Lưu trữ Blog

23 tháng 3, 2009

Lãnh đạo giáo dục có dám thử mô hình Đại học “tự trị”?


Nguyên Ngọc

HOCMOINGAY. Bây giờ, ở ta muốn làm đại học chất lượng cao thì nên thử nghiệm cho một số trường “tự trị” hoàn toàn. Có thể trong số 10 trường thử nghiệm thì có tới 6, 7 trường không ra gì, nhưng sẽ có một số trường làm tốt. Không nên cầu toàn phi thực tế vì lý tưởng của đại học là tạo ra con người “tự trị”, mà bản thân nó không “tự trị” được thì không thể nói tiếp điều gì (Ảnh: books.google.com). Tôi có một kinh nghiệm là khi nào nghĩ về đất nước, dân tộc thì cũng nghĩ đến lớp trẻ. Mấy năm trước, tôi thường bi quan, sợ lớp trẻ hư hỏng, song gần đây, tiếp xúc với các em, tôi thấy một thực tế là chúng cứ ra khỏi trường thì vứt hết những thứ bị nhồi nhét, mà bắt tay ngay vào cuộc sống. Tín hiệu đó khiến tôi lạc quan hơn. Tiếc rằng, ở một góc độ nào đó, giáo dục hiện nay tập cho trẻ con nói dối, trong số đó tạo ra không nhỏ những người cơ hội. Nếu biết cách giáo dục, nhà trường chúng ta sẽ tạo ra cho các em “biến thành chính nó”. Đó là ý kiến của Nhà văn Nguyên Ngọc trên TUANVIETNAM.

Nhìn từ kinh nghiệm thế giới

Lãnh đạo GD của ta, thường xuất thân từ các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, không mấy người xuất thân từ ngành khoa học xã hội. Không thể nói đó là cái dở, nhưng xét ở góc độ nào đó, đây là một trong những “thiên lệch”.

Nước Nga Xô-viết trước đây, hay nước Pháp, một số nhà lãnh đạo GD xuất thân từ các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật- công nghệ nhưng cũng đồng thời là những nhà văn hóa nổi tiếng. Ở nhiều nước khác, Bộ trưởng GD và ĐT ít khi chỉ đơn thuần là một nhà khoa học thuần túy.

Bản dự thảo Chiến lược phát triển GD 2009- 2020 mới công bố gần đây, nói như GS Hoàng Tụy, cho thấy một bước thụt lùi, thiếu tư duy cơ bản, không thay đổi được triết lý GD: Cái dở lớn nhất của GD ở ta nhiều năm nay là đào tạo những con người quen nghĩ bằng “cái đầu” của người khác, không được nói “ngược” với điều đã được coi là chân lý, con người chỉ mang tư tưởng tuân thủ, thiếu tư duy sáng tạo.

Vừa rồi, Bộ trưởng GD và ĐT Nguyễn Thiện Nhân có đi Phần Lan để tham khảo kinh nghiệm GD của họ. Không hiểu Bộ trưởng đã lĩnh hội như thế nào, còn theo tôi, Phần Lan có quan điểm về GD như ta quan niệm về thiền.

Tổng tư lệnh của giáo dục hiện nay phải là người nhận ra và dám nói với cấp trên: Lâu nay, ta quen đào tạo người chỉ biết tuân thủ, phương pháp GD nhồi nhét, một chiều, nay ta cần người biết tư duy độc lập, phải thay đổi hoàn toàn phương pháp, phải cho trường học và người học “tự trị".

Phần Lan quan niệm về GD cũng tương tự một triết lý: Con người đầy tiềm năng, GD là khơi gợi tiềm năng ấy. Do vậy họ để cho người học được tự do tối đa, thậm chí có một số quy định rất lạ: Cấm mặc đồng phục, cấm cho bài tập về nhà, để trẻ con chơi tối đa…

Còn GD hiện nay của mình, chủ yếu là chương trình khép kín, cách dạy truyền thụ một chiều, giáo viên chỉ dạy cho người học những cái mình có, không có khả năng dạy cái người học cần. Đây là điều bức thiết nhất, tất yếu phải cải cách.

Giống như trong quân đội, không ai đòi hỏi một vị tướng phải bò hàng rào dây thép gai, mà cần một người biết thiết kế ra chiến lược, chiến thuật cho trận đánh. Tổng tư lệnh của giáo dục cũng phải là người nhận ra và dám nói với cấp trên.

Lâu nay, ta quen đào tạo người chỉ biết tuân thủ, phương pháp GD nhồi nhét, một chiều, nay ta cần người biết tư duy độc lập, phải thay đổi hoàn toàn phương pháp, phải cho trường học và người học “tự trị”.

Từ hướng đó mới tổ chức lại bộ máy cho phù hợp xu thế GD thế giới.

Hiệu trưởng không nên làm sự vụ

Hiệu trưởng các trường ĐH hiện nay cũng phải có tư duy về con đường phát triển của ĐH, và mục tiêu của trường ĐH là gì.

Hai năm trước, diễn văn nhậm chức của bà Hiệu trưởng ĐH Harvard được xem một chuẩn mực thế hiện tầm tư duy chiến lược cho ĐH.

"Bản chất của một trường ĐH là trách nhiệm độc nhất vô nhị của nó với quá khứ và tương lai, chứ không chỉ đơn giản với hiện tại. Một trường ĐH hoạt động không vì những kết quả của quý sắp tới, cũng không vì việc sinh viên tốt nghiệp sẽ trở thành người nào. Nó hoạt động vì những kiến thức sẽ định hình một đời người, những kiến thức truyền tải di sản của nhiều thiên niên kỷ, những kiến thức quyết định tương lai".

Ở ta hiện nay, phần lớn hiệu trưởng các trường ĐH có thể tổ chức các sự vụ theo chủ trương rất giỏi, nhưng hiếm thấy người có tư duy đột phá và dám làm, tư duy “định hình một đời người” như thế nào.

Chẳng hạn, trong cơ cấu chương trình, có phần chương trình cứng của Bộ GD và ĐT quy định thì phải theo, nhưng các trường phải “tinh giản” hóa được bằng cách thuê giảng viên từ các học viện chuyên ngành. Ngoài ra, mở rộng các chương trình ngoại khóa: Âm nhạc, hội họa.. để tạo đời sống văn hóa cho các sinh viên, tạo không khí hướng nghiệp cho sinh viên bằng cách "chơi" với các doanh nghiệp...

Có nhiều cách, ăn thua là người có đầu óc làm cho các em biết chấp nhận cuộc sống, mà không bị “tha hóa”, tạo sự đồng thuận, đồng cảm với các thầy cô.

Do đó, chính đội ngũ các Hiệu trưởng phải là những người làm nên sự thay đổi. Nếu họ cùng tác động để thay đổi sự trì trệ của ngành GD, thì sẽ có chuyển biến.

Chỉ lấy một ví dụ đơn giản: Thực tế, nhiều sinh viên tốt nghiệp ĐH không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Nhưng chỉ cần qua một khóa đào tạo ngắn chừng sáu tháng do chính các doanh nghiệp đó thực hiện, các em lĩnh hội rất nhanh, thích ứng và biết cách xử lý một số vấn đề thực tiễn, biết làm việc.

Ví dụ trên cho thấy, lớp trẻ rất nhiều tiềm năng, nhưng hình như GD của ta đã không biết cách khơi dòng cho tiềm năng phát lộ.

Chính vì thế, người quản lý GD, trước tiên phải tháo bỏ được sự kìm hãm và tạo ra cơ hội. Vì thế bản thân các Hiệu trưởng cần có tư duy cơ bản, tư duy chiến lược ở cơ sở nơi họ quản lý chứ không phải đi làm sự vụ.


Không có “tự trị” thì không bao giờ có đại học

TP. HCM đã thí điểm thi tuyển lãnh đạo cấp trưởng phòng giáo dục. Tôi cũng không hy vọng nhiều vào sự đổi mới này, nhưng nên làm thử.

Ở Mỹ, các sinh viên được phát biểu ý kiến về các thầy, cô. Năm học sau phải có bao nhiêu sinh viên xin học thì thầy, cô đó mới được mời giảng. Trong số hơn ba nghìn trường ở đây, không ít trường trong diện "nhếch nhác", chỉ có vài trăm trường vào loại tốt và được vài chục trường thuộc diện tốt nhất thế giới. Chỉ chứng đó, bức tranh ĐH đã sáng sủa rồi.

Bây giờ, ở ta muốn làm ĐH chất lượng cao thì nên thử nghiệm cho một số trường “tự trị” hoàn toàn. Có thể trong số 10 trường thử nghiệm thì có tới 6, 7 trường không ra gì, nhưng sẽ có một số trường làm tốt. Không nên cầu toàn phi thực tế vì Lý tưởng của ĐH là tạo ra con người “tự trị”, mà bản thân nó không “tự trị” được thì không thể nói tiếp điều gì.

Tôi có một kinh nghiệm là khi nào nghĩ về đất nước, dân tộc thì cũng nghĩ đến lớp trẻ.

Mấy năm trước, tôi thường bi quan, sợ lớp trẻ hư hỏng, song gần đây, tiếp xúc với các em, tôi thấy một thực tế là chúng cứ ra khỏi trường thì vứt hết những thứ bị nhồi nhét, mà bắt tay ngay vào cuộc sống. Tín hiệu đó khiến tôi lạc quan hơn.

Tiếc rằng, ở một góc độ nào đó, GD hiện nay tập cho trẻ con nói dối, trong số đó tạo ra không nhỏ những người cơ hội.

Nếu biết cách GD, nhà trường chúng ta sẽ tạo ra cho các em “biến thành chính nó”.

Linh Thủy (ghi)

9 tháng 3, 2009

Tháng ba với những bài thơ hay



HOCMOINGAY. Bất ngờ ta lại có thêm bài thơ hay của Kim Liên trong ngày 8.3. Trước đó đã có chùm thơ "Tháng Ba" của cô Lâm Cúc, anh Phan Chí Thắng, cô Kim Oanh thật hay và lời bình của anh Trọng Toàn, anh Quang Vinh, cô Thanh Chung thật sâu sắc. Đọc bài thơ "Tháng Ba của em" của Kim Liên với các địa danh Ngân Hà, Vàm Cỏ Đông, tôi chợt dưng nhớ về bài thơ của anh Phan Chí Thắng: "Không có rượu sao mà say đến thế. Giải Ngân Hà mờ tỏ bóng thời gian. Ta đã được một lần say lặng lẽ. Giữa cuộc đời tỉnh táo đến khôn ngoan." Trân trọng giới thiệu bài thơ của Kim Liên:

THÁNG BA CỦA EM

Nguyễn Thị Kim Liên

Tháng Ba của em là tấm gương soi
Ánh mắt mình lóng lánh
Tháng Ba bất ngờ trở lạnh
Em Nàng Bân trong ký ức của anh.

Trời bất chợt xám, bất chợt trong xanh
Em bất thần thấy mình đang đắm đuối.
Tháng Ba ơi, xin đừng lìa xa vội
Đã có gì đâu! Đã nói gì đâu!

Sao mỗi lần không được bên nhau
Sông Ngân Hà xa xôi, Vàm Cỏ Đông gần lắm
Con chim sáo sang sông, xổ lồng sáo tắm
Sông tháng Ba hồng thắm một lời mời.

Những Tháng Ba đã để lại trong đời,
Mùa hoan lạc, hoa đậu thành trái cấm
Em đợi anh, trao một lần áo ấm
Em Nàng Bân trong ký ức anh.

5 tháng 3, 2009

Nhà ở cho người thu nhập thấp : Bài học từ Singapore


PGS.TS Sim Loo Lee

HOCMOINGAY. Từ một nước đại đa số người dân sống trong các khu ổ chuột, khu định cư lụp xụp, nhếch nhác, đến nay 91% người dân Singapore sở hữu nhà, trong đó có tới 83% người dân được sở hữu nhà ở giá thấp. Singapore và Hongkong là hai đất nước nổi tiếng ở châu Á về việc phát triển và giải quyết tốt vấn đề nhà ở xã hội cho người dân. Để có được kết quả này, từ những năm 1960, Singapore đã thiết lập những định chế rất quan trọng trong việc quy hoạch và phát triển nhà ở giá thấp. PGS.TS SIM Loo Lee, Trưởng khoa Bất Động Sản, Đại học Quốc gia Singapore cho biết:

" Tại Singapore, từ năm 1960, chúng tôi đã thành lập Cơ quan Phát triển nhà ở chuyên phụ trách về quy hoạch quỹ đất, xây dựng và trợ cấp cho vay đối với người mua nhà giá thấp. Chúng tôi cũng đã thành lập Quỹ tiết kiệm Trung ương, quỹ này phụ trách chỉ đạo các tổ chức tuyển dụng lao động đóng 13% và người lao động đóng góp lương hàng tháng 20% vào quỹ như một khoản tiết kiệm theo lãi suất ngân hàng để sử dụng mua nhà".

Trong khi đó tại Việt Nam hiện nay, một trong những bất cập làm cho các doanh nghiệp bất động sản ít mặn mà trong việc đầu tư xây dựng nhà xã hội cho người có thu nhập thấp là tỷ suất lợi nhuận thấp, thủ tục cấp phép thiết kế xây dựng, đóng tiền sử dụng đất… rờm rà, mất nhiều thời gian, làm ảnh hưởng chi phí đầu vào.

Trong khi đó, tại Singapore, các tổ chức tư nhân tham gia vào xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp thường xuyên nhận được sự hỗ trợ của nhà nước và các thủ tục hành chính rõ ràng và được thực hiện nhanh chóng. Để đẩy mạnh các dự án xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp, vấn đề quỹ đất cũng đang là khó khăn với các doanh nghiệp bất động sản.

Theo bà Đỗ Thị Loan, Tổng thư ký Hiệp hội bất động sản Thành phố HCM : "Góp phần cho sự phát triển nhà ở giá phải chăng, Chính phủ phải có kế hoạch sử dụng đất công đang bị sử dụng lãng phí bằng cách thu hồi lại để cung cấp cho cơ quan phát triển nhà ở có nguồn quỹ đất này, đồng thời miễn tiền sử dụng đất, miễn các loại thuế chẳng hạn, chi phí đầu ra thấp, giá nhà hạ xuống hợp lý hơn và đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân".

Theo đề án nhà ở xã hội của Bộ Xây dựng, giai đoạn 2009 - 2015, cả nước sẽ đầu tư trên 18.000 căn hộ, tổng vốn gần 50.000 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu của 30% số hộ gặp khó khăn về nhà ở tại khu vực đô thị.

Trong thời điểm kinh tế khó khăn như hiện nay, kích cầu thông qua việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đang được Chính phủ rất quan tâm. Vì vậy, tham khảo kinh nghiệm thành công từ những nước lân cận để đẩy mạnh mảng đầu tư này sẽ rất hữu ích.

Nguyệt Hà

Quy hoạch đô thị Thành phố HCM : Kinh nghiệm từ Singapore

Những năm đầu của thập niên 60, đô thị Singapore còn hết sức ngổn ngang ; quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều căn bệnh đô thị như tăng dân số, ngập nước, thiếu nhà ở… Nhưng sau 30 năm thực hiện đô thị hóa, đảo quốc này đã trở thành một trong những đô thị hiện đại nhất thế giới. Kinh nghiệm của Singapore có áp dụng được gì cho Thành phố HCM ?

Tại cuộc hội thảo “ Singapore - Quá trình xây dựng và phát triển nhà ở mang đẳng cấp quốc tế” do Cục Phát triển doanh nghiệp quốc tế Singapore và Trung tâm Xúc tiến đầu tư và thương mại Thành phố HCM vừa tổ chức, nhiều nhà quản lý quy hoạch đến từ Singapore đã chia sẻ kinh nghiệm với các nhà quản lý đô thị Việt Nam.

Từ Singapore

Tiến sĩ Lưu Thái Cách, Tổng giám đốc Cơ quan Tái phát triển Singapore - người được xem là tổng công trình sư xây dựng một đô thị Singapore hiện đại như ngày nay - cho biết, những năm đầu của thập niên 60, GDP của Singapore vào khoảng 600 USD. Điều này chứng tỏ tài lực để đất nước này tiến hành đô thị hóa cũng chẳng “thoải mái” gì. Nhưng để giải tỏa cùng lúc được nhiều khu ổ chuột, xây dựng cùng lúc hàng trăm ngàn căn hộ tái định cư, chính phủ này đã thực hiện phương châm “lấy lợi nhuận để tái đầu tư”. Theo đó, khi xây dựng khu công nghiệp hay khu thương mại, chủ đầu tư phải dành một khoản tiền hoặc một phần lợi nhuận để xây dựng nhà cho dân. Có điều lý thú, số lượng nhà xây cho dân ở Singapore bằng ngân sách nhà nước chiếm hơn 85%, còn doanh nghiệp tư nhân chỉ khoảng 15%. Tiền để xây nhà bán cho dân ( tất nhiên không theo giá kinh doanh ) chủ yếu lấy từ khoản thu các công trình xây dựng trên vùng đất bị giải tỏa. Khi xây dựng khu dân cư mới, hạ tầng ( kỹ thuật và xã hội) phải được kết nối với các vùng xung quanh và chu đáo tạo cho người dân yên tâm khi về nơi ở mới.

Để giải quyết tận gốc các căn bệnh đô thị như kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm môi trường… chính phủ Singapore thực hiện việc quy hoạch rất nghiêm ngặt. Theo các nhà quy hoạch Singapore, công tác quy hoạch đã được thực hiện trên từng mét vuông. Những năm xây dựng đất nước mặc dù rất cần nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính phủ tuyên bố “không thu hút nhà đầu tư bằng mọi giá, phải kiểm soát được môi trường”. Ông Lin Son Lim đến từ Công ty Keppel cho biết, công cuộc phát triển của Singapore cũng chính là công cuộc đô thị hóa, chính vì vậy phải có tầm nhìn xa, chính phủ quyết là làm chứ ít khi bàn tới bàn lui. Singapore cũng thành công với việc phát triển các đô thị vệ tinh, mỗi đô thị quy mô từ 200 - 300 ngàn dân nhằm tránh sự tập trung dân cư quá đông ở khu dân cư. Trong quá trình đô thị hóa, Singapore rất chú trọng đến những công trình kiến trúc cổ hoặc mang nét văn hóa của dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái và kiên quyết bảo vệ. Nhiều ngôi nhà cổ được “tân trang” thành khách sạn để vừa đảm bảo yếu tố bảo tồn vừa có thể khai thác về mặt kinh tế.

Đến thành phố Hồ Chí Minh

Ông Nguyễn Hữu Tín, Phó chủ tịch UBNDTPHCM cho biết : Quy hoạch và quản lý đô thị là một trong những nhiệm vụ cơ bản, trọng tâm cho sự phát triển của Thành phố HCM trong quá trình phát triển để phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp - dịch vụ - khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á. Nhu cầu cần đáp ứng về nhà ở của Thành phố ngày càng tăng, dự kiến đến năm 2010, dân số Thành phố sẽ lên đến 10 triệu người nên từ nay Thành phố phải phấn đấu xây dựng thêm 32 triệu m2, bảo đảm nâng diện tích đầu người lên 14m2/người. Công cuộc phát triển nhà ở nói riêng và quy hoạch nói chung của Singapore là một thành công rất lớn, do đó hội thảo này là một trong những hoạt động rất cần thiết để Thành phố học hỏi kinh nghiệm, để định hướng về quy hoạch đô thị, phát triển, quản lý đô thị và xây dựng môi trường sống một cách tốt nhất.

Singapore hiện nay là nhà đầu tư lớn thứ hai vào Việt Nam với 430 dự án có tổng giá trị đăng ký cam kết là 7,9 tỷ USD. Năm 2005, thương mại song phương của Việt Nam với Singapore đạt 10,4 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2004. Ông Ted Tan, Phó tổng cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp quốc tế Singapore cho biết : Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tế mạnh trong thời gian gần đây, xu hướng phát triển này hứa hẹn sẽ còn tiếp tục và đưa Việt Nam lên hàng những quốc gia phát triển nhanh nhất tại châu Á, bên cạnh Trung Quốc. Với nền kinh tế phát triển mạnh và sự thịnh vượng nội địa tăng, Việt Nam đã chứng kiến nhu cầu ngày càng cao của người dân về chất lượng sống cao hơn trong những khu dân cư được quy hoạch tốt. Hơn nữa, mật độ dân cư ở các quận trung tâm Thành phố HCM ngày càng cao, điều đó cho thấy nhu cầu về căn hộ cao tầng cần được đáp ứng để giải quyết tình trạng thiếu đất đô thị cho viec xây dựng nhà cửa. Chúng tôi đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và chiến lược phát triển nhà cao tầng và mật độ cao đã rất thành công, do đó Singapore sẽ rất vui mừng được góp phần vào sự tăng trưởng và chuyển mình của Việt Nam qua việc chia sẻ những kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn của chúng tôi trong lĩnh vực này.

Trao đổi với PV báo GD Thành phố HCM, TS Lưu Thái Cách cho biết, ông đánh giá cao việc chính quyền và người dân cố gắng giữ gìn những ngôi nhà cổ trong quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên ông cũng cảnh báo, nếu không tỉnh táo không gian đô thị sẽ bị phá vỡ, nhất là các công trình cổ có giá trị về mặt văn hóa. Vấn đề môi trường cũng phải hết sức lưu tâm.

Đỗ Minh Kha

Thành phố sống tốt : Bắt đầu từ chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp

Là đô thị lớn và được coi là “miền đất hứa” thu hút nhân tài và trí tuệ của cả nước, tuy nhiên, theo các chuyên gia, thì Thành phố HCM vẫn chưa phải là một “thành phố sống tốt” so với các đô thị lớn trên thế giới. Vậy Thành phố HCM cần phải làm những gì để trở thành “thành phố sống tốt - đô thị văn minh - hiện đại…” là chủ đề của cuộc hội thảo quốc tế do Viện Kinh tế Thành phố HCM và Trung tâm Toàn cầu hóa, Đại học Hawaii ( Hoa Kỳ ) mới tổ chức .

Tiêu chí của “thành phố sống tốt”

Để xác định thế nào là một “thành phố sống tốt”, Cơ quan Tư vấn nguồn nhân lực quốc tế Mercer ( Hoa Kỳ ) đã dựa trên nhiều tiêu chí như: thành phố sống tốt, phát triển bền vững, thành phố sức khỏe… Tựu trung lại là làm sao để phục vụ cuộc sống con người ngày một tốt hơn.

Theo các tiêu chí này, dựa trên việc khảo sát chất lượng cuộc sống ở 215 thành phố lớn trên toàn thế giới năm 2006 thì 2 đô thị lớn của nước ta là : Thành phố HCM được 61,9 điểm ( xếp thứ 148 ) và Hà Nội được 60 điểm ( xếp thứ 155 ).

“ Vấn đề đặt ra là tại sao nước ta đặc biệt là thủ đô Hà Nội và Thành phố HCM đang có bước phát triển kinh tế rất cao mà điểm xếp loại chất lượng cuộc sống lại thấp như vậy ? ” - Tiến sĩ Trần Du Lịch, Viện trưởng Viện Kinh tế Thành phố HCM băn khoăn.

Về vấn đề này, GS - TS Mike Douglass, Đồng Giám đốc Trung tâm Toàn cầu hóa ( Đại học Hawaii – Hoa Kỳ ), cho rằng mặc dù Thành phố HCM đang có những bước phát triển mạnh mẽ nhưng do tốc độ đô thị hóa quá nhanh, áp lực phát triển kinh tế quá lớn, lượng người nhập cư tăng vọt… khiến các tiêu chí phát triển đô thị bền vững chưa bảo đảm.

Vậy thế nào là một thành phố sống tốt ? Các chuyên gia xã hội học hàng đầu thế giới của Cơ quan Tư vấn nguồn nhân lực quốc tế Mercer đã đưa ra 39 tiêu chí theo 10 nhóm để xác định. Cụ thể: Về môi trường chính trị xã hội ( sự tuân thủ pháp luật, tỷ lệ tội phạm ra sao và sự ổn định chính trị… ); về môi trường kinh tế ( các dịch vụ ngân hàng, thu hút đầu tư ); môi trường văn hóa xã hội; y tế và sức khỏe ( các vấn đề như ô nhiễm không khí, các dịch vụ bệnh viện, nguồn cung cấp nước uống, việc thu gom rác thải, nước thải… ) ; hệ thống giáo dục và trường học được chuẩn hóa cao; dịch vụ công và vận chuyển ( nguồn cấp nước, tình trạng tắc nghẽn giao thông, vận chuyển thư tín, vận tải hàng không, đường bộ… ); dịch vụ văn hóa giải trí ( các loại nhà hàng, công viên, rạp chiếu phim… ) và những vấn đề về sản phẩm tiêu dùng, chương trình nhà ở, môi trường tự nhiên…

“Hãy bắt đầu bằng chương trình phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp”

Đó là quan điểm của Tiến sĩ Jim Spencer, Chủ nhiệm khoa Quy hoạch vùng – Trường Đại học Hawaii. Theo ông Spencer, kinh nghiệm xây dựng “thành phố sống tốt” của các quốc gia hàng đầu như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Nga, Pháp, Singapore… đều cho thấy ở mỗi thành phố lớn, việc phát triển nhà ở đặc biệt là nhà cho người thu nhập thấp hết sức quan trọng.

Nếu so với các nhu cầu như: môi trường sống, chăm sóc y tế, cấp điện, cấp nước, thoát nước, vui chơi giải trí… thì nhà ở vẫn là nhu cầu cấp thiết nhất. Tiến sĩ Spencer cho rằng: “ Qua thực tế, chúng tôi nhận thấy, Thành phố HCM đã và đang có rất nhiều khu đô thị mới, khu nhà ở mới mọc lên nhưng chưa hề có nhà dành cho người thu nhập thấp. Với một thành phố hiện đại, văn minh, sống tốt, việc quan tâm đến vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp là việc làm quan trọng để hướng đến các tiêu chí khác”.

Cùng quan điểm với ông Spencer, nhiều chuyên gia tham dự hội thảo cho rằng, việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp sẽ đem lại nhiều cái lợi cho việc cải thiện nâng cấp đô thị. “ Nếu chúng ta có đủ nhà cho người thu nhập thấp thì sẽ không còn cảnh nhà ổ chuột ven kênh rạch gây ô nhiễm môi trường, không còn cảnh các phòng trọ lụp xụp gây mất trật tự trong các khu dân cư, xóa bỏ các căn nhà xây cất tạm bợ ở các quận vùng ven… Có nhà thu nhập thấp , công nhân, viên chức, trí thức nghèo sẽ an tâm làm việc, cống hiến nhiều hơn cho thành phố, cho đất nước”- Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển đô thị và cộng đồng - Đại học Quốc gia Thành phố HCM phân tích.

Ngoài vấn đề nhà ở, các chuyên gia đã đưa ra 18 tiêu chí “sống tốt” để phát triển thành phố trong tương lai. Đó là: giao thông đi lại thuận lợi, giảm dần nạn kẹt xe, vỉa hè đi lại thông thoáng; được cung cấp điện và nước sạch đầy đủ; giảm ô nhiễm không khí, khói bụi, tiếng ồn; chống ngập nước nội thị, khơi thông, khôi phục các dòng kênh theo hướng sinh thái; thu gom và xử lý nước thải tốt; an toàn vệ sinh thực phẩm; bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa; tạo thêm không gian công cộng, không gian văn hoá; tạo mảng xanh đô thị; giảm tệ nạn xã hội; tạo nhiều công ăn việc làm; chăm sóc sức khoẻ người dân tốt; giảm nghèo; tăng cường giáo dục; cải cách hành chính; nâng cao hoạt động các đoàn thể xã hội; cung cấp và thu nhập thông tin từ người dân; thường xuyên điều tra thu thập ý kiến của người dân về chất lượng phục vụ các dịch vụ công…

Việt Hùng

Nguồn: http://niemtin.free.fr

1 tháng 3, 2009

Đảo chìm: "Thần bút" của người lính biển Trường Sa



Nguyễn Lương Phán

HOCMOINGAY. Cuốn bút ký Đảo chìm ghi lại những câu chuyện về Trường Sa của nhà thơ Trần Đăng Khoa đã trở thành một hiện tượng, với số bản sách bán chạy kỷ lục ngay khi phát hành. Đảo chìm, nơi những người lính ngày đêm đối mặt với những biến động thất thường nhất của biển khơi; nơi chiều dài không bằng một con sóng cả, và cuộc sống của người lính trên Đảo chìm vẫn vươn lên kiên cường giữa nắng, giữa gió của biển khơi... Đảo chìm là một trong không nhiều tác phẩm gây ra hiện tượng in nối bản, tái bản liên tiếp trong nhiều năm. Cùng với Chân dung và đối thoại gây xôn xao dư luận, Đảo chìm khẳng định Trần Đăng Khoa không chỉ là nhà thơ thần đồng mà là nhà văn xuất sắc. (Nhà thơ - nhà văn Trần Đăng Khoa tại tòa soạn VietNamNet. Ảnh: VNN)

Trần Đăng Khoa - nhà thơ thần đồng nổi tiếng! Trẻ con biết, người lớn biết, trong nước biết, thế giới biết ! Tôi có cái may mắn được biết Khoa khá sớm, hơn 40 năm trước đạp xe từ Hà Nội về thăm "cậu bé nhà quê" khi cậu phải đánh trâu ra đồng cho bố đi cày rồi mới về tiếp các chú. Và giờ đây, Khoa lại ngồi làm việc ở chính cái nơi mà tôi đã từng làm suốt mấy chục năm qua.

Tết này, quà Tết anh tặng tôi là Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa được Giải thưởng Nhà nước đợt 1 và cuốn Đảo chìm. Hai cuốn sách Khoa tặng làm tôi nhớ đến đoạn Xuân Sách phác thảo chân dung:

Chú Dế, Góc sân, hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
""Biển một bên và em một bên""

"Biển một bên và em một bên" vốn là câu thơ của Tế Hanh, nhưng khi Trần Đăng Khoa viết một loạt bài Thơ tình của người lính biển, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Cô tổng đài hải đảo, Ghi ở đảo chìm, Đồng đội tôi trên đảo thuyền chài, Cây phong ba đảo Nam Yết… thì đúng là "biển một bên và em một bên" phải dành cho nhà thơ - người lính biển Trường Sa thực thụ này.

Nhưng đấy mới vẫn là thơ - sở trường từ thuở bé của Khoa. Nhận được tuyển tập thơ tôi làm phần thưởng ngay cho cô cháu ngoại. Còn cuốn Đảo chìm tươi rói mực in mới tái bản lần thứ 25 đã cuốn hút tôi trong suốt hai ngày đọc liền một mạch.

Đảo chìm cuốn hút: Bởi tính thời sự của những gì Khoa viết 30 năm trước vẫn còn nóng hổi và có phần gay gắt quyết liệt hơn.

Đảo chìm cuốn hút: Bởi cái phần văn chương nó có "ma lực" mà nhà văn đàn anh Lê Lựu phải thốt lên gọi rằng Thần bút, vì những chuyện trong Đảo chìm Khoa đã kể cho tôi nghe không dưới chục lần! Thế mà đến khi đọc vẫn thấy có cái gì như mình mới khám phá, mới bắt gặp, như mới đột nhiên ngỡ ngàng và cứ như thần. Mà chuyện thì rõ ràng là đã nghe kể đến thuộc lòng rồi.

Đảo chìm không phải là một tác phẩm to dày để đóng bìa cứng xếp lên giá sách, mà chỉ là một tập sách khiêm tốn gồm 2 phần: Phần 1: ĐẢO CHÌM (chưa đầy 100 trang) và Phần 2: THỜI SỰ VÀ KÝ ỨC.

Mỗi phần có một giá trị, một sức hút, nhưng đúng thần bút là ở cái phần độc đáo "đảo chìm". Không biết tự tác giả hay nhà xuất bản cho đây là tiểu thuyết mini, nhưng chính Trần Đăng Khoa cũng cho hay: Năm 1978 anh đã viết xong cuốn tiểu thuyết dày 300 trang, song vì đọc lại thấy truyện thật mà hoá giả thành ra vứt vào sọt rác .

"Nhưng mà khốn khổ. Cái hòn đảo quỷ quái ấy vẫn không chịu buông tha tôi. Tôi viết lại . Lần này tôi co cái truyện chỉ còn chừng 80 trang, lại tách ra thành 16 truyện. Mỗi truyện một tình huống. Có truyện chỉ ba, bốn trăm âm tiết... tách nó ra thành truyện độc lập, gộp nó lại trong một chuỗi thì nó là một cuốn tiểu thuyết 15 chương."

Lạ thật, tiểu thuyết ngay cả đến tiểu thuyết lịch sử hẳn hoi mà người ta còn bịa. Thế mà Trần Đăng Khoa viết tiểu thuyết 15 chương lại không chấp nhận cái giả? Phải chăng đây là một đặc điểm quán xuyến của những trang văn Trần Đăng Khoa.

Tai nghe - mắt thấy - kể lại tài tình

Cái thật của Trần Đăng Khoa thật đến mức làm cho ai càng quen biết Khoa càng tin là thật. Anh chỉ viết, chỉ tả những cái gì mình được thấy, được biết. Anh trực tiếp hoặc gián tiếp trở thành là nhân vật chính ở trong truyện. Anh không giấu mình hoặc tự nhập vai một nhân vật khác.

Trong chương Biển mặn, khi Khoa bị sóng dập:

- Ồ anh ấy đã tỉnh rồi kìa!- Tỉnh rồi! May quá! Chút nữa lại mang tiếng đảo chìm giết chết một thi sĩ tài năng đang hứa hẹn! - Tư Xồm cười dủm dỉm. - Huy này, mày xem vết thương anh ấy có nguy hiểm không?

- Không sao. Bố ấy chỉ bị choáng khi va đập mạnh. Còn xa ruột lắm!

- Bây giờ thì ông anh có muốn chết cũng đếch chết được. - Tư Xồm lại cười. - Này, giá như ông anh ngỏm béng luôn ở đảo chìm này có khi lại hay đấy nhé. Biết đâu có người lại thấy tiếc ông anh, lại nói ông anh là một tài năng đang phát triển rực rỡ. Còn ông anh sống ý à... em nói thật, đại ca đừng tự ái nhé, ông anh cũng nhem nhuốc lắm, hoàn cảnh lắm, chẳng hơn đếch gì lính nhọ đít chúng em...

Tôi chống tay vào sàn tàu, ngồi dậy. Đầu óc cứ ong ong, váng vất. Bụng vẫn cồn cào, thoáng đặc, thoáng rỗng. May mà con tàu không bị vỡ. Có lẽ chiều qua nó lao vào một vách sóng nào đó.


Khoa luôn đưa cái "hình thức cục mịch" của mình ra để diễu. Có những chỗ mà ngay người thân nhất của Khoa cũng không nghĩ là Khoa lại "tệ" với mình đến vậy:

Khi tôi lập cập bám thang dây leo được lên lều bạt, người mừng nhất, mừng ra mặt là một cậu lính trẻ mà sau này tôi mới biết là Hai. Trần Văn Hai, một thi sĩ lừng danh ở xứ đảo chìm. Hai trố con mắt thạch sùng nhìn tôi: - Đúng ông anh thật à? Kinh nhỉ! Em không thể tưởng tượng được! Em cứ ngỡ ông anh khác kia. Ai ngờ lại xù xì thế này. Kinh thật!

- Kinh à?

- Vâng! Em nói ông anh đừng tự ái nhé! Trông ông anh cứ ùng ục như cái lão đào huyệt. Kinh bỏ bà! Thế mà trước đây, em cứ tưởng thi sĩ bao giờ người cũng mảnh mai, đôi mắt lúc nào cũng mơ màng, trầm uất và buồn thăm thẳm!

- Thì cậu cũng là thi sĩ mà cậu cũng có mảnh mai đâu nào?
- Em là thi sĩ đểu! Chúng nó gọi thi sĩ là gọi đểu đấy!


Chính với lối viết thật đến vậy mà từng truyện một cứ đi vào lòng người một cách tự nhiên. Đọc sách mà cứ như nghe người thân của mình nhỏ nhẹ mộc mạc kể lại cái chuyện rất bình thường xảy ra trong cuộc sống ở nơi sóng to biển lớn này.

Mỗi chuyện - một tầm sâu đạo lý, một vấn đề đáng suy nghĩ

Ở phần trên, tôi lướt qua cái cách viết mà tập sách đảo chìm cuốn hút người đọc. Nhưng cái đọng lại qua mỗi "chương đảo chìm" thì lại chính là nội dung những mẫu chuyện rất đời thường, nhưng lại rất lạ làm xúc động lòng người.

Ai trong chúng ta lại chẳng thường nhắc đến câu: Bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng đến Đảo chìm khi người chiến sĩ từ ý nghĩ xúc cát đổ xuống biển để giấu đảo lại có việc làm mà cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đều làm cho người đọc ngỡ ngàng... người chộp được cái thần sự việc này đúng là thần bút:

…Sáng sớm hôm sau, khi Tư lệnh đánh xuồng trở lại đảo thì thấy anh chàng đang cởi trần, sì sụp lặn ngụp cùng với chiếc xẻng của Tư lệnh. Nhưng anh không xúc cát đổ xuống biển, mà lấy cán xẻng khẽ bẩy từng tảng đá chìm sâu dưới mấy mét nước, rồi lụi cụi khuân lên, đắp quanh chân đảo, giữ cho cát khỏi bay.

- Mày làm cái gì thế mày? Giấu đảo à?
- Dạ, báo cáo bố, con mở mang bờ cõi ạ! - Anh lính cười khục khục, gương mặt nhấp nhoá nước. - Mà, mà, đúng ra, đúng ra con chỉ "buông neo" cho Tổ quốc khỏi bị trôi dạt thôi!




Rời rợi xanh phong ba đảo Trường Sa - Nguồn: weblogs

Sách vở kim cổ Đông Tây đã nói nhiều về tình đồng đội trong chiến đấu, nhưng nghe Khoa kể về tình đồng đội trên biển cả, thì thú thật nó đã vượt ra ngoài sự tưởng tưởng của người đọc. Chuyện Hai Ùm trân trọng kỷ vật của Thiêm để gửi về cho mẹ Thiêm, có thể ta đã gặp đâu đó nhưng đến khi Hai Ùm kiên quyết vượt bão biển trở lại để cứu kỷ vật của Thiêm thì điển hình đã được đẩy lên tới "kịch trần"...

Thằng Thiêm chỉ có mỗi chút đó thôi. Nếu mất, biết nói gì với mẹ nó, cực thế. Vả lại, còn một tí tư trang ấy, cũng có thể cho vào cái tiểu sành, đắp cho nó ngôi mộ. Vẫn còn chút gì của nó để có thể thắp cho nó một nén hương - Hai nói như van vỉ. - Anh lên tàu đi. Em quay lại...

Thế nhưng, qua cơn bão cả đảo bổ nhào đi tìm Hai Ùm
Tôi lập bập bám thang dây, leo lên lều. Căn lều trống hoác, ướt nhoẹt. Đũa bát của Thiêm đã bị gió ném đi. Nhưng chiếc ba-lô lép kẹp sũng nước thì vẫn lủng lẳng chao lắc trên cái kèo sắt cột lều. Như thế có nghĩa là Hai không vào được lều bạt.

- Hai ơi!

Tư Xồm bỗng nấc lên. Thế là lại thêm một người lính nữa chết ở đảo chìm. Người đó tại sao không phải tôi, mà lại là Hai, con cá kình của đảo chìm?

Tôi bỗng thấy chóng mặt. Chính trị viên Thuận vội chạy tới đỡ vai tôi. Tôi níu tay Tư. Còn Tư thì ôm lấy cột lều. Sóng vẫn hắt qua mấy khung giường sắt, phủ lên đầu chúng tôi từng đợt nước mặn chát. Lần đầu tiên, tôi mới hiểu vì sao nước biển lại mặn đến thế. Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở đảo chìm. Mặn như máu...


Quên cả thân mình vì nghĩa tình đồng đội, sống chết vì đồng đội điều đó lý giải vì sao họ đã trụ vững trước mênh mông phong ba bão táp.

Tiểu thuyết thì có nhân vật phản diện,nhân vật chính diện, nhiều vở kịch, nhiều tiểu thuyết sống được vì những nhân vật phản diện với bao mưu đồ giảo quyệt và tính toán kỳ bí hấp dẫn… nhưng truyện của Khoa, đặc biệt là Đảo chìm không có tuyến phản diện, không có mưu mô, không có lừa lọc.

Chỉ có tình yêu thương, giữa đông đội với đồng đội, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa những người trên đảo với quê hương, đất nước và thậm chí giữa những người trên đảo với cây rau, con vật mà họ chăm sóc hôm sớm.

Chuyện nuôi con lợn ở đây đã mang đầy tính nhân bản, lính còn phải tắm nước biển, uống nước biển, độn thêm nước biển để nấu cơm. Lính tráng còn phải sống như thế vậy mà con lợn cứ "đụng" chút nước mặn là đi ỉa tồ tồ. Lại phải thửa một suất riêng cho lợn, quá bằng chăm người ốm. Đã vậy, mỗi ngày còn phải chi thêm cho nó bốn lít nước ngọt nguyên chất nữa để làm suất uống. Bốn lít nước bằng tiêu chuẩn của hai thằng lính biển chứ có ít đâu.

Một ngày bốn lít. Mười ngày bốn mươi lít. Một tháng một trăm hai mươi lít. Một năm là tấn rưỡi nước ngọt. Ối giời đất ơi! Và cái lý do chính đáng nhất đã được tìm ra để toàn đảo thịt lợn! Tưởng chừng đây là niềm vui lớn của đảo khi có bữa ăn tươi mà lính đảo mong ngóng bao ngày, thế nhưng, bao nhiêu cánh tay mạnh mẽ vung lên trước sóng to gió lớn, trước kẻ thù hung bạo thì lại không ai đủ can đảm để chọc tiết con lơn cỏn con...

Cũng cần nói thêm, Đảo chìm trong cái khó khăn gian khổ, khắc nghiệt mà người lính phải đương đầu với biển với trời với những kẻ đang lăm le dòm ngó thì cách kể chuyện hóm của Khoa cũng làm cho người đọc không cảm thấy căng cứng:

Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương cũng đã đến đây, đã ngủ một đêm trên hòn đảo này trong một chuyến đi tuần biển.
- Vất vả không, các cậu? Tư lệnh hỏi một cậu lính trẻ, tóc đỏ quạch như tôm luộc, da đen cháy, người chắc nịch như một thỏi sắt đã tôi qua lửa. Anh bạn cười khì khì:
- Báo cáo bố, cũng tàm tạm thôi ạ!
- Ở đây thì mọi thứ đều thiếu thốn rồi. - Giọng Tư lệnh bùi ngùi - Nhưng cái gì cần nhất, cấp thiết nhất, các cậu cứ nói thẳng với mình. Bộ tư lệnh sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ các cậu.

- Thế bố cho con được nói thật nhé!

- Ừ, thì phải nói thật chứ! - Tư lệnh mỉm cười. - Chả lẽ tớ già thế này, còn lặn lội vượt sóng gió ra đây với các cậu, để rồi rốt cuộc, lại nghe các cậu nói dối à?
- Nhưng bố không được phê phán con lãng mạn cơ...
- Cái thằng! Tao còn lãng mạn hơn mày ấy!

Anh lính trẻ nhìn mái đầu bạc trắng của Tư lệnh, cười hồn nhiên:
- Thế thì, con đề nghị bố thế này nhé! Bận sau, nếu bố ra đảo, bố chịu khó giắt lưng cho chúng con vài cô gái...

Anh lính trẻ bỗng bối rối trước cái nhìn ngỡ ngàng của Tư lệnh. "Thì con đã vòi bố trước rồi, là bố phải tha thứ cho con, không được phê phán con lãng mạn".

- Chúng mày muốn nghe hát hả? Muốn xem văn công hả?

- Không, không! - Anh lính bỗng luống cuống. - Con đâu dám có voi đòi tiên! Văn công xem ra xa vời quá! Chúng con chỉ muốn bố mang ra đây vài cô nuôi quân thôi! Các cô ấy chẳng phải hát hò gì. Chỉ mặc tấm áo phin trắng, cái quần lụa đen, đi phơ phất trên đảo, để chúng con ngắm, chúng con "chỉnh "mắt. Chứ mắt mũi chúng con, bố thấy đấy, sang vành hết cả rồi!...

Tư lệnh cười ha hả. Anh lính trẻ cũng cười. Chưa bao giờ tôi được nghe cuộc đối thoại kỳ lạ như thế.


"Thập ngũ hiếu" Đảo chìm

Lúc nhỏ, tôi được học cuốn Nhị thập tứ hiếu, mỗi chuyện hiếu là nói về một hành vi cụ thể rất dễ nhớ. Qua 24 chuyện kể bằng văn vần, bằng hình ảnh các hành vi đạo đức được nhắc nhở một cách nhuần nhuyển. Bây giờ qua 15 chương của Đảo chìm tôi ước gì đấy cũng là một "thập ngũ hiếu" để truyền đạo lý, trách nhiệm, nghĩa vụ, tình yêu đất nước, yêu đồng đội trên mặt trận bảo vệ vùng biển, vùng trời đất nước thân yêu.

Với chủ đề bảo vệ chủ quyền đất nước, nhiều cộng đồng mạng đã lấy Đảo chìm làm điểm tựa để cùng nhau trao đổi bàn luận những vấn đề cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ và việc làm cụ thể .

Viết Đảo chìm, Trần Đăng Khoa đã trả được món nợ tinh thần với những người đã đùm bọc, sát cánh với Khoa trong những năm anh là người lính hải quân và có mặt tại tiền tiêu Trường Sa nóng bỏng. Và Đảo chìm đã thắp lửa cho biết bao lớp trẻ trong hơn 3 thập kỷ qua và sẽ còn nhiều năm nữa tiếp tục vững vàng trước thử thách quyết liệt.

"Cuốn bút ký Đảo chìm ghi lại những câu chuyện về Trường Sa của nhà thơ Trần Đăng Khoa đã trở thành một hiện tượng, với số bản sách bán chạy kỷ lục ngay khi phát hành. Đảo chìm, nơi những người lính ngày đêm đối mặt với những biến động thất thường nhất của biển khơi; nơi chiều dài không bằng một con sóng cả, và cuộc sống của người lính trên Đảo chìm vẫn vươn lên kiên cường giữa nắng, giữa gió của biển khơi..."

Đảo chìm là một trong không nhiều tác phẩm gây ra hiện tượng in nối bản, tái bản liên tiếp trong nhiều năm. Cùng với Chân dung và đối thoại gây xôn xao dư luận, Đảo chìm khẳng định Trần Đăng Khoa không chỉ là nhà thơ thần đồng mà là nhà văn xuất sắc.

(Nguồn: TUANVIETNAM)

Trọn bộ ĐẢO CHÌM trên trang Viet Studies của GS. Trần Hữu Dũng

27 tháng 2, 2009

Tháng ba - thơ của những người bạn

Trọng Toàn - bài đăng trên Phan Chí Thắng Blog

HOCMOINGAY. Thơ là khoảng khắc, là cái chớp mắt của cảm xúc, nó như một ánh chớp từ trái tim mình. Thơ vì thế rất dễ làm mà cũng rất mộng mị,làm mãi không xong. Một câu thơ có khi viết cả đời không được. Nhưng một bài thơ hay có khi vụt sáng trên trang giấy chỉ trong khoảnh khắc. Cả ba bài thơ tháng Ba này là ba ánh chớp: không chuẩn bị, không toàn tính, không cố ý, không chứng tỏ, thơ vụt ra hồn nhiên, bắt đầu từ sự vỡ òa cảm xúc một cây bút thông minh nhưng đau đời là Lâm Cúc, chuyển sang bài thơ khiêm nhường như là sự sẻ chia với người bạn mình ơi nơi xa lắm của Phan Chí Thắng, rồi cuối cùng là bài của Hoa Lục Bình như cách để kéo hai người bạn kia lại, vào bàn cà phê, nói đi chuyện khác, quên đi niềm yêu, niềm đau cho bạn vui.Thế thôi mà thành thơ hay cả ba bài... Thiếu một trong ba bài, hẳn không trọn vẹn cho chúng ta đọc hôm nay. Thơ như thế, thì ngoài đời, tình bạn của họ chắc chắn khiến chúng ta phải ngưỡng mộ.(Lời bình của Nguyễn Quang Vinh)


Có lẽ hiếm gặp trường hợp ba người bạn làm ba bài thơ dưới cùng một tên gọi "Tháng ba" với ba tâm trạng, ba lối tiếp cận chủ đề khác nhau, và bài nào cũng hay, cũng đặc sắc.

Xin cảm ơn ba tác giả và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Ở một đất nước có nhiều vùng khí hậu như Việt nam, khi ở Tây Nguyên tháng ba đang là "mùa con ong đi lấy mật", thì ở đồng bằng Bắc Bộ "tháng ba bà già chết cóng". Còn ở Nam Bộ tháng ba là tháng nóng nực gần cuối mùa khô. Cái khác biệt về khí hậu được Lâm Cúc, Phan Chí Thắng và Kim Oanh mượn để nói lên ba tâm trạng khác nhau.

Nhà thơ Lâm Cúc làm bài thơ Tháng Ba:




Tháng ba
Núi vã mồ hôi
Hổn hà hổn hển
Cõng trời oằn lưng

Gió nóng như bầy ngựa rừng
Rùng rùng tung vó, hú lưng chừng đèo.

Nắng quạt lửa dọc đường chiều
Nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông.



Đọc bài Tháng Ba của Lâm Cúc, Phan Chí Thắng ngẫu hứng làm một bài Tháng Ba khác, với cấu trúc giống như bài của Lâm Cúc gồm ba câu lục bát, câu đầu bị bẻ vụn thành thể thơ tự do; ý định ban đầu chỉ là hoạ với bạn cho vui:




Tháng ba
Trưa chẳng tan sương
Gió xuyên áo kép
Con đường mờ xa

Lạnh như cắt thịt xẻo da
Như ai đã nỡ bỏ ta đi rồi

Mưa giăng mảnh lưới ngang trời
Ta là con cá mắc hoài niềm yêu


Kim Oanh, người không hay làm thơ, thấy vậy cũng tham gia viết một bài Tháng Ba theo cách riêng của mình:



Tháng ba
Nắng òa mặt đất
Nắng lên môi cười
Thầy em, tủm tỉm gọi mời
U em, lúng liếng, tươi tươi, giòn giòn

Nửa đêm hổn hển đầu non
Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không

Mình ơi
Thuận vợ thuận chồng
Tháng Ba sau
Có con bồng he...he...


Cái nắng nóng kinh người được nhà thơ nữ Lâm Cúc tả chân độc đáo một cách nghiệt ngã "Núi vã mồ hôi, hổn hà hổn hển cõng trời oằn lưng" nhưng lại khoáng đạt rất nam nhi "Gió nóng như bầy ngựa rừng", để rồi cuối cùng vẫn quay trở lại làm người phụ nữ chua xót nhận thức một thực tế tàn nhẫn: người nghèo chỉ có tài sản duy nhất là giấc mơ mà tài sản đó cũng đã bị cái nắng kia làm cho khô cong đi. Tả nắng nóng đến như thế thì thật là tài!

Bài thơ Tháng Ba cũng như nhiều bài thơ khác của Lâm Cúc thường dẫn người đọc đến cực trị của cảm xúc, những biên độ lớn của hình ảnh và sự bất mãn. Đọc xong ta thấy choáng váng, đau đớn, day dứt không nguôi (trích cảm nhận của Hoài Vân).

Như tự mình đã viết: "Xin phép nhà thơ Lâm Cúc cho tôi viết một bài Tháng Ba, lấy cái lạnh đối với cái nóng, cái buồn cụ thể đối với cái buồn mông lung..." Phan Chí Thắng lấy giấc mơ yêu thương bất tận để cố quên đi giấc mơ nghèo vô vọng trong thơ Lâm Cúc.

Tháng ba lạnh, sương giăng đầy làm cho con đường trở thành mờ xa giống như hình ảnh người yêu xa vời vợi. Đối nghịch với cái nóng ngoại cảnh có bầy ngựa rừng tung vó là cái lạnh nội tâm thầm kín:

Lạnh như cắt thịt xẻo da
Như ai đã nỡ bỏ ta đi rồi

Ta lạnh không hẳn vì trời lạnh, mà còn vì ta cô đơn, nhưng ta cô đơn kiêu hãnh:

Mưa giăng mảnh lưới ngang trời
Ta là con cá mắc hoài niềm yêu

Ta chấp nhận sự cô đơn, ta sung sướng vì ta được buồn, vì trong cái lạnh cắt da cắt thịt kia ta có được hơi ấm từ bên trong - sự nồng nàn của tình yêu, của hy vọng. Yêu được gọi là một niềm, giống như niềm tin, niềm hy vọng.

Bài thơ Tháng Ba của Phan Chí Thắng như một sự chia sẻ với Lâm Cúc - bạn mình và cũng như một lời nhắn với bạn hãy cố thoát ra khỏi nỗi tuyệt vọng dai dẳng.

Rất hiểu điều này, Kim Oanh làm một bài thơ Tháng Ba nữa để tham gia vào cuộc chơi đối thoại giữa hai nhà thơ với giọng tinh nghịch xưa nay của mình. Tháng Ba của Kim Oanh đầy nhựa sống:

Nắng òa mặt đất
Nắng lên môi cười

Khi nắng đã lên môi cười thì hai vợ chồng tất nhiên trở nên tình tứ hơn:

Thầy em, tủm tỉm gọi mời
U em, lúng liếng, tươi tươi, giòn giòn

Và thật bất ngờ, tác giả mạnh dạn dẫn người đọc đến một "sự kiện" thú vị không thể khác được trong cái tháng ba mùa con ong đi lấy mật đó:

Nửa đêm hổn hển đầu non
Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không

Diễn tả cái chuyện vợ chồng như thế thật là tài hoa, thật là khéo? Nửa đêm hổn hển, sáng ra cái áo tội nghiệp kia vẫn còn bị bỏ quên đâu đó. Chuyện khó nói đã được nói ra một cách tinh tế và thơ mộng, một vài hình ảnh đủ cho người đọc hình dung ra một đêm tháng ba ân ái của cặp vợ chồng trẻ. Cái hổn hển của đất trời trong thơ Lâm Cúc được Kim Oanh dùng lại trong một bối cảnh khác và tuy bị dùng lại, hai từ đó vẫn đắt giá như thường.

Kim Oanh khẳng định hạnh phúc cao quý, ước mơ to lớn nhất của người đàn bà là:

Mình ơi
Thuận vợ thuận chồng
Tháng Ba sau
Có con bồng he...he...

Bài thơ kết thúc bằng một tiếng cười đùa "he... he..." như muốn làm vui vẻ hoá cuộc đối đáp giữa hai bạn thơ Lâm Cúc - Phan Chí Thắng, tác giả đã cố tình nghịch ngợm một cách thông minh hóm hỉnh.

Ba người làm thơ đều nói về thời tiết. Nắng mưa không còn là chuyện của trời, nắng mưa chính là chuyện của thời tiết nội tâm con người.

Ở bài thơ thứ nhất, bạn đọc không tìm thấy nhân vật "tôi", nhân vật đó xuất hiện ảo, nó là nỗi lòng của tác giả. Ở bài thứ hai, "Tôi" được xưng là "Ta". Là chúng ta chứ không phải một người. Tác giả cho phép mình đại diện cho cảm xúc không của riêng ai. Riêng bài thơ thứ ba, tác giả không tham gia vào câu chuyện, mà để câu chuyện tự đến với bạn đọc. Ba bài thơ, ba cách nói khác nhau.

Từ một bài thơ dữ dội, trĩu nặng đau buồn của Lâm Cúc, chúng ta có thêm bài thơ sâu lắng dịu dàng yêu thương của Phan Chí Thắng và cả bài thơ cũng rất tài hoa của Kim Oanh khi chị khẳng định rằng hạnh phúc vĩnh hằng của người đàn bà là được yêu, được làm mẹ.

Có thể nói chùm ba bài thơ Tháng Ba rất hay này là một sự lạ và vui trong thơ văn blog.


MỘT SỐ CẢM NHẬN

Cảm nhận của Hoài Vân

Một bài bình rất tuyệt, Trọng Toàn đã làm chùm thơ tháng 3 này sáng lên lấp lánh!



Cảm nhận của Thành Chung

Đọc ba bài là thấy rõ đặc điểm tính cách của từng tác giả.

Lâm Cúc lúc nào cũng trăn trở, vật lộn với từng con chữ và dù có nói đến thiên nhiên, đến thời tiết thì vẫn quay về với sự nghiệt ngã của đời thường: "nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông". Cần phải nói thêm, lời bình của Hoài Vân cũng làm cho bài thơ của Lâm Cúc lấp lánh hẳn lên.

Lão Hâm lại là người luôn đắm đuối với "YÊU". Trong cái se lạnh của rét Nàng Bân, Lão thấy như mình bị bỏ lại. Lão tự nhận mình "là con cá mắc hoài niềm yêu". Nếu có đem quẳng Lão vào giữa vùng "Gió nóng như bầy ngựa rừng" của Tánh Linh, chắc hẳn thơ của Lão cũng vẫn có những "con đường mờ xa" với những "mảnh lưới ngang trời".

Kim Oanh vốn được biết đến là một cây bút tinh nghịch, hóm hỉnh và thông minh với những "chán nhau thì cưới"; "đánh rơi một ông chồng"...Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu ta gặp trong bài thơ Tháng Ba một Kim Oanh rất nồng nàn, đam mê, một Kim Oanh muốn đi đến tận cùng của "làm chồng làm vợ" mà vẫn rất "chân quê": "Thầy em tủm tỉm" và "U em lúng liếng". Chắc hẳn nhiều người sẽ muốn gặp Kim Oanh "Sáng ra áo kép vẫn còn bỏ không" và để nghe giọng cười "he he" của chị.

Tôi từng nói với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo khi anh ở thăm New York: Lâm Cúc, Hoài Vân, Kim Oanh là "bộ ba XE-PHÁO-MÃ".



(Bốn người bạn từ trái sang phải: Lâm Cúc, Kim Oanh, Hoài Vân, Bích Nga)

Cảm nhận của Nguyễn Quang Vinh

Hình như là đọc hơn năm lần. Vì cách đây một năm, Bọ chưa biết Blog là gì. Thế mà khi ấy, các chị Hoa Lục Bình, Lâm Cúc và anh Phan Chí Thắng đã mần tháng Ba.

Thơ- theo Bọ vốn là người rất thèm làm thơ mà không biết làm - Thơ là khoảng khắc, là cái chớp mắt của cảm xúc, nó như một ánh chớp từ trái tim mình. Thơ vì thế rất dễ làm mà cũng rất mộng mị,làm mãi không xong. Một câu thơ có khi viết cả đời không được.Nhưng một bài thơ hay có khi vụt sáng trên trang giấy chỉ trong khoảnh khắc.
Cả ba bài thơ tháng Ba này là ba ánh chớp: không chuẩn bị, không toàn tính, không cố ý, không chứng tỏ, thơ vụt ra hồn nhiên, bắt đầu từ sự vỡ òa cảm xúc một cây bút thông minh nhưng đau đời là Lâm Cúc, chuyển sang bài thơ khiêm nhường như là sự sẻ chia với người bạn mình ơi nơi xa lắm của Phan Chí Thắng, rồi cuối cùng là bài của Hoa Lục Bình như cách để kéo hai người bạn kia lại, vào bàn cà phê, nói đi chuyện khác, quên đi niềm yêu, niềm đau cho bạn vui.Thế thôi mà thành thơ hay cả ba bài.

Không ai có thể tuyên bố rằng, tớ đang chuẩn bị làm thơ hay đây như có người mới vào Blog đã vội tuyên bố rằng, các bác chuẩn bị cảm nhận nhé, cảm nhận từ từ thôi để em còn kịp trả lời. He he

Hoa Lục Bình, Lâm Cúc Phan Chí Thắng làm Tháng Ba là vì nghĩa bạn bè, là vì tiếp cho nhau một niềm an ủi, một sự sẻ chia, người xứ ấm thì gửi cho bạn ở xứ lạnh mấy câu thơ sưởi ấm. Người đang vui thì gửi cho bạn đang đau đời mấy câu thơ an ủi, cười xòa với nhau để cùng nhẹ lòng.Ba bài thơ lúc đầu chỉ đơn giản thế thôi, lấy cái nghĩa bạn, tình đời làm bệ phóng cho cảm xúc.Ba bài thơ khi ấy chỉ là riêng tư với nhau, quây quần chữ nghĩa với nhau, đốt chữ thành lửa, kéo người xa lại gần bên nhau mà tâm sự.

Nhưng ba bài thơ đã thành tài sản thơ của mọi người. Vì ngay cả người thù ghét, người đố kị, người nóng mặt nóng mũi với ba tác giả này thì trong thẳm sâu lương tri của họ, ý thức của họ, chút trí tuệ cuối cùng của họ vẫn phải thừa nhận là thơ hay.

Thơ hay không cần phiên dịch.Lâm Cúc làm thơ hay vì biết vận đời mình vào từng dấu phẩu. Thơ chị là cao đời, chắt ra từ cảm nhận, từ mồ hôi nước mắt của mình, từ cái áo đẹp chần chừ không dám mặc, đến cái chốt cửa buồng riêng hàng đêm mà vẫn khao khát thương yêu. Tháng ba của chị với chữ thơ hao gầy như đời chị, sắc nhọn, lấm lem bụi đời đã viết nên những câu thơ ép ngực người đọc.

Phan Chí Thắng bị tháng Ba của Lâm Cúc đôt cháy cảm xúc, thương bạn và nghĩ đến mình, làm thơ về tháng Ba nơi mình ở nhưng cũng là thông điệp gửi đến bạn, nếu khao khát sống, khát yêu nơi bạn bị cháy như tro than, như lửa ngút thì tôi ở ngoài nay, ôm mãi một niềm yêu nhớ, như dao cắt thịt xẻo da, như ai đã bỏ ta đi rồi. Chia sẻ thế để nói với bạn rằng, dù ở đâu, nắng hạ hay đông giá, niềm đau giống nhau, nỗi nhớ giống nhau, niềm yêu thương giống nhau và tình thương mến giống nhau. Thông điệp ấy là một thông điệp lớn.

Hai bài thơ như gửi nhau, chia sẻ nhau trên tình bạn thương mến ấy sẽ không có sự lấp lánh nếu không xuất hiện Tháng Ba của Hoa Lục Bình. Trong khi Phan Chí Thắng và Lâm Cúc vịn vào tháng Ba nơi mình đang sống để làm bật lên nỗi niềm của mình thì Hoa Lục Bình lại hồn nhiên miêu tả tháng Ba trong náo nhiệt của hạnh phúc với những câu thơ hóm hỉnh, tươi tắn và vô cùng thông minh. Những câu thơ rất hay.

Và nhờ tháng Ba của Hoa Lục Bình, Lâm Cúc và Phan Chí Thắng như có cái cầu vui để bước qua lại bên nhau, cầm lấy tay nhau trong cái tình người, tình bạn đáng quí trọng. Hoa Lục Bình dùng những câu thơ hóm hỉnh, sắc sảo và chan chứa hạnh phúc giăng ra thành một vầng sáng tươi, ấm áp, mát mẻ cho hai người bạn của mình.

Thiếu một trong ba bài, hẳn không trọn vẹn cho chúng ta đọc hôm nay. Thơ như thế, thì ngoài đời, tình bạn của họ chắc chắn khiến chúng ta phải ngưỡng mộ.

19 tháng 2, 2009

Câu chuyện của người tự học


Vương Trí Nhàn

HOCMOINGAY. Bên cạnh yếu tố chủ quan của người đi học, thì việc học hỏi thành bại hay không còn phụ thuộc vào ông thày. Người tự học phải biết tìm thầy cho chính mình. Và nếu như sau một thời gian đọc hàng núi sách, anh chợt nhận ra mình toàn loay loay với những cuốn sách hạng ba hạng tư, thời giờ đã mất, mà kiến thức thu được chẳng bao nhiêu, thì người đáng để anh ta buông lời trách móc lại là chính bản thân anh

1. Lời khuyên đầu tiên

Ở trường đại học ra, sau khi thu xếp được một chỗ làm việc tàm tạm, cái việc mà một thanh niên tự trọng hiện nay phải lo đầu tiên, theo tôi chưa phải là lo học thạc sĩ rồi lần lên tiến sĩ... mà là học để có được một ngoại ngữ có thể sử dụng tự do và trước tiên, dư sức đọc các tài liệu chuyên môn.

Mỗi khi có dịp trò chuyện với các bạn trẻ, lời khuyên đầu tiên tôi muốn nói - nếu như được yêu cầu có một lời khuyên - đơn giản như vậy. Đây là kinh nghiệm tự học của tôi, mà cũng là điều tôi rút đúc được, qua nhiều thành bại của các đồng nghiệp.

2. Nhận rõ vị thế của mình!

Các trường đại học mà bọn tôi theo học nhà cửa đơn sơ, phòng học nhiều khi chỉ là mấy gian nhà lá trống trải, sách vở và phương tiện thiếu thốn, cổ lỗ. Nay các trường đại học ở ta đã khang trang to đẹp hơn nhiều. Nhưng, theo chỗ tôi hiểu, trước sau trình độ đào tạo ở ta vẫn vậy, người sinh viên ra trường thường không nhập được vào guồng máy sản xuất của xã hội, còn so với trình độ đại học ở các nước tiên tiến thì lại càng không theo kịp (giá có muốn xin việc ở nước ngoài cũng không ai người ta nhận!)

Chúng ta chỉ được đào tạo rất sơ sài..., chắc chắn đây là điều mà các bạn trẻ đã nghe nhiều lần. Song biết lơ mơ là một chuyện, mà ghi tạc nó vào tâm trí, để biến thành ý chí, nghị lực trong hành động lại là một chuyện khác. Mà chỉ khi nào người sinh viên ở trường ra thấy đau đớn khổ sở vì mình chưa được học đến nơi đến chốn, tiếc cho tuổi trẻ của mình không vươn tới được cái tầm lẽ ra nó có thể vươn tới... thì người ta mới bắt tay vào tự học thực sự, tự học có kết quả.

Nhưng làm thế nào để biết rằng mình còn đang kém cỏi, nếu không đọc rộng ra sách báo nước ngoài? Xin phép được lấy ví dụ từ kinh nghiệm bản thân: Nhờ tự học tiếng Nga, hiểu văn học Nga (và chút ít văn học phương Tây qua tiếng Nga) mà tôi có điều kiện để nhìn nhận văn học Việt Nam phần nào thấu đáo hơn, cũng như quan niệm của tôi, cách hiểu của tôi về văn học nói chung, trong chừng mực nào đó, cũng trở nên hợp lý hơn. Một số bạn trẻ gần đây chỉ lo học ngoại ngữ để giao thiệp, trong khi đó học để đọc sách, kể cả “đọc” qua máy tính... mới là việc chủ yếu của người muốn tự học.

3. Tinh thần lập nghiệp.

Ta chỉ hay nói lớp trẻ nên khiêm tốn biết ơn những người đi trước... Song có một tinh thần nữa mà người thanh niên ngày nay phải thấm nhuần, ấy là không thoả mãn với kiến thức được truyền thụ, coi rằng moi việc người trước đã làm đều chưa hoàn thiện, thế hệ mình còn phải tiếp tục; hoặc trong khi chấp nhận sự hoàn thiện của người đi trước, thì vẫn tin rằng thế hệ mình sẽ có cách làm khác, để đi tới một sự hoàn thiện mới. Về mặt đạo đức mà xét, cách tốt nhất để thế hệ đi sau tỏ lòng biết ơn với những người đi trước, là tìm cách vượt lên trên họ. Sự hiểu biết kỹ lưỡng về thành tựu của những người đi trước là nhân tố có vai trò kích thích người trẻ tiếp tục khai phá mở đường.

4. Mấy “chiêu thức” cần thiết

Có nhiều “động tác” mới nhìn tưởng là chuyện nhỏ, song lại có ý nghĩa quyết định và các bạn trẻ mới bắt tay tự học nên biết :

1/. Các loại sách từ điển bách khoa cho phép người ta có được bức tranh toàn cảnh về một lĩnh vực kiến thức nào đó, bởi vậy, với những người tự học, là một công cụ thật thuận tiện. Vả chăng không phải chỉ tra một từ điển, mà có khi mò mẫm tra nhiều từ điển khác nhau, để tìm ra cái tối ưu. Khi sử dụng Bách khoa toàn thư, không nên quên theo dõi phần thư mục của nó, để tìm xem chung quanh vấn đề mình đang theo đuổi có những quyển sách nào đáng đọc nhất, rồi dành thời gian đọc bằng được. Theo cách này, tôi đã có thể hiểu kỹ thêm vài môn học mà quả thực, lúc học ở trường, chưa được các thày dạy, hoặc dạy quá sơ sài, thậm chí là dạy sai nữa.

2/ Trong khi tự đặt cho mình một kỷ luật làm việc, đồng thời ta nên dành ra những khoảng trống tự do, để từ lĩnh vực mình phải học, đọc lấn sang các lĩnh vực khác. Ví dụ, trong khi học về văn học, tôi đồng thời có ý tìm đọc thêm sách sân khấu, hội hoạ, có lúc lan man sang cả sinh học, cơ học lượng tử... Không bao giờ tôi coi những bước lang thang này là mất thì giờ, ngược lại, thấy biết ơn những kiến thức xa lạ ấy, vì nhờ có chúng, những suy nghĩ của tôi về văn chương và đời sống trở nên mềm mại hơn.

3/ Nên biến việc tự học thành một việc hữu ích. Tức là người tự học cũng nên tính tới những sản phẩm cụ thể, và nếu những sản phẩm này biến thành hàng hoá, mang lại cho đương sự một số tiền nho nhỏ thì...càng tốt. Tôi nhớ hồi đang mê đọc các thứ lý luận về tiểu thuyết, tôi đồng thời nhận làm các bản lược thuật cho Viện thông tin khoa học xã hội. Đáng lẽ chỉ tuỳ tiện ghi lại kiến thức vào sổ tay thì tôi phải trình bày lại chúng một cách sáng sủa, để người khác có thể sử dụng được. Tiền thu được chẳng là bao, nhưng nó buộc tôi phải làm công việc của mình một cách nghiêm túc.

5. Bản lĩnh và may mắn

Bên cạnh yếu tố chủ quan của người đi học, thì việc học hỏi thành bại hay không còn phụ thuộc vào ông thày. Người tự học phải biết tìm thầy cho chính mình. Và nếu như sau một thời gian đọc hàng núi sách, anh chợt nhận ra mình toàn loay loay với những cuốn sách hạng ba hạng tư, thời giờ đã mất, mà kiến thức thu được chẳng bao nhiêu, thì người đáng để anh ta buông lời trách móc lại là chính bản thân anh - oái oăm là ở chỗ đó!

Thường nhìn vào khoa học, người ta dễ bắt gặp một khung cảnh ồn ào lộn xộn. Vậy nên khi bước vào đó, người tự học luôn luôn cần có một chút tỉnh táo để biết trong trường hợp của mình, thầy nào đáng theo, sách nào đáng đọc kỹ trước tiên. Tức là phải có được một bản lĩnh nhất định, và cả một chút may mắn nữa.

Nói là phải đọc hàng ngàn cuốn sách, hàng vạn bài báo khác nhau, song người có kinh nghiệm đều biết trên con đường tự học thực ra chỉ có một hai cuốn sách nào đó với bản thân là có ý nghĩa nhất: những quyển sách ấy làm thay đổi cả hướng đi của mình, do đó cả cuộc đời mình. Nếu như bằng trực giác, bằng mẫn cảm, ta đã tìm được một hai cuốn sách lớn, và biết coi nó là bạn đồng hành suốt đời, đọc mãi không chán, thì hoàn toàn có thể tự coi là mình biết học, và may mắn ấy, không phải ai cũng có.

Nhấn mạnh một chút hên xui không phải để làm chùn bước các bạn trẻ : chính những đỏng đảnh bất định này lại là chút muối mặn mà làm cho công việc tự học của chúng ta không bao giờ nhàm chán.

Trong số rất nhiều định nghĩa về con người hiện đại, có một định nghĩa đơn giản như sau: Đó là con người biết làm ra chính mình.

Theo tiêu chuẩn này mà xét, thì người biết tự học luôn luôn là con người hiện đại./.

Nguồn: viet-studies.info

8 tháng 2, 2009

"Ba Xuân - Hai Chung": 30 năm, một mô hình


HOCMOINGAY. Hai người có ảnh hưởng lớn đến hạt gạo ở đồng bằng sông Cửu Long là ông Ba Xuân và ông Hai Chung đã gặp lại nhau ở vùng lúa An Giang trong một ngày hết sức ý nghĩa... (GS Võ Tòng Xuân và ông Hai Chung - Ảnh: Phượng Trúc)Ông Ba Xuân là nhà khoa học cả đời gắn với cây lúa - người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thường gọi tên thân mật là chú Ba, chính là Giáo sư - Tiến sĩ Võ Tòng Xuân - Hiệu trưởng trường ĐH An Giang từ năm 2000 - 2008. Ông Võ Văn Chung (Hai Chung) năm nay 79 tuổi là một nông dân giỏi của tỉnh Tiền Giang gắn bó với nhà nông học thua mình 10 tuổi từ 30 năm trước, đặc biệt là trong thời điểm dịch rầy nâu đốt rụi các đồng lúa của ĐBSCL .

Đóng cửa trường, đi cứu lúa

Tôi mong có sự kết hợp mạnh mẽ hơn nữa của "4 nhà" (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, Nhà nước) để nhà nông VN giàu có hơn nữa, xứng đáng với công sức mà họ đã đổ ra trên đồng ruộng. GS-TS Võ Tòng Xuân

Ông Ba Xuân nhắc lại thời điểm 1977 - 1978. Lúc đó, chính ông đã đề nghị với lãnh đạo trường ĐH Cần Thơ cho đóng cửa trường để huy động sinh viên (SV) ra đồng cứu lúa. Không chỉ SV khoa Nông nghiệp, mà hơn 2.000 SV các khoa khác đều tham gia các buổi tập huấn cách làm nương mạ, chuẩn bị đất cấy lúa... để tỏa đi khắp ĐBSCL, chỗ nào có rầy nâu là "nhảy" vào. Những SV tham gia chiến dịch lúc đó kể lại: "Mới ban đầu, nhiều nông dân quen cấy lúa cả nhúm còn dè bỉu khi thấy chúng tôi cấy từng gié. Nhưng, sau 1 tuần thì lúa thí nghiệm của SV bắt đầu xanh, 2 tuần thì nở bụi, nông dân mới tin". Kết quả này sau đó được nhân lên nhanh chóng, sau 1 vụ thì lúa giống mới kín hết ĐBSCL, không còn rầy nâu nữa. Nhiều chuyên gia trồng lúa trên thế giới khi biết chuyện này rất nể tinh thần của các bạn trẻ VN!

Vựa lúa miền Tây của Tổ quốc thời điểm đó đã xuất hiện hàng loạt nông dân rất giỏi về trồng lúa như: ông Hai Hữu ở Long An; "Ngũ vương" Tiền Giang: Hai Lạc, Bảy Nhỏ, Tư Tải, Lý Hòa Chương, Hai Chung; các ông Hai Triểm, Hai Cũng (An Giang)... Trong từng giai đoạn, chính các ông cùng các nhà khoa học nông nghiệp đã kết hợp tốt để đưa ra nhiều biện pháp cứu nông dân thoát khỏi cảnh mất mùa, ổn định cuộc sống.


Giảng đường gắn với đồng ruộng

Ông Hai Chung (trái) vui mừng với giống lúa kháng rầy MTL 500 thí nghiệm thành công

Đến nay, vì lớn tuổi hoặc do hoàn cảnh riêng, hầu hết những nông dân giỏi nêu trên đều phải rời bỏ công việc mình đam mê. Sau 30 năm, có thể nói hai người vẫn còn gắn bó mật thiết với ruộng đồng chính là ông Ba Xuân và ông Hai Chung.

Chiến dịch chống rầy nâu năm 1978 đạt hiệu quả cao có sự đóng góp lớn của đội ngũ nông dân giỏi ở nhiều địa phương, thuyết phục được bà con nông dân ủng hộ trồng lúa giống mới kháng rầy, chặn đứng ngay tai họa sắp đổ sụp xuống họ. Ông Hai Chung nhớ lại: "Sau một buổi sinh hoạt với SV ở trường ĐH Cần Thơ, tôi có ngỏ ý xin nhà trường một ít lúa giống IR.36 kháng rầy để trồng thí nghiệm. Do trường đã phân phát hết cho các tỉnh nên tôi chỉ nhận được một bao thư, trong đó có 8 hạt lúa giống. Tôi gieo những hạt quý giá ấy trong chậu ngay trước nhà, cẩn thận đậy giỏ tre để phòng gà bươi móc. Sau gần 20 ngày, 7 cây lúa lên tốt (vì có 1 hạt bị lép). Cứ thế nhân ra, sau 3 năm, tôi có đến 60 tấn lúa giống kháng rầy để hỗ trợ nông dân".

Cũng từ đề nghị của Giáo sư Võ Tòng Xuân, từ năm học 1981 -1982, trường ĐH Cần Thơ đã mời ông Hai Chung và ông Lý Hòa Chương (ở Cái Bè, Tiền Giang) về truyền đạt kinh nghiệm thực tế cho SV về kỹ thuật trồng lúa. Giáo sư Xuân ví von: "Ông thầy bói đọc nhiều sách về chỉ tay, nhưng cụ thể trên bàn tay thế nào thì phải "coi" nhiều, tiếp tục liên hệ lại với sách vở mới dễ đoán trúng". Vì vậy, ông thực hiện song song hai hình thức học: bên cạnh việc đưa nông dân giỏi về giảng đường ĐH để trình bày kinh nghiệm, trường chú trọng việc đưa SV đến nơi nông dân đang sản xuất để cùng làm việc, lấy kinh nghiệm thực tế.

Trang trại của ông Hai Chung là một điểm ưu tiên được chọn lựa vì ông Hai là một người rất thích thí nghiệm các giống mới. Những kỹ sư nông nghiệp tương lai đến thực tập tại đây (từ 4 đến 5 tháng) được ông Hai dựng nhà cho ở, được nuôi ăn, được chỉ bảo những kỹ thuật cơ bản và cả mánh lới trong nghề.

Từng đến thực tập ở nơi này thời còn là SV, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tiền Giang Nguyễn Văn Khang tâm đắc: "Chúng tôi học lý thuyết nhiều nhưng ít thực hành, được chú Hai chỉ vẽ từng li từng tí, thật là quý. Tôi nhớ có lần thực tập cấy thí nghiệm, chú Hai tước mạ rất nhanh và cấy biểu diễn, ai cũng bái phục!".


Nông dân An Giang hướng dẫn sinh viên cách trồng cây quýt tiều - Ảnh: P.D.T

Mô hình "Ba Xuân - Hai Chung" tiếp tục lan tỏa qua các trường khác. Cách đây 5 năm, việc thu hoạch lúa ở An Giang bị thất thoát nhiều, thạc sĩ Nguyễn Văn Minh (Trưởng bộ môn Trồng trọt, khoa Nông nghiệp trường ĐH An Giang) liền đưa hơn 100 SV năm thứ 2 đến thẳng xã Tà Đảnh (huyện Tri Tôn) để khảo sát. Bằng tinh thần "làm mọi việc như một nông dân thực sự, với cái nhìn khoa học" của các SV, nông dân được hướng dẫn và sau đó thích sử dụng máy sấy, dần dần chung vốn sắm được máy gặt đập liên hợp. Việc thất thoát lúa nặng nề trước đây không còn!

Tài nguyên lớn, nông dân phải được giàu

Trong dịp về thăm trang trại của ông Hai Chung ở xã Lương Hòa Lạc (Chợ Gạo, Tiền Giang) mới đây, tôi mới cảm nhận được niềm đam mê đi tìm những giống mới năng suất cao của ông. Trước tình hình rầy nâu mới xuất hiện gây ra bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên cây lúa, ông vẫn liên hệ thường xuyên với trường ĐH Cần Thơ xin các loại giống mới để trồng thí nghiệm. Ông dẫn tôi ra đồng và giới thiệu giống lúa MTL 500 đã được nhiều nông dân tham gia trồng thí nghiệm đạt kết quả rất tốt, không bị rầy phá hoại.

Nông dân huyện Thoại Sơn (An Giang) hướng dẫn kỹ thuật trồng lúa kháng rầy cho sinh viên

Không chỉ với lúa giống, heo giống..., ông còn dành thời gian để ươm cây dừa kem lấy giống từ Trà Vinh. Ông Hai nói: "Đây là giống dừa rất quý vì ăn như kem, hiện đang được bán ra với giá 100.000 đồng/trái, khác với dừa thường chỉ 5.000 đồng/trái. Từ đầu năm 2009, tôi sẽ trồng thử nghiệm giống dừa đó trên vùng đất này". Nhiều sáng kiến và kinh nghiệm như thế nhưng ông vẫn không ngừng học hỏi các nhà khoa học. "Nông dân có những kinh nghiệm cũ, cứ theo đó mà làm thì thế nào cũng trật. Cứ làm tự phát, không nghe theo lời khuyên của các nhà khoa học, cán bộ khuyến nông để né rầy và các dịch bệnh thì sẽ rất nguy hiểm", ông khẳng định.

Ông Hai Chung chăm sóc cây giống dừa kem - Ảnh: N.Q

Còn với Anh hùng lao động, GS-TS Võ Tòng Xuân, dù đã nghỉ hưu nhưng ông vẫn tiếp tục giảng dạy và đảm nhiệm công việc cố vấn cho Ban giám hiệu trường ĐH An Giang. Ông cũng được mời làm Chủ tịch Hội đồng xét tuyển học bổng tài năng của Quỹ Đào tạo Nhân tài nước Việt mà nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình làm Chủ tịch danh dự. Không chỉ đóng góp cho nước nhà, ông còn là nhà nông học có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Cuối tháng 11.2008, chính ông là người đầu tiên được Ban tổ chức giải thưởng UMALI chọn trao giải thưởng dành cho cá nhân điển hình đã đóng góp vào sự tiến bộ của khu vực Đông Nam Á trên lĩnh vực phát triển nông nghiệp.

Đi nhiều nơi, ông luôn trăn trở về nông dân nước mình: "Nhật Bản, Singapore ít tài nguyên thiên nhiên, nhưng chủ những tài nguyên này là chủ giàu. Tại sao chúng ta có nhiều tài nguyên mà chủ những tài nguyên này là nông dân thì vẫn chưa giàu? Tôi mong có sự kết hợp mạnh mẽ hơn nữa của "4 nhà" (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, Nhà nước) để nhà nông VN giàu có hơn nữa, xứng đáng với công sức mà họ đã đổ ra trên đồng ruộng".

Còn những người hết lòng với cây lúa như ông Ba Xuân và ông Hai Chung, nông dân VN vẫn còn hy vọng!

Diễn đàn của hội liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam (07/02/2009)
Giống Cây trồng - Võ Quang Sáu đã đăng lại và gửi tin.

Người theo dõi