hồi ức rõ ràng nhất của tôi khi ở Havard rơi vào tháng 1 năm 1975, khi tôi gọi điện thoại từ Currier House cho một công ty ở Albuquerque, công ty đã sản xuất ra những chiếc máy tính đầu tiên cho các cá nhân sử dụng. Tôi chào bán phần mềm cho những chiếc máy tính của họ. Tôi đã rất lo lắng là họ sẽ nhận ra tôi chỉ là một sinh viên trong ký túc xá và sẽ cụp máy. Thay vào đó, họ nói: " Chúng tôi chưa sẵn sàng, xin hãy quay lại găp lại chúng tôi trong khoảng một tháng". Đấy là một điều thật tuyệt vời vì khi chào bán phần mềm thì chúng tôi đã viết nó đâu (cười). Bắt đầu từ lúc đó, tôi cuống cuồng làm việc cả ngày và đêm vào cái dự án bên ngoài lề nhà trường này, và nó đánh dấu sự kết thúc thời gian học đại học của tôi, và một cuộc phiêu lưu với Microsoft bắt đầu.....

Blog Đại Gia Mầm Non
http://au.blog.360.yahoo.com/blog-EFcWb90jdLVVMTXW7Yu1gNwRwOE-?cq=1&p=2846

16 tháng 9, 2008

Không gian của Nguyễn Ngọc Tư



Nguyên Ngọc

Tôi vừa xuống Cà Mau. Và tất nhiên bây giờ Cà Mau… tức là Nguyễn Ngọc Tư. Thậm chí - tôi xin lỗi hết cả bà con Cà Mau, và xin lỗi cả Tư nữa - quả thật không biết nếu như không có Nguyễn Ngọc Tư thì Cà Mau có còn hoàn toàn là Cà Mau bây giờ không. Tất nhiên vẫn là Cà Mau, nhưng sẽ là một Cà Mau có thể nhỏ hơn một chút, thiếu hơn một chút, thiếu cụ thể điều gì thì cũng thật khó nói, nhưng rõ ràng là sẽ thiếu, thiếu một điều gì đó đang làm cho không gian Cà Mau không rộng và sâu, xa, gần và hiện đại được như bây giờ khi có cô nhà văn ấy.

Tôi gặp Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau lần đầu là cách đây đâu khoảng mươi năm (vừa rồi cô ấy xác nhận lại trí nhớ của tôi, cô bảo cô xin về làm ở hội Văn nghệ Cà Mau đến nay vừa đúng mười năm). Bữa đó ngồi với anh chủ tịch hội (anh ấy bây giờ vẫn là chủ tịch hội), tôi nói linh tinh những chuyện gì đó không thể nào nhớ được nữa. Thỉnh thoảng lại thấy có một “con nhỏ” chạy vô chạy ra rót nước, đôi lúc dừng lại một chút chừng lắng nghe chúng tôi. Và hình như hơi cười. Bây giờ nghĩ lại lo quá, không biết bữa đó mình có bốc đồng nói linh tinh những gì to tát hùng hồn về văn chương không. Bởi vì “con nhỏ rót nước” đó chẳng bao lâu sau sẽ là… Nguyễn Ngọc Tư.

Thật tình khi Tư bắt đầu được dư luận chú ý tôi cũng không nhớ rõ “con nhỏ rót nước” bữa đó lắm, chỉ loáng thoáng hình ảnh một cô gái trẻ rất quê, mặt mày cũng không lấy gì làm sáng sủa, hình như là mặc chiếc áo xanh, suốt buổi chỉ chạy lên chạy xuống châm nước, sau đó chạy đi đâu đấy hơi lâu, chắc là ra ngoài phố đặt tiệc cho anh chủ tịch hội tiếp khách thủ đô về… Những lần gặp Tư sau này, lúc ở Hội An, lúc Sài Gòn hay Hà Nội, cũng chỉ chào qua năm ba câu, ở những cuộc hội họp long trọng ồn ào ấy Tư rất ít nói, ít xuất hiện, thường lủi thủi một góc vắng, ngồi sau một cây cột to chẳng hạn, vẫn rất quê, và không như nhiều người viết trẻ thường thích làm quen đôi khi đến sấn sổ với những ông già đã nổi tiếng. Tôi để ý chưa bao giờ Tư tỏ ra muốn bắt quen với tôi, gặp nhau tôi hỏi câu gì thì cô trả lời câu ấy, rất ngắn, đại khái cũng chỉ những chuyện bâng quơ về sức khoẻ, đang viết gì, có hay ra ngoài này (Hà Nội) không, trong ấy (Cà Mau) bây giờ thế nào, anh A hay chị B có còn ở vị trí nào đó không… Vậy mà, tôi biết, hình như chúng tôi có hiểu nhau, rằng cái sự ồn ào, hào nhoáng kia chẳng có nghĩa lý gì, cả cái hội hè kia nữa, cũng là để mà chơi đấy thôi, văn chương là một cái gì đó rất khác, vừa bình thường vừa bí ẩn, riêng tư và… cô độc, cô đơn hơn rất nhiều… Rồi đến cái vụ Cánh đồng… Tôi đã có lần nói rồi, và lần này xin nói lại, và trước khi nói tất nhiên phải xin lỗi tất cả những người cầm bút: Để mà tính chuyện đi ra thế giới, tức là cái mà người ta gọi là mở rộng không gian văn học, và như thế cũng tức là không gian đất nước, ra với thế giới, với bàn dân thiên hạ, tức là cái sự bây giờ được gọi một cách nghiêm trang và hơi lo sợ là “hội nhập”, mà không phải sợ bất cứ ai hết, thì theo tôi trong văn học hiện đại ta có thể có mấy cái: Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là hai, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là ba, và nay là Cánh đồng bất tận. Tôi nói thế này mà không sợ quá đáng đâu: Với Cánh đồng bất tận, văn chương ta bước vào toàn cầu hoá hôm nay một cách đàng hoàng, cùng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn cầu, chẳng phải nể ai hết. Nó đưa văn chương, và như thế cũng là con người của ta, ra toàn cầu, để cho toàn cầu biết rằng ta cũng là con người chẳng hề thua gì họ.

Chuyện Cánh đồng… bị đánh tơi bời như thế nào, ai cũng biết rồi. Tôi thậm chí còn biết không chỉ ở cấp tỉnh lẻ và trong những người làm công việc gọi là văn hoá tư tưởng, mà cả một số người làm văn chương hẳn hoi nữa kia. Và tôi còn biết, rất cụ thể, một vị chức sắc cao vòi vọi, từng không hề tiếc lời chửi bới nó cực kỳ thậm tệ.

Cũng chẳng có gì lạ. Một số người, kể cả người cầm bút nữa, không hiểu gì văn chương cũng là chuyện thường. Và cũng không ai bắt một vị có chức quyền loại lớn phải hiểu thấu văn học. Có lẽ điều đáng nói, đáng kể hơn nhiều lại là ở ngay một số người… bênh vực Cánh đồng... Họ hăng hái, nhiệt tình, sôi nổi, cả hùng hổ nữa bênh vực Cánh đồng... bằng cách ra sức la to lên rằng ai kia mắng mỏ con nhỏ thì cứ chịu khó xắn quần cởi dép về đây mà coi, “cánh đồng” ở cái xứ này còn tệ gấp trăm lần “cánh đồng” của Tư… Nghĩa là rất buồn, và tôi biết Tư cũng buồn lắm về điều này. Họ yêu Tư, quý Tư, nhưng cũng chỉ đến mức hiểu Tư là một nhà văn rất hiện thực của Cà Mau, của miền Tây, là một cây bút dũng cảm dám nói lên những sự thực tăm tối và đau lòng đang còn tràn lan trên vùng đất đẹp và đáng yêu biết bao này. Họ phẫn nộ vì những kẻ “đánh” một cây bút to gan dám nói lên tất cả sự thật. Tư buồn không phải vì những người đánh cô đến té tát. Cô buồn vì những người yêu cô mà chẳng phải vì những điều cô đau đáu muốn nói về cuộc đời. Nguyễn Ngọc Tư nào có muốn nói về một Cà Mau, một miền đất. Chẳng qua cô gửi vào cái khung cảnh ấy, trên đất đai ấy, mà cô quen cô thuộc hơn bất cứ nơi nào trên thế gian này, một kiếp người, những kiếp người, hạnh phúc nhọc nhằn và đau khổ muôn đời của con người, cái chất thiên thần và quỷ sứ trộn lẫn bất trị, không gì không bao giờ chữa nổi trong con người. Và cô làm ra cái sản phẩm đã đưa văn học ta ra khỏi tình thế cám cảnh tỉnh lẻ của cái thời kéo dài “văn học phục vụ”, “văn học đi thực tế”, “văn học bám sát đời sống thực tế”, văn học “mũi nhọn mũi tà”… Nó đưa văn học trở lại là văn học, thế thôi, chẳng của gì hết. Và vì vậy, nó khiến văn học ta, cả chúng ta nói chung nữa, cũng “toàn cầu hoá” như ai. Nó tạo không gian mới cho chúng ta hít thở kiểu mới cùng thiên hạ…

Tôi xuống Cà Mau và được Nguyễn Ngọc Tư dẫn đi chơi, xuống Mũi (để xem một cái mũi đất Cà Mau đang bị bê tông hoá!), vào rừng U Minh để được lội giữa những rừng tràm tuy đã xơ xác nhiều so với những lần tôi đến trước đây nhưng thiên nhiên vẫn mạnh lắm, con người tàn bạo thế vẫn chưa tàn phá nổi hết rừng, chưa xoá đi hết được cái hoang dã mãi mãi lạ lùng của U Minh… Đi chơi với Tư ở Cà Mau rất thú, rất khác những lần gặp cô trong các cuộc hội họp văn chương. Bây giờ là một Nguyễn Ngọc Tư rất Tư, hình như có gầy hơn đôi chút so với những lần gặp trước, trông lanh lợi và sành sõi hẳn ra, sẵn sàng hiện đại nữa, hơi “ngầu” một chút, đôi lúc cũng ồn ào rồi chợt lắng đi, rất lặng, rất riêng, thậm chí có gì đó như chừng hơi khinh khỉnh... Tôi hiểu, người viết văn nào cũng vậy, cô gái tài năng này càng vậy, tinh ý một chút có thể cảm thấy cô vẫn giữ một khoảng cách với tất cả những gì đang diễn ra quanh mình, cái khoảng cách có lẽ chỉ những người sáng tác mới biết và hiểu được, vừa nhập cuộc đến cùng, vừa vẫn tách ra cô đơn, sự cô đơn không có nó thì không bao giờ thật sự có sáng tạo nghệ thuật. Cô đơn và lúng túng mãi giữa cuộc đời. Ở gần Tư và trong không khí này, hình như “ngửi” ra được cái mùi rất người và rất đời đó, nó làm cho cô ấy quả thật sự là một nhà văn, một nhà văn đã làm cho văn học ta ngang hàng với bất cứ ai, bởi vì, vậy đó, hình như nhà văn là người được sinh ra để mãi mãi nói lên cái lúng túng mãi mãi không sao thoát nổi của kiếp người. Ông già kỳ cục và cô con gái cũng kỳ cục không kém của ông trong Cánh đồng bất tận đấy, chẳng phải là họ quá lúng túng cái lúng túng của kiếp người, rất người đó sao?

… Ngồi trên vỏ lãi chèo vào rừng U Minh, Tư nhẹ nhàng báo tin cho tôi biết chỉ mấy ngày nữa cô sẽ chính thức thôi việc ở hội Văn nghệ tỉnh, mọi thứ đã xong, chỉ còn thủ tục ra đi. Vẫn sống ở Cà Mau nhưng làm một việc gì đó khác ở Sài Gòn. Im lặng một lát rồi cô nói tiếp, có lẽ cô sẽ dừng viết tạp văn một thời gian. Cũng như một cái hũ rượu ấy mà, cô bảo, ngày nào mình cũng giở nắp ra, miết rồi nó bay hơi hết, cho đến khi nhạt thách. Cô muốn chôn sâu nó một thời gian, có lẽ sẽ là dài, để cho nó sánh đặc lại. Ôi cái con nhỏ rót nước cho anh chủ tịch trang trọng tiếp khách ngày nào, hoá ra đấy mới là người biết nén không gian lại cho đến đặc sánh, để cho nó thật sâu và rộng ra, có sâu và rộng như vậy thì rồi ta mới có được cái không gian gọi là “toàn cầu” cùng thiên hạ. Cái không gian mà ta vẫn tưởng chỉ có thể tạo nên được bằng kinh tế, hay chính trị, hay gì gì đó...

Tôi về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư, và tôi yên tâm rằng ta có thể “toàn cầu hoá” cùng thiên hạ, có thể có được không gian ao ước với đầy triển vọng và thách thức ấy, chẳng lo gì. Khi văn học, cũng là văn hoá, đã đi được một bước như vậy...

Những ngày cuối cùng của năm 2007

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị, 1-2-2008

11 tháng 9, 2008

Người hiền của văn chương Nam Bộ

Nguyên Ngọc

Tôi biết anh Trang Thế Hy đã lâu, nhưng thật thân nhau là từ một chuyện như sau: lần ấy, sau một chuyến lang thang dưới đồng bằng miền Tây trở về Thành phố, tôi ghé lại thăm anh, và hồ hởi nói với anh về một cây bút trẻ tôi vừa “phát hiện” được dưới đó. Vốn là người hay bốc, tôi nói với anh theo tôi, cậu ấy là tài năng hiếm đấy, anh ạ, lâu lắm tôi mới gặp lại được một người như vậy, mừng và quý lắm. Anh Tư cười nhẹ, rót cho tôi một chén rượu đầy: “Vậy thì anh tài – anh bảo – tôi cũng chấm đúng cậu ấy. Anh ở xa tới mà nhằm trúng được như thế là rất tinh. Đúng là của hiếm. Viết đường được thì nhiều, nhưng tài thì quả chỉ mới được nó. Rất độc đáo. Rất Nam Bộ. Rất miền Tây. Tưng tửng mà chẳng hề giống ai. Cứ như chẳng có gì mà sắc, mà sâu. Rất có văn. Nhiều người cũng đã xuống dưới đó, nhưng chưa có ai nhận ra. Anh mới xuống, đã nhìn ra được, giỏi!”… Vậy đó, anh bạn viết trẻ tài năng ở tít dưới miền Tây đã khiến cho chúng tôi thật sự đến với nhau, trở thành tri kỷ. Tri kỷ, tôi nghĩ, là biết cùng nhau nhận ra những giá trị thật, những cái đẹp lẩn khuất giữa chợ trời thiên hạ, giữa cuộc đời ồn ào, láo nháo bao nhiêu bong bóng ảo. Tình bạn của chúng tôi là một tình bạn như thế đó. Từ ngày anh về Bến Tre, tôi có ít dịp gặp anh. Bến Tre là một tỉnh nằm hơi trái đường, tôi chỉ mới tìm về cái tỉnh đảo ấy thăm anh được vài lần, ngồi với anh vài tiếng trong căn vườn rất yên tĩnh của anh, uống ruợu nhâm nhi với pho mát không biết anh tìm được ở đâu giữa cái chốn bốn bề sông nước này. Và lại nói chuyện với nhau về “cậu ấy” – mà hoá ra cả hai chúng tôi vẫn âm thầm theo rõi. Và về những tài năng khác, Đông Tây, mà cả hai chúng tôi đều mến phục.

Ngồi nói chuyện với anh Trang Thế Hy rất thích. Anh giản dị, mà uyên bác và thâm trầm. Và những lúc đó tôi thường có một liên hệ bất ngờ, bất ngờ nhưng tôi không sao dứt ra được, và tôi vẫn cố tự giải thích: tôi thường nhớ đến một tác giả ở rất xa, xa cả địa lý lẫn văn hoá: … Nguyễn Tuân. Thậm chí có lúc tôi đã nghĩ: nếu như Nam Bộ có một Nguyễn Tuân, thì cái ông Nguyễn Tuân đó ắt sẽ là Trang Thế Hy! Hai con người đó, hai tài năng đó khác nhau biết chừng nào, thậm chí ở chừng mực nào đó có thể nói thuộc hai cực đối nhau của thẩm mỹ, vậy mà sao dường như vẫn có điều gì đấy rất chung, và cái chung đó không nhỏ chút nào. Tôi thường cố lần cho ra cái chung đó.

Như chúng ta đều biết, Nguyễn Tuân là người suốt đời đi tìm cái đẹp, mải mê đuổi theo cái đẹp, tẩn mẩn, chăm chút, rất kỹ tính, khó tính, nhiều khi đến kỳ cục, và có phần hơi nhấm nháp nữa. Trong muôn vàn ngổn ngang chợ đời, ông soi mói chắt lọc tìm cho ra cái đẹp, từng chút, ngòi bút tài hoa của ông mân mê nó, vờn lấy nó, chộp lấy rồi lại buông ra, buông ra rồi lại chộp lấy, đôi lúc cảm giác cứ như... mèo vờn chuột. Đến cực đoan. Chữ người tử tù, ông tìm cái đẹp ở đó, ừ thì còn được đi. Đến Chém treo ngành, ông cũng không dừng tìm thấy cái đẹp ở đấy. Thực đến mức thẩm mỹ chủ nghĩa, có người đã gán cho ông điều đó tôi nghĩ cũng không hoàn toàn oan đâu… Tôi có một anh bạn làm lý luận văn học, anh ấy bảo: Văn học, nói theo cách nào đó, là một cái thú chơi, các cụ ta xưa chẳng từng coi văn chương là thú chơi thanh nhã là gì! Người ta chơi văn chương, chơi cái đẹp, cho nên soi mói tìm cho ra cái đẹp trong từng ngóc ngách cuộc đời, và chăm chút, mân mê từng từ, tức là cái thứ chỉ có nó mới lột được hết cái đẹp ấy ra cho mình, và cho đời. Văn học nhân văn chính là vì vậy và như vậy đấy… Chính ở chỗ này có cái ly lai sợi tóc, chỉ cần chệch đi, quá đi một chút là rơi sang cái gọi thẩm mỹ chủ nghĩa như chơi!

Có lẽ đọc thật kỹ Trang Thế Hy, sẽ thấy anh gần Nguyễn Tuân chính ở chỗ này. Anh cũng là người chơi cái trò chơi thanh nhã ấy, (nghĩa là tiếp tục cái truyền thống của các bậc tao nhân mặc khách xưa, cho nên, nhìn kỹ mà xem, ở Trang Thế Hy vừa có cái gì đó rất hiện thực, hiện đại, vừa có cái gì đó rất xưa, thậm chí có phần cổ kính nữa). Anh cũng là con người suốt đời chăm chú lần mò đi tìm cái đẹp, trong chốn ngổn ngang nhân sinh. Anh không ồn ào tuyên bố, nhưng suốt đời anh sống vì cái đẹp. Tất nhiên hoàn cảnh của anh khác rất nhiều. Anh là một người viết văn, và là một người viết văn hoạt động bí mật – trong nhiều sáng tác của mình, anh không hề giấu giếm tư cách đó – “nằm vùng” trong thành phố địch chiếm, dựa vào những người tốt trong tầng lớp hạ lưu của xã hội, ở những xóm lao động nghèo, nơi cái nghèo lôi con người ta vào những hoàn cảnh, cả những nghề nghiệp bị khinh bỉ đến tận cùng. Chính trong cái đám bùn nhơ nhầy nhụa tưởng chừng đến tuyệt vọng ấy, anh lần tìm ra cái đẹp, và cái đặc sắc, độc đáo của Trang Thế Hy là cái đẹp anh chắt chiu tìm ra được và vô cùng trân trọng nhặt lên từ bùn nhơ, bỗng sáng lên long lanh, như ngọc, như kim cương. Trang Thế Hy là người đi tìm ngọc, tìm kim cương, không phải giữa chốn phồn hoa đô hội, cũng không phải trong tỷ mẩn trà dư tửu hậu, mà giữa cuộc đời nhọc nhằn, trần tục, ở nơi tận đáy cùng của xã hội. Không gian của anh là không gian nghèo hèn của những xóm lao động ngoại ô, trong ngôi nhà của những người đàn bà chuyên sống bằng nghề “nuôi em út”, nơi giữa đêm giao thừa vẫn nghe được “tiếng thùng khua và tiếng nước đổ vào lu ở tầng dưới nhà bên cạnh”, và nơi ấy có một cô gái “chơi bời”, một cô gái giang hồ biết nói với anh rằng “em biết thân em lắm”, và “em có tiền, nhưng tiền của em thì anh gớm lắm, em biết”, cô gái ấy một hôm đột ngột trở lại vào một ngày cuối năm sau thời gian dài biệt tăm “đi làm ăn”, và bỗng có cái khát khao sang trọng bất ngờ, bỗng thấy “thèm thơ”, bỗng đòi anh làm cho cô một bài thơ, “một cô gái chơi bời thì có nói gì được thành thơ (không anh)? – cô hỏi. Nhưng em không đòi thơ cho em đâu. Cho bất cứ cô gái chơi bời nào cũng được.” Và anh chàng thi sĩ đã lâu lắm không còn làm thơ, không còn chút cảm hứng thơ nào, bỗng “nghe trong lòng một niềm vui mong manh đang thức dậy” và bỗng thấy “thèm làm thơ một cách đáng gọi là làm thơ”… Vậy đó, Trang Thế Hy nói rằng không phải một cô gái trong trắng mà là một cô gái điếm ê chề, hoặc đúng hơn, cái chất ngọc vẫn còn trong veo trong cô gái bán hoa đã nhàu nát lắm ấy, là nguồn cảm hứng thơ chân chính của anh. Tôi nghĩ có thể coi cái truyện ngắn tuyệt diệu này, “Thèm thơ”, là tuyên ngôn nghệ thuật nghiêm túc của Trang Thế Hy.

Rất lạ, - tôi không ngần ngại nói lên điều này đâu, - hình như hình ảnh những cô gái đẹp nhất trong văn của Trang Thế Hy là hình ảnh những cô gái làm nghề ăn sương, lặn lội trong nhầy nhụa bùn nhơ của xã hội. Anh trân trọng nhặt họ lên từ đấy, trân trọng và nhẹ nhàng lau bùn cho họ, và nói với ta rằng: Thấy không, trong những con người này cũng có ngọc đấy, long lanh! Hoặc là những con người đang bị đẩy đến đứng mấp mé trên bờ vực của cái vũng bùn ghê sợ đó, chỉ một chút thiếu gượng lại nữa thôi là rơi tõm ngay xuống, và họ đã quyết cưỡng lại số phận kinh hoàng đó bằng cái chết vô cùng dữ dội, cô gái Hứa Lệ Mai trong truyện “Nguồn cảm mới” của anh, mà cái chết đã khiến bác Tư xích lô áng chừng là “Con “xẩm” con ngang bướng nó gan dạ mà liều lĩnh lắm… nó mượn ngọn lửa để kết liễu cuộc đời bệnh hoạn của cha nó rồi nó tự thiêu luôn”. “Áng chừng” ư? Nhưng nghĩ kỹ lại mà xem, còn có lối thoát nào khác nữa cho cô Hứa Lệ Mai trinh trắng như một nụ hoa mong manh mà mãnh liệt ấy nữa đâu! Cô “xẩm” ấy, dưới ngòi bút của Trang Thế Hy, hiện lên sáng toả như một liệt nữ. Trang Thế Hy viết về những liệt nữ ở chốn bùn đen…

Có lẽ đến đây thì đã có thể nhận rõ ra điều này rồi: Trang Thế Hy là người chăm chút đi tìm những cái đẹp nhỏ nhoi, lẩn khuất, bị bỏ quên, hoặc ở trong những góc hẻo của cuộc đời, hoặc bị vùi trong bùn đất của nghèo khốn. Và tôi muốn nói điều này: thấy được và ngợi ca những vẻ đẹp hùng tráng, tất nhiên cũng cần lắm, nhưng dễ hơn nhiều. Tìm ra được cái đẹp nhỏ nhoi, không tên kia mới khó, cần rất nhạy, rất tinh, và có lẽ còn quan trọng hơn nữa, cần một tấm lòng nhân ái sâu xa lắm, một chất nhân văn không ồn ào, cường điệu, mà đậm đà lắm.

Và bây giờ, thử trở lại với so sánh ban đầu: Trang Thế Hy và Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp ở chỗ cầu kỳ, ở “Ấm trà trong sương sớm”, ở “Chữ người tử tù”… Trang Thế Hy, cũng tinh vi không kém, nhưng anh đi tìm cái đẹp trong sự giản dị của cuộc đời thường, trong “Áo lụa giồng”, trong “Mỹ Tho - Mỹ Thơ”…, ở những con người “thường”, ở “Anh Thơm râu rồng”, và ở tận đáy nữa của cuộc đời ấy… Ở hai hướng khác nhau, nhưng đều vì cái đẹp, và như vậy, họ khiến cho thế giới phong phú ra rất nhiều.

Còn một điều này khiến họ gần gũi với nhau nữa: cả hai đều là những người cầm bút vừa có Nho học vừa có Tây học uyên thâm. Gần mà cũng lại khác nhau: ở Trang Thế Hy phảng phất sự trong sáng, đôi khi hóm hỉnh nhẹ nhàng nữa, của Alphonse Daudet, Anatole France. Nguyễn Tuân thì hay cái hay rắc rối của Baudelaire hay Edgar Poe… Chỉ cần hơi tinh một chút để nhận ra chất trí thức Tây học ở Trang Thế Hy. Và có điều rất thú vị: chính sự thâm thuý văn hoá phương Tây đó khiến cho những người cầm bút thấm nhuần được nó lại tha thiết, mặn nồng quay về nâng niu những giá trị dân tộc và địa phương. Dường như chính vì họ có hiểu biết sâu rộng về văn hoá nhân loại, nên họ càng nhìn rõ hơn giá trị của văn hoá bản địa, và muốn nâng nó lên thành một phần nữa của những giá trị ấy, mà nó không hề thua kém chút nào. Ta đã biết Nguyễn Tuân độc đáo trong ngôn ngữ Việt của ông như thế nào. Ông “chơi” rất tinh, đến cầu kỳ nhiều khi, trên từng con chữ. Trang Thế Hy kỹ chẳng kém, tài hoa chẳng kém, cũng chơi trên từng con chữ, nhưng ông rất Nam Bộ, rất miền Tây, nơi có những rừng dừa bạt ngàn, “cao trật ót”, có nghề hái dừa “hụt sào” hiểm nguy, nơi những đứa trẻ con “èo uột như một trái cà đèo” đi bú nhờ người ta thì gọi là “đi bú khính”, còn những đứa bụ bẫm thì được gọi là “tốt đứa”… Và hai vị trí thức Tây học ấy cũng lại rất đậm cái khí cốt nhà Nho, đương nhiên cũng mỗi người một cách. Nguyễn Tuân là kiểu nhà Nho tài hoa mà bạt mạng Nguyễn Công Trứ. Trang Thế Hy thì nghiêm cách cái chất Nguyễn Đình Chiểu, cả cái khí tiết ấy, nhưng thoáng hơn nhiều, không chỉ dùng xà phòng Tây, mà còn biết nhâm nhi cả phó mát Tây, tinh tế trong cái ăn, cái uống chắc chắn chẳng hề thua gì ông Nguyễn Tuân, người hơi ồn ào trong sự thưởng thức cuộc sống của mình. Trang Thế Hy tinh mà kín hơn. Cả trong chữ nghĩa nữa cũng vậy, mới đọc anh thường có cảm giác anh viết rất dễ, thực ra tôi cho đó là một cảm giác đánh lừa, để viết được như vậy, anh kỹ lắm trên từng chữ, cũng nhâm nhi từng chữ chẳng thua gì ông Nguyễn Tuân kia đâu, sở dĩ anh “đánh lừa” được chúng ta, để cho ta tưởng anh làm văn thật dễ, vì anh rất tài, viết rất chăm chút, kỹ tính lắm, tự khó tính với mình lắm đấy, mà vẫn để cho người ta tưởng là nhẹ nhàng như không! Một ông Nguyễn Tuân rất Nam Bộ, phóng khoáng cái phóng khoáng của những cánh đồng cò bay thẳng cánh miền Tây…

Làm được như vậy, chính là vì đằng sau người cầm bút đó có một cái nền rất rộng, rất sâu, rất vững chắc. Đọc Trang Thế Hy, chính vì vậy, mà thú thật, tôi vừa vui vừa cảm thấy một chút… lo và buồn: những người cầm bút có được sau lưng mình một cái nền như vậy ngày nay có còn không? Có một cái nền rộng, lớn, sâu như vậy, để mà suốt đời viết rất ít, khiêm nhường, cái khiêm nhường của người biết rất nhiều, chỉ người biết rất nhiều mới có được. Một cái nền rất sâu, rất rộng, để mà viết về những cái rất nhỏ, rất âm thầm, rất địa phương, rất bản địa. Có lẽ chỉ có như vậy thì mỗi nhà văn mới làm được cái việc mà người ta gọi là “đóng góp” vào gia tài chung của văn hoá, văn học dân tộc, và thế giới. Ngày nay hình như người ta viết mạnh mẽ hơn, bạo dạn hơn, xông xáo, ồn ào hơn, liều lĩnh hơn…, đều rất quý. Nhưng một cái nền cho tất cả những cái đó, mong sao cũng có được như thế hệ Trang Thế Hy từng có. Và để có được cái nền đó, vậy mà là cả một công cuộc lớn, và có thể cả lâu dài lắm, tôi nghĩ vậy.

Trang Thế Hy, do vậy không chỉ để lại cho chúng ta một sự nghiệp sáng tác rất quý, anh còn để lại một bài học lớn. Tôi muốn được gọi anh là một “người hiền” của văn chương Nam Bộ.

Tháng 7-2006

(Báo Tuổi Trẻ)

Cần nhìn lại văn hoá Việt Nam một cách sòng phẳng



Phỏng vấn Nguyên Ngọc
Minh Thi thực hiện

Khi văn hoá xuống cấp, đó là trách nhiệm của cả dân tộc, tất nhiên không thể không có vai trò của nhà văn? Sau đây là cách nhìn của nhà văn Nguyên Ngọc về khía cạnh này.

Vì sao ông nhấn mạnh thị hiếu con người xuống cấp chính là mảnh đất gieo cái ác, cái xấu?

Văn hoá không phải là vấn đề đúng - sai, mà là hay - dở. Mình hay canh gác "đúng - sai", mà coi thường cái dở, để cái dở tràn lan, điều đó rất nguy hiểm. Bởi chính cái dở mài mòn thị hiếu con người, làm con người thấy sự dung tục là bình thường. Đó chính là môi trường cho cái ác, cái xấu phát triển.

Theo ông, vấn đề của văn hoá Việt Nam hôm nay là gì?

Vấn đề rất lớn của văn hoá Việt Nam là chưa lúc nào có sự bàn bạc, nhìn lại cho nghiêm túc, toàn diện những vấn đề văn hoá. Ở ta có rất nhiều kiêng kỵ, nên nhiều vấn đề văn hoá chưa được nhìn đến nơi đến chốn. Phải nhìn lại một cách sòng phẳng, minh bạch lịch sử Việt Nam, lịch sử văn hoá Việt Nam ít nhất vài thế kỷ qua. Nói chung theo tôi, cần một sự tự vấn của dân tộc. Thực ra, nền văn học của một dân tộc phải góp phần to lớn để làm việc đó. Bởi nếu không, xã hội sinh ra nhà văn để làm gì?

Dĩ nhiên, do điều kiện địa lý, dân tộc ta có nhiều ưu điểm, nhưng nhược điểm cũng không ít. Việt Nam đứng giữa hai nền văn hoá khổng lồ là Ấn Độ và Trung Hoa, nên người Việt có khả năng tiếp nhận giỏi, ứng dụng ngay, có hiệu quả. Chính sự tiếp nhận dễ dàng này cũng mang nét thực dụng và cũng không sâu. Một dân tộc không có triết học thì không triệt để. Người Việt làm gì phần lớn đều dở dang.

Những doanh nhân Việt Nam khi đã giàu thường dừng lại rất sớm, không có chí lớn trở thành những tỉ phú của hành tinh. Tương tự, lâu nay mình diễn đạt lịch sử bằng mục đích thực dụng, vẫn còn nhiều kiêng kỵ. Chẳng hạn, 3 thế kỷ Nam tiến vẫn chưa được nói rõ. Phần đất phương Nam trong lịch sử Việt Nam rất quan trọng, vì chiếm hết cả một nửa lịch sử và chiều dài đất nước. Lâu nay, người ta phân tích văn hoá Việt là văn hoá phía bắc, chứ chưa nói nhiều về phía nam...

Thưa ông, chính ông đã đề ra việc cần thiết khai hoá, khai trí trở lại cho dân ta. Điều đó bắt đầu từ đâu?

Ngay từ đầu thế kỷ 20, con đường cứu nước của cụ Phan Chu Trinh là không dùng bạo lực. Cụ chủ trương khai trí cho dân bằng cách mở nhiều trường học với cách đào tạo khá tân tiến theo kiểu Châu Âu ở miền Trung. Muốn nước mạnh, vững, thì trước tiên dân chúng phải sáng láng. Lẽ ra sau 1975, chúng ta cần bình tĩnh trở lại. Lịch sử bị cắt suốt 100 năm giành độc lập, ta phải nối lại đoạn bỏ dở đầu thế kỷ 20 là khai hoá dân tộc, mở mang dân trí.

Chúng tôi nghĩ, trước một thực trạng văn hoá đang xuống cấp về mọi mặt, điều quan trọng là phải bắt đầu từ một nền giáo dục toàn diện. Để thực hiện điều này, nhóm giáo sư Hoàng Tụy đã trình lên Thủ tướng dự án mở trường đại học hoa tiêu đầu tiên của Việt Nam ở Hội An. Cái hổng nhất của giáo dục nước ta là ở triết lý giáo dục. Giáo dục tiên tiến dạy cho con người ta khả năng đầu tiên là khả năng phản đối trước khi đồng ý, với nguyên lý cơ bản là tạo ra con người độc lập, tự do cho xã hội.

Xin cảm ơn ông

Minh Thi thực hiện
Nguồn: Báo Lao Động

8 tháng 9, 2008

Có phải người Việt thường không triệt để?



Nguyên Ngọc

Cũng rất cần suy nghĩ về cách tiếp nhận các ảnh hưởng bên ngoài của người Việt, có lẽ càng đặc biệt quan trọng trong thời hội nhập hiện nay. Người Việt tiếp nhận văn hóa Phật giáo rất sớm, thậm chí còn sớm hơn cả Trung Hoa. Phật giáo từ Chămpa và qua đường biển đã vào đất Việt ngay từ trước Công nguyên. Luy Lâu (Kinh Bắc) là trung tâm Phật giáo lớn và rất sớm của Việt Nam, từng là một trong những nguồn truyền Phật giáo sang Trung Quốc.

Suốt một nghìn năm Bắc thuộc, hệ tư tưởng để tập hợp dân tộc, chống đồng hóa quyết liệt và tàn bạo của phương Bắc là hệ tư tưởng bản địa của người Việt được tăng cường bằng văn hóa Phật giáo … Đến thế kỷ thứ 10, sau khi khôi phục được nền độc lập, thì người Việt lại có một lựa chọn độc đáo: Chủ động tiếp nhận Nho giáo, chủ động rời bỏ gốc Đông Nam Á của mình, chuyển sang văn hóa Đông Á.

Lý do nằm ở chỗ, tổ chức nhà nước đông Nam Á là tổ chức theo kiểu “liên hiệp” các tiểu quốc, một hình thức tổ chức nhà nước mềm mại, “dân chủ”, nhưng lại rất lỏng lẻo, không thể nào đủ sức chống ngoại xâm phía Bắc từ nay đã trở nên thường trực.
Người Việt tiếp nhận Nho giáo chính là để học lấy cách tổ chức nhà nước trung ương tập quyền mạnh theo kiểu Trung Hoa, để chống lại chính ngoại xâm thời Trung Hoa phong kiến.Như vậy, có thể thấy cả hai lần người Việt tiếp nhận ảnh hưởng của hai nền văn hóa rất lớn ở quanh mình đều là để nhằm mục đích chống ngoại xâm.

Phật giáo, như chúng ta biết, là một hệ thống triết học hết sức uyên thâm, nhưng người Việt hầu như chưa bao giờ tiếp nhận đến nơi đến chốn, triệt để chất triết học sâu xa của Phật giáo. Ở cấp triều đình thì đưa Phật giáo vào tổ chức hệ thống nhà nước, vận những điển huấn của Phật làm thành một kiểu luật pháp cai trị đất nước, còn bên dưới thì Phật giáo lại hòa nhập với những đức tính nhân ái của người bình dân để trở thành một thứ đạo đức dân gian giản dị, hiền hòa.

Có lẽ chỉ đời Trần đã có cố gắng tương đối rõ rệt xây dựng một hệ tư tưởng riêng của Việt Nam trên cơ sở vận dụng triết học Phật giáo. Nhưng nhìn chung cũng chưa được bao nhiêu và cũng là dở dang. Vua Trần Nhân Tông từng nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, viết Khóa Hư Lục, nhưng chỉ được mấy năm thì đã lại xuống núi đánh giặc, rồi vào tận Trà Bàn, kinh đô Chiêm Thành tính chuyện gả Huyền Trân đổi đất để mưu sự Nam tiến…

Tiếp nhận văn hóa Pháp, đầu thế kỷ XX chúng ta đã xây dựng được một nền văn học hiện đại rất đáng quý. Song mặt khác nhìn kỹ mà xem, văn học Pháp có cái gì thì ta cũng có cái ấy, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa lãng mạn, đađa, siêu thực … đủ cả, nhưng đều là mỗi thứ một ít, nhỏ nhoi, và cũng dở dang…

Sự tiếp nhận văn hóa của người Việt rõ ràng mang khá đậm chất thực dụng. Học của người khác rất nhanh, rất thông minh, nhưng là học để vận dụng ngay cho những mục đích thiết thực, trước mắt của mình, do đó chẳng mấy khi đi đến được triệt để.Học để dùng ngay. Thậm chí dùng xong rồi thì nhiều khi sẵn sàng vứt đi luôn! (thôi chữ Hán khi Pháp vào, thôi tiếng Pháp khi đuổi được đô hộ Pháp đi, ít dùng chữ Nga khi không còn quan hệ khăng khít với Nga nữa…).

Người Việt cũng không có một hệ thống triết học cho riêng mình. Đó chắc chắn là những nhược điểm rất lớn của dân tộc, không thể không nói thẳng và suy nghĩ kỹ, nếu chúng ta thật sự muốn nói đến một sự phục hưng dân tộc.

Tôi luôn mong có được một sự nghiên cứu so sánh thật nghiêm túc, sâu sắc giữa ba nước Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, về lịch sử, văn hóa, xã hội …, con đường đi, những chọn lựa lịch sử lớn và số phận của từng dân tộc. Sẽ rất có ích.

Nhà triết học Francois Jullien có lần nói với tôi, Nhật không chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, bởi trước đó Nhật đã có Thần đạo rất mạnh. Và trong lịch sử văn hóa Nhật từng có một quá trình phi Hán hóa mạnh mẽ. Tiếp nhận, nghiên cứu và chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của Nho giáo là Hàn Quốc.

Còn ta thì sao? Hình như lâu nay đối với một vấn đề văn hóa quan trọng như thế này ta cũng chỉ mới có những tiếp cận qua loa, chưa bao giờ tập trung làm cho đến nơi đến chốn.

Muốn có một nền văn hóa tiên tiến, phải học thật triệt để
Tôi thường suy nghĩ về Nhật Bản và rất mong có được một nghiên cứu sâu về Nhật, đặc biệt về giai đoạn Nhật Bản duy tân, tiếp xúc với phương Tây. Trong cuộc tiếp xúc ấy, ta đã thất bại nặng nề, mất nước, còn Nhật thì không, ngược lại cường thịnh lên, đến mức trở thành cường quốc thế giới. Vì sao?

Lúc bấy giờ Nhật đã ra sức học phương Tây, học đến cùng, quyết liệt, triệt để. Rốt cuộc Nhật vừa là nước hiện đại hóa thành công nhất vừa giữ được bản sắc văn hóa Á Đông đặc sắc, độc đáo nhất...

Ta đã bao giờ suy nghĩ so sánh cách học, kết quả học của Nhật với của ta, để thật sự nghiêm túc rút ra bài học chưa, càng đặc biệt cho hôm nay khi ta đã quyết đi ra biển lớn của hội nhập.

Nền tảng văn hóa chung của xã hội còn thấp
Suy nghĩ về nền văn học nước nhà, có lần tôi đã từng có chút ít bi quan, nhưng rồi nhìn lại kỹ thì thấy trong văn học của chúng ta vẫn thường xuất hiện nhiều người có tài, lắm khi khá bất ngờ.

Nhưng chính trường hợp Nguyễn Ngọc Tư lại khiến ta không khỏi lo. Tài năng ấy sẽ phát triển như thế nào đây trên cơ sở một nền tảng văn hóa và giáo dục không chỉ thấp mà còn quá nhiều vấn đề bất cập như ta đang có?

Hình như trong văn học ta có đặc điểm này: Các tài năng thường xuất hiện rất sớm, kiểu “thần đồng”, như Nguyên Hồng 16 tuổi đã viết Bỉ vỏ , Chế Lan Viên 17 tuổi viết điêu tàn, v.v..

Nhưng rồi không ai đi được thật xa, đến tầm cỡ thế giới. Hẳn là vì cái nền của chúng ta quá thấp. Cái nền đứng của ta chỉ có 1m thôi, anh có tài nhảy được 5m, cuối cùng cũng chỉ với tới 6m. Còn nhà văn ở nơi khác, tài người ta nhảy được 3m thôi, nhưng cái nền của họ đã là 5m, nên họ nhảy một phát đã đến ngay 8m.

Gần đây trường hợp Jonathan Littell có lẽ là một ví dụ sinh động. Anh ta 38 tuổi, quốc tịch Mỹ, nay sống ở Tây Ban Nha, nhưng viết bằng tiếng Pháp, và ngay tác phẩm đầu tiên viết bằng tiếng Pháp, tiểu thuyết Các bà từ tâm (Les Bienvieillantes), dày gần nghìn trang, đã đoạt một lúc cả giải thưởng lớn của Viện Hàn lâm Pháp và giải Goncourt uy tín nhất ở Pháp.

Có người đã so sánh Les Bienveillantes với Chiến tranh và Hòa bình, và nhắc đến Lev Tolstoi, Cholokhov … Trên một nền tảng văn hóa như ta đang có, làm sao có thể nghĩ được đến một Les Bienveillantes?

Người theo dõi