Lưu trữ Blog

19 tháng 6, 2017

Lời vàng bài học cuộc sống



HỌC MỖI NGÀY. Bảy bài học cuộc sống. Học cách mặt trời tỏa sáng.  Nước chảy đá mòn.Tôn trọng người khác.Tận nhân lực tri thiên mệnh. Đừng lo lắng vô ích. Đừng sợ hãi hãy tiến tới. Phúc hậu an nhiên kho báu chính mình. Hoàng Kim tuyển chọn tinh hoa cổ ngữ phương Đông.
xem tiếp  Bài học cuộc sống; Đối thoại với Thiền sư.

Video yêu thích

Trở về đầu trang
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook


12 tháng 6, 2017

Những trang viết rất cần đọc lại

HỌC MỖI NGÀY. Những trang viết rất cần đọc lại. Tòa nhà Quốc hội Việt Nam trên Đường Độc Lập, quận Ba Đình, Hà Nội (ảnh Tia Sáng). Nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính (Báo Tia Sáng 11/6/2017, Nguyễn Sĩ Dũng). Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định. (Báo Tia Sáng 8/6/2017, Nguyễn Minh Nhị); Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Khuyến nghị chính sách (Báo Tia Sáng 25/05/2017, Trần Đức Viên); Dưới đáy đại dương là Ngọc (Tình yêu cuộc sống 12/6/2017, Hoàng Kim).


NHẤT THỂ HÓA THEO MÔ HÌNH TỔNG THỐNG LƯỠNG TÍNH

Báo Tia Sáng 11/06/2017 09:00
- Nguyễn Sĩ Dũng


Nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính về cơ bản cũng giống như nhất thể hóa theo mô hình đại nghị. Điểm khác cơ bản nhất ở đây là Đại hội Đảng không bầu ra người đứng đầu Đảng để dẫn dắt cuộc bầu cử vào Quốc hội, mà bầu ra người đứng đầu Đảng để ứng cử vào chức danh Tổng thống (hay theo truyền thống của nước ta, gọi là Chủ tịch nước cũng được). Ứng cử viên được lựa chọn thông thường phải là người đã chủ trì trong việc hoạch định đường lối của Đảng cho nhiệm kỳ 5 năm tới và sẽ là người căn cứ vào đường lối đó mà vận động bầu cử cho mình.

Tổng thống trong mô hình tổng thống lưỡng tính do toàn dân bầu ra nên độc lập với Quốc hội và không chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Với một chế định mang tính chất như vậy, nếu chúng ta lựa chọn mô hình này để nhất thể hóa, thì việc sửa đổi Hiến pháp là một nhu cầu bắt buộc. Ngoài ra, việc sửa đổi Hiến pháp còn rất cần thiết để bổ sung thêm quyền lực hành pháp cho Tổng thống, vì trong mô hình tổng thống lưỡng tính, quyền hành pháp nằm phần lớn trong tay Tổng thống.

Điểm đặc trưng nhất của mô hình tổng thống lưỡng tính là ngoài Tổng thống nắm quyền hành pháp ra, còn có một yếu nhân khác cũng nắm quyền hành pháp là Thủ tướng. Phân chia quyền lực giữa Tổng thống và Thủ tướng là một nhu cầu tất yếu của mô hình này. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, không có một khuôn mẫu cố định nào cho việc phân chia quyền lực giữa hai yếu nhân nói trên cả. Ở những nước khác nhau, việc phân chia quyền lực là rất khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, quyền lực trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và những lĩnh vực chính sách kinh tế lớn thường thuộc về Tổng thống. Việc điều hành nền kinh tế hằng ngày thường thuộc về Thủ tướng. Thủ tướng đồng thời cũng là người đứng đầu Nội các và điều hành công việc hằng ngày của Nội các.

Nếu Tổng thống do dân bầu trực tiếp, thì Thủ tướng sẽ được lựa chọn trong số các vị đại biểu Quốc hội. Quyền lựa chọn Thủ tướng để trình ra Quốc hội phê chuẩn thuộc về Tổng thống. Tuy nhiên, trong mô hình đa đảng, nhiều khi Tổng thống phải lựa chọn người của đảng đối lập nhưng có đa số trong Quốc hội để giới thiệu làm Thủ tướng. Lý do là vì nếu đảng của Tổng thống không có đa số ở trong Quốc hội, thì có giới thiệu người của đảng mình cũng vô ích. Một ứng cử viên Thủ tướng như vậy chắc chắn sẽ không được Quốc hội phê chuẩn. Trong tình cảnh này, việc triển khai chính sách của Tổng thống sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Ở nước ta, với mô hình một đảng cầm quyền, Tổng thống có thể trao đổi thống nhất ý kiến với Đảng đoàn Quốc hội trước khi giới thiệu ứng cử viên giữ chức danh Thủ tướng. Khác với Tổng thống, Thủ tướng trong mô hình tổng thống lưỡng tính sẽ phải tương tác thường xuyên với Quốc hội, giải trình chính sách với Quốc hội và bị Quốc hội giám sát.

Trong mô hình tổng thống lưỡng tính, ban lãnh đạo của Đảng sẽ gồm Tổng thống, Thủ tướng, các thành viên nội các và các thành viên Đảng đoàn Quốc hội (tất cả các đảng viên trúng cử làm đại biểu Quốc hội). Nếu trong mô hình đại nghị, nhà lãnh đạo đứng đầu Đảng là Thủ tướng, thì trong mô hình tổng thống lưỡng tính, nhà lãnh đạo đứng đầu Đảng là Tổng thống. Quy trình chính sách trong nội bộ Đảng sẽ được triển khai giữa Tổng thống, Nội các và Đảng đoàn. Khi đã có được sự nhất trí của ban lãnh đạo Đảng, Tổng thống có thể trực tiếp ban hành chính sách qua sắc lệnh hoặc Thủ tướng có thể trình chính sách ra Quốc hội thông qua thành luật. Với quy trình này, việc hoạch định chính sách trong Đảng và trong Nhà nước vẫn gắn kết chặt chẽ với nhau và không lặp lại nhau.

Cũng phải thừa nhận một thực tế là trong thế giới hiện đại, ở rất nhiều nước, khi một đảng đã lựa chọn người đứng đầu của mình làm ứng cử viên tổng thống, thì đồng thời cũng ủy quyền hoàn toàn cho người đó triển khai các chính sách của đảng. Việc phê chuẩn đường lối, chính sách chỉ đơn giản như sau: đảng lựa chọn ứng cử viên nào thì đồng thời phê chuẩn luôn chương trình tranh cử trong đảng của ứng cử viên đó. Điều này đúng không chỉ cho ứng cử viên vào chức danh tổng thống, mà còn đúng cả cho các ứng cử viên vào chức danh đại biểu Quốc hội. Việc nhiều nhất đảng có thể làm sau khi các ứng cử viên của mình trúng cử chỉ là cung cấp sự hỗ trợ về tư vấn chính sách cho những người này, chứ không quyết định chính sách trước và áp đặt cho họ. Đây là mô thức chúng ta cũng hoàn toàn có thể tiếp thu cho việc nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính và kể cả mô hình đại nghị.

NSD.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP: TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT
KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH.


Báo Tia Sáng 8/06/2017, Nguyễn Minh Nhị

Gần đây, có nhiều kiến nghị về chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Tôi cho rằng, không hoàn toàn như vậy. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác.


Tập đoàn Lộc Trời là đơn vị đã triển khai tiêu chuẩn Sản xuất lúa gạo bền vững (Sustainable Rice Platform-SRP) với các tiêu chí đảm bảo sức khỏe, an toàn thực phẩm, môi trường… cho tới các yếu tố bình đẳng như nữ quyền, quyền trẻ em. Nguồn ảnh: TBKTSG.Vài năm gần đây, những mô hình sản xuất lớn như “Cánh đồng (lúa) mẫu lớn” do tập đoàn Lộc Trời hợp tác với nông dân, làm lúa giống kết hợp trồng cỏ nuôi bò trên quy mô lớn của ông Sáu Đức, nuôi heo theo mô hình hiện đại của ông Huỳnh Chánh Huy ở An Giang… hay những chủ trang trại nuôi cá tra với sản lượng hàng ngàn, thậm chí cả vạn tấn/năm/hộ đang xuất hiện nhiều hơn. Các doanh nghiệp này có mô hình khép kín, tự cung cấp từ con giống, thức ăn, tự nuôi thương phẩm và được ưu đãi hoàn thuế VAT. Tuy nhiên, nhiều hộ sản xuất và cả các doanh nghiệp có qui mô lớn đó... lại đang rất “bí” đầu ra, đang chờ... khó khăn mới.

Hiện nay, hầu như không có doanh nghiệp nào kêu bí “hạn điền” cả. Mặc dù về lâu dài, cũng có tâm lý chưa an tâm về “quyền tài sản” đối với đất, nhưng trước mắt Điều 129 và 130 Luật đất đai 2013 đã cho phép sang nhượng, nhận quyền sử dụng đất cao hơn 10 lần hạn điền cũ, tức là tối đa 30 ha đất sản xuất cây hằng năm, 100 ha đất cây ăn quả và 300 ha đất trồng rừng. Thiết nghĩ, một hộ sản xuất lớn sở hữu quy mô chừng đó là cũng có phần quá sức so với thực tế; còn nếu muốn sản xuất ở quy mô lớn hơn thì các hộ sản xuất phải đăng ký thành doanh nghiệp, lúc đó thì đâu có hạn điền nào bó buộc. Vì vậy việc nông sản các nước ồ ạt vào Việt Nam, thị trường nông sản của Việt Nam ở các nước khác đang bị teo tóp hoặc bị mất chủ yếu do thiếu chữ tín, chất lượng hàng hóa không ổn định và thường là thấp kém… chứ không thể “đổ tội” cho hạn điền. Thậm chí, sản xuất lớn, đưa sản lượng tăng vọt mà sản phẩm chưa khẳng định được chỗ đứng trên thị trường mới càng khiến giá rơi thảm hại, người sản xuất lao đao. Bài học gạo, cá… và mới đây là chuối, heo cho thấy rõ điều này.

Theo tôi thì cái “bí” của sản xuất nông nghiệp vừa qua và hiện nay nằm ở tầm vĩ mô thuộc quản lý Nhà nước đã không bảo đảm các cân đối lớn chủ yếu về sản xuất – thị trường, sự an lòng của người dân về quyền tài sản đối với đất đai; và, về một nền giáo dục phổ thông lành mạnh – vì con người – do con người chưa được đáp ứng vv...

Trong bài trả lời phỏng vấn trên báo An Ninh điện tử ngày 10/5/2017, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PT Nông thôn Lê Huy Ngọ kể: Khi nông dân hỏi Bộ trưởng là nên nuôi trồng cây con gì thì ông trả lời: “Ra chợ hỏi”. Ông lấy ví dụ những chủ trang trại ở Mexico phải bỏ hoang hàng vạn ha đất vì chưa ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm dẫn chứng về việc là sản xuất phải xuất phát từ thị trường chớ không phải từ Nghị quyết, kế hoạch trong phòng họp. Tôi cũng có thông tin rất mới về “Tích tụ đất ở tỉnh Thái Bình” qua lá thư của ông bạn tôi (A) nhận ngày 12/5/2017 như sau:

“Kính gửi: Anh (A).

Tôi đang ở Thái bình (cũng là quê của Anh), tiếp xúc với người nhà và được biết tình hình chính quyền thuê đất của dân như sau:

1. Lựa chọn vùng bờ xôi ruộng mật, gần đường và đất tốt để quy hoạch mời doanh nghiệp vào. Vùng xa, đi lại khó khăn và đất xấu thì không quy hoạch và không thuê.

2. Đất được thuê với giá 140 kg thóc/sào /năm nhưng chi trả bằng giá thóc nhà nước tính thuế (470.000-480.000 đồng/tạ) trong khi giá thị trường là 800.000 đồng/tạ và chi trả từ hai đến năm năm một lần.

3. Trên 95% nông dân không đồng tình cho thuê đất vì các lý do sau: (1) giá thấp gần như chỉ bằng 50% giá thị trường, nên nông dân cho rằng sẽ không đủ tiền để mua thóc cho an ninh lương thực của gia đình; (2) đưa đất cho doanh nghiệp thì mình lấy gì làm kế sinh nhai, tiền sẽ tiêu hết nhưng đất vẫn có thể tạo ra thu nhập. Doanh nghiệp chỉ thuê lao động trẻ 18 – 35 tuổi trong khi trên 70% lao động đang làm việc ở quê là lao động già và không có doanh nghiệp nào thuê, hiện có một lực lượng lao động trên 35 tuổi đang bị “thải” về và quay trở lại làm nông nghiệp; (3) Mức thuê 140 kg thóc/ sào/ năm lúc này có vẻ hợp lý, nhưng 5-10 năm nữa có sự thay đổi về công nghệ thì mức đó sẽ bị thấp, (4) Diện tích thuê chỉ tính ruộng mà không tính bờ nên diện tích bờ sẽ được chính quyền tính riêng với doanh nghiệp.

Chỉ có khoảng 2-3% hộ đồng ý vì không làm ruộng và bỏ hoang vì nhiều lý do.

Vì thế ở quê tôi, xã Phúc thành, huyện Vũ thư thì dân không đồng ý.

Kính thư!
Giáo sư  Đ K C”


Vì vậy, làm nông nghiệp bây giờ là phải: chuyển từ số lượng - diện tích, năng suất, sản lượng sang chất lượng - ngon, bổ, sạch, đẹp, cung cấp ổn định; từ cao trào - phong trào dịu xuống còn bình thường và ổn định; tránh tình trạng “dư cung” trong sản xuất và phải biết tạo ra sự khác biệt. Khác biệt chính là sự hấp dẫn cho thị trường. Đó là quan điểm chỉ đạo nhưng chính quyền, đoàn thể không triển khai, tuyên truyền như xưa nay mà hãy để cho doanh nhân và nông dân làm việc cùng nhau. Chính quyền hãy trở về vai trọng tài và chế tài mà từ lâu quên lãng. Các đoàn thể chính trị trở về với công việc của hội đoàn của mình. Các cấp ủy Đảng với vai trò lãnh đạo kịp thời điều chỉnh, điều chuyển những cán bộ không thích hợp. Nếu cả hệ thống chính trị cùng quan tâm thì sẽ đi vào vết xe “huy động sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh phong trào sản xuất” như lâu nay.

Kiến nghị

- Không thay đổi hạn điền, giữ như Luật Đất đai năm 2013 (điều 129, 130) nhưng thời hạn sử dụng đất được giao nên thay đổi. Bởi vì, tại sao thời hạn chỉ là 50 năm? Điều này đã gây lo lắng, hoài nghi trong dân nhưng không ai nói ra. Đó cũng có thể là nguyên nhân sâu xa vì sao dân không mạnh dạn, hứng thú đầu tư vào nông nghiệp như chính phủ kỳ vọng! Đề nghị đất trong hạn điền không ghi thời hạn sử dụng, không thu thuế trực canh hoặc thuế cho thuê lại; không dùng khái niệm “thu hồi đất” mà dùng từ “mua lại”, “trưng mua”, “trưng dụng có thời hạn”, “trưng thu”… Hạn điền là “chiếc giày” do chế độ này đóng cho nông dân đó, đừng tháo nó ra!

- Nên có văn bản quy định rõ việc doanh nghiệp muốn sản xuất lớn ở quy mô nông trại, đồn điền với hàng ngàn ha, ngoài điều 129, 130 Luật Đất đai 2013 thì không hạn chế, doanh nghiệp chỉ cần lập dự án, có phương án và được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu thuê lại đất công thì ký trực tiếp với chính quyền thuê đất; nếu thuê/ mua lại của dân thì do doanh nghiệp và nông dân tự thỏa thuận, chính quyền chỉ làm trung gian, hòa giải. Nếu chính quyền thay doanh nghiệp thỏa thuận và ký với nông dân hoặc ngược lại là tạo sơ hở cho tham nhũng như cách làm nôn nóng vừa qua thì sẽ làm mất lòng dân, xã hội không ổn định. Cần chú ý nói rõ: Doanh nghiệp có dự án phải sản xuất, kinh doanh đúng mục đích của dự án, nếu chuyển mục đích dự án phải có điều kiện ràng buộc hoặc chế tài nghiêm khắc. Chống đầu cơ đất, “ghim đất” giữ giá, “phát canh thu tô” trá hình. Có quy định thuế lũy tiến với đất cho thuê vượt hạn điền (3ha, 10 ha, 30 ha… theo từng loại đất).

- Cần bổ sung quy định “đa sở hữu”, thừa nhận quyền tài sản cá nhân về đất nằm trong sở hữu toàn dân. Trong sở hữu toàn dân có phần sở hữu do chính quyền trực tiếp quản lý chứ không đồng nghĩa hai chủ thể (Toàn dân – Nhà nước với Chính quyền) là một. Có chế tài nghiêm trị bất cứ ai vi phạm quy định thu hồi đất trái luật như vừa qua.

- Mở rộng quy mô đất đai, thay đổi phương thức canh tác, thị trường... nhưng trên hết là cơ chế-thể chế quản lý kinh tế-xã hội phải đồng thời, đồng bộ. Nếu đất sản xuất rộng, thị trường hẹp ắt sẽ sinh phương thức phát canh thu tô, nếu mọi thứ đều ổn mà lòng người chưa yên thì sản xuất cũng không bền vững. Cần cảnh giác sự biến thái của thị trường đất do “nhóm lợi ích” chi phối, sinh ra tư bản hoang dã mà “nới hạn điền” cũng là một cơ hội lớn cho các nhóm lợi ích!

- Nhà nước “làm thị trường” theo kiểu nhà nước – bằng kinh tế đối ngoại, làm trọng tài và có chế tài luật pháp, đặc biệt là phải bảo vệ chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường, chống cạnh tranh không lành mạnh. Còn các đơn vị sản xuất kinh doanh phải “tự lực”, như doanh nhân tự phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu; tiểu thương biết bán lẻ đến từng hộ gia đình; nông dân phải biết sản xuất ra con gà, hạt gạo... sạch, ngon và tìm nơi bán... chứ không thể cứ kêu Nhà nước “cứu” như đã quen được bảo hộ trong thời bao cấp.

- Cuối cùng là niềm tin xã hội đang bị tổn thương, nếu không nói là bị mất quá nhiều với khẩu ngữ: “Nói vậy không phải vậy”,“Thấy vậy không phải vậy” đang phổ biến. Ta không tin thực phẩm ta sạch thì ai tin? Và làm sao cho ta tin ? Có lần PGS VTK thốt lên: “Sản phẩm nông nghiệp của ta bẩn như thế chỉ có bán cho Trung Quốc”. Nhưng nay thì ngược lại rồi, họ bán thực phẩm của họ mà dán nhãn Việt Nam, đúng là “quả báo một giây nhãn tiền”! Còn với cung cách làm ăn kiểu “ăn xổi ở thì” của ta thì khách hàng nào thành khách hàng “truyền thống” với ta?
--------
Tác giả nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang.

TỊCH TỤ RUỘNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CNC:
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Báo Tia Sáng 25/05/2017,
Trần Đức Viên

Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC một cách thiếu nghiên cứu, thiếu thận trọng có thể đẩy những người nông dân ra “bên lề” của công cuộc hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp. Vậy nhà nước nên có những chính sách gì để đảm bảo vai trò chủ thể của người nông dân? Sau kỳ I ; kỳ II phân tích toàn diện về tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC trong loạt bài “Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Đôi điều trăn trở”, mời bạn đọc đọc tiếp kỳ cuối “Khuyến nghị chính sách” của tác giả Trần Đức Viên.
Tích tụ ruộng đất ở quy mô lớn mới thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang trì trệ? Nguồn ảnh: TTXVN.
Tích tụ, tập trung đất đai

1. Thực tế cho thấy tình trạng nông nghiệp kém hiệu quả hiện nay ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó do diện tích canh tác nhỏ bé, phân tán nên cần phải tích tụ, tập trung đất đai là một trong những nguyên nhân, nhưng chưa hẳn đã là nguyên nhân mang tính quyết định. Người ta cho rằng, nguyên nhân chính của tình trạng kém hiệu quả hiện nay là do tổ chức nông dân (tổ chức sản xuất) và tổ chức thị trường còn có những yếu kém, thể hiện ở chỗ nông nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi toàn cầu ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, lao động giản đơn, thiếu sự hỗ trợ của công nghiệp, dịch vụ, chế biến, thiếu thương hiệu có uy tín, sản xuất không theo tín hiệu thị trường, không theo quy hoạch, sử dụng vật tư, giống chất lượng kém dẫn đến chất lượng nông sản thấp, năng lực cạnh tranh trên thị trường nông sản quốc tế yếu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn có những hạn chế dẫn đến tình trạng tàn phá tài nguyên [1], ô nhiễm môi trường ...

Vì vậy, để tái cơ cấu nông nghiệp hiệu quả, cần các giải pháp toàn diện, trong đó giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp[2] phải đi đôi với cải cách mạnh mẽ các điều kiện của sản xuất nông nghiệp như tổ chức tốt thị trường đầu vào, đầu ra, xây dựng và bảo vệ thương hiệu, tăng cường quản lý chất lượng nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng nông nghiệp, tôn trọng qui luật thị trường, để thị trường điều tiết qui mô sản xuất và công nghệ áp dụng với sự định hướng và hỗ trợ của nhà nước… người nông dân đồng thời là doanh nhân trên đồng ruộng của họ, Có như vậy thì nông nghiệp Việt Nam mới có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới.
2. Tích tụ ruộng đất phải tuân theo quy luật thị trường[3], đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các chủ thể (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp, ...). Quy luật thị trường sẽ tự nó phân phối nguồn lực đất đai (và các nguồn lực khác như vốn, lao động, và cả công nghệ tương thích nữa) một cách hiệu quả. Chính quyền chỉ nên làm vai trò xúc tác, trung gian hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và hộ nông dân trong quá trình thỏa thuận thuê, mua đất. Xu hướng chung là người nông dân không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tâm lý giữ đất vẫn phổ biến bất chấp nguồn thu nhập phi nông nghiệp được đảm bảo. Do đó, vai trò của thị trường thuê đất cần được chú ý để đảm bảo việc tiếp cận đất đai trong quá trình mở rộng sản xuất nông nghiệp. Mạnh dạn thay đổi chính sách, pháp luật nhằm khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Bỏ thời gian giao đất, nên xem xét giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng lâu dài như đất ở, qua đó tăng giá trị tài sản cho họ khi góp đất vào DN hay cho DN thuê đất.

3. DN có vai trò đầu tàu trong liên kết giúp người nông dân sản xuất theo chuỗi sản phẩm phù hợp với tín hiệu thị trường cả trong và ngoài nước. DN tích tụ ruộng đất nhưng không làm người nông dân mất kế sinh nhai, giúp người nông dân có cuộc sống tốt hơn khi làm nông nghiệp cùng DN. Lúc đó, nông dân mới có điều kiện tự nguyện nhượng cho DN quyền sử dụng đất hay cho thuê đất dài hạn. DN tự thương thảo với người nông dân theo cơ chế thị trường, tức là gặp nhau giữa “cung và cầu”, chính quyền chỉ đứng ra làm chứng, xác nhận để dân yên tâm hơn. Nhà nước chỉ nên là người tạo ra các “luật chơi” và thực hiện vai trò kiến tạo của mình, chứ không nên tham gia trực tiếp vào “cuộc chơi” kiểu như đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho DN thuê lại. Cần xem lại tư cách pháp nhân của chính quyền địa phương khi ký kết hợp đồng thuê đất và cho thuê đất giữa nông dân và DN.
4. Về kiến nghị bỏ hạn điền, cần suy xét cẩn trọng trong việc tích tụ ruộng đất quy mô lớn[4], nên chăng chỉ là nới hạn điền. Kiến nghị bỏ hạn điền  mang lại lợi ích không lớn, không chắc chắn, trong khi rủi ro tiềm ẩn lại khá cao. Hãy thử phân tích một số hệ quả và ích lợi mang lại.

Đã có một số DN tập trung được diện tích đất khá lớn nhưng kinh doanh không thành công, khi giao đất, chính quyền kỳ vọng từ các DN nông nghiệp là họ sẽ đầu tư lớn, đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, áp dụng giống mới, công nghệ mới, nhờ đó cung cấp khối lượng sản phẩm đạt quy mô xuất khẩu hiệu quả, đồng nhất về kích cỡ, chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn về thương nhãn, xuất xứ, thương hiệu… Nhưng, để xây dựng thương hiệu, cần một quá trình lâu dài. Quy mô lớn mà không có thương hiệu, không có thị phần ổn định thì rủi ro phá sản khi thị trường giảm giá càng lớn. Mà thị trường nông sản thế giới luôn hoạt động theo chu kỳ tăng, giảm khó đoán định, nhất là với DN Việt Nam, còn rất non trẻ, ít kinh nghiệm trên thương trường quốc tế. Ở khía cạnh này, DN kém “sức sống” hơn hộ gia đình. Bởi vì người nông dân kinh doanh ở quy mô hộ gia đình có khả năng “co giãn” nhu cầu, điều tiết cung cầu để thích ứng với rủi ro thị trường tốt hơn DN. Do đầu tư ít, họ ít chịu áp lực trả nợ ngân hàng; do không phân định rõ tiền lương và lợi nhuận nên hộ nông dân có thể duy trì sản xuất ở mức tiền lương tối thiểu, không có lợi nhuận. Vì thế, nông nghiệp nông hộ sẽ ít chịu hậu quả phá sản khi giá nông sản bước vào chu kỳ giảm so với DN nông nghiệp.
Các rủi ro đem lại tác động tiêu cực của việc bỏ hạn điền có thể là: (i) Sẽ có hiện tượng DN nỗ lực nhận quyền sử dụng đất để đầu cơ, bán lại dự án cho DN khác khiến ruộng đất bị bỏ hoang ở quy mô lớn trong thời gian dài, trong khi dân thiếu đất canh tác dẫn đến hiện tượng lấn chiếm trở lại như từng xảy ra trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ những năm qua; (ii) Người giàu có thể thành lập DN (trá hình) để mua đất nhằm tích trữ của cải một cách an toàn, tránh lạm phát và phá sản của ngân hàng. Do mục tiêu là tích trữ của cải nên họ không chú trọng đầu tư để phát triển nông nghiệp dẫn đến một số diện tích đất không được sử dụng hiệu quả, kích động lại chế độ phát canh thu tô ở quy mô nhỏ; (iii) Hiện tượng cho vay nặng lãi (hoạt động ngầm và thịnh hành ở nhiều nơi, không chỉ ở nông thôn) sẽ hỗ trợ cho những người giàu tích tụ đất đai không nhằm kinh doanh nông nghiệp, đồng thời xuất hiện trở lại nhiều hộ nghèo, vì hoàn cảnh khó khăn phải bán đất. Như vậy, quá trình tích tụ đất tự phát sẽ không còn bị ngăn cản bởi hạn điền (mặc dù hạn điền không thể ngăn chặn hoàn toàn quá trình tích tụ đất phi pháp, nhưng hạn chế động cơ tích tụ đất phi pháp do rủi ro lớn).

Như vậy, việc bỏ hạn điền không hứa hẹn một cách chắc chắn rằng có làn sóng đầu tư lớn của DN, tập đoàn lớn vào kinh doanh nông nghiệp, trong khi đó lại tiềm ẩn các tác động tiêu cực khá lớn. Vì vậy, vấn đề này, cần nghiên cứu thận trọng để nếu cần thiết thì mở rộng thêm hạn điền ở quy mô kinh doanh hiệu quả (nới hạn điền).
5. Nên có chính sách khuyến khích các DN, nhất là các DN có tiềm lực tài chính mạnh, đầu tư vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông sản và tổ chức thị trường nội địa và xuất khẩu (kết nối nông dân Việt Nam với thị trường toàn cầu) hơn là khuyến khích các DN tích tụ ruộng đất để sản xuất qui mô lớn theo mô hình phương Tây như hiện nay. Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVNNVN) đã có bài học về việc này khi tổ chức trồng dứa quy mô lớn ở Quảng Trị: (a) Ruộng đất vẫn của nông dân; (b) DN lo đầu vào (cung cấp giống chuẩn, vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chuẩn với giá bán buôn thấp nhất cho nông dân) và lo bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá cả đã được công bố công khai từ đầu vụ (trước khi trồng), nông dân mang nông sản đến các vị trí tập kết, xe tải của DN đến thu mua và trả tiền mặt cho nông dân tại các điểm tập kết gần ngay đồng ruộng của nông dân, khấu trừ tiền giống và vật tư DN đã ứng trước (không tính lãi); (c) HVNNVN cùng DN lo tập huấn (miễn phí) cho nông dân và cử cán bộ kĩ thuật cùng sinh viên thực tập tốt nghiệp chỉ đạo sản xuất trực tiếp; (d) Chính quyền địa phương làm trọng tài, đồng hành cùng nông dân và DN giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng phát sinh (nếu có), lo xác đinh các vị trí tập kết, lo tổ chức các nhóm hộ nông dân, Hợp tác xã (HTX) sản xuất theo yêu cầu kĩ thuật và công nghệ của DN và của HVNNVN, lo tu sửa đường xá, hệ thống cấp thoát nước phục vụ sản xuất và thu mua nông sản. Khi diện tích trồng dứa của tỉnh vượt quá 2.000hecta, DN sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến dứa tại chỗ, tỉnh có trách nhiệm tìm đất và tiến hành các thủ tục pháp lý giao đất cho DN xây dựng nhà máy. Như vậy là, DN không trực tiếp sản xuất ra nông sản, chỉ lo “đầu vào” và “đầu ra” của nông sản. Sản xuất trên đồng ruộng là việc của nông dân, tổ chức sản xuất là việc của chính quyền. Tất nhiên là, chính quyền, DN, HVNNVN luôn đồng hành cùng nhau vì lợi ích của DN và của người nông dân. Mô hình này cũng đang được triển khai thành công ở Tây Nguyên.
Với nông dân Việt Nam, trong điều kiện hiện nay, quy mô diện tích bao nhiêu là vừa? chưa ai nghiên cứu kĩ càng vấn đề này cho từng vùng miền, cho từng loại nông sản. Có người cho rằng đất trồng cây hàng năm khoảng 30 hecta, đất vườn trồng cây ăn trái khoảng 100 hecta, đất trồng rừng khoảng 300 hecta là phù hợp, là vừa sức với với trình độ quản lý và công nghệ hiện nay của hộ nông dân.

Nông nghiệp công nghệ cao
1. Cần có chính sách khuyến khích phát triển NNCNC quy mô lớn, tập trung, nhưng cũng phải quan tâm đúng mức, nếu chưa muốn nói là quan tâm hơn, đến sản xuất quy mô nông hộ[5], tổ/nhóm hộ nông dân, HTX. Xin nhắc lại là, sản xuất nông sản hàng hóa ứng dụng CNC quy mô nông hộ[6] rất thành công ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Hà Lan và thậm chí là ở ngay Hoa Kỳ, đất nước với những cánh đồng nhìn hút tầm mắt. Cần phân định rõ và tôn trọng cả hai hình thức: NNCNC và ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp. NNCNC hay ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp thì cũng phải hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, thân thiện với môi trường, tạo tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp.
Thận trọng trong việc nhập khẩu nguyên xi công nghệ tiên tiến "nhất thế giới" của các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh và quan hệ xã hội rộng. Điều đó đóng góp không đáng kể cho việc tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia, buộc chúng ta phải lệ thuộc vào công nghệ, giống, vật tư của nước ngoài. Cần cân nhắc được-mất giữa nhập khẩu lương thực, thực phẩm sang nhập khẩu giống, vật tư, công nghệ; chưa ai đo đếm xem “đắt, rẻ” thế nào giữa hai hình thức nhập khẩu này.
2. Nông dân vẫn phải là chủ thể của ruộng đồng, muốn vậy, bằng một cách nào đó, họ phải được tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình vận hành và hoạt động của các khu NNCNC, không thể để nông dân bị đẩy ra "bên lề" của công cuộc phát triển NNCNC. Việc các DN thâu tóm diện tích quy mô lớn (kiểu AgroHolding của Ukraina), đẩy nông dân ra khỏi đồng ruộng của họ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hậu họa khó lường trước, ví dụ khi DN bị thua lỗ, ai sẽ tạo sinh kế mới cho nông dân; và khi ấy DN có thể dùng con bài “nông dân” để mặc cả với chính quyền. Nhờ tham gia vào các hoạt động này, họ và con cháu họ học hỏi được kinh nghiệm quản lý và vận hành DN nông nghiệp, hiểu biết về các công nghệ phù hợp; từ đó hình thành tầng lớp nông dân mới, có tri thức, làm chủ công nghệ và biết quản lý, điều hành DN nông nghiệp, làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, xác lập vị thế mới của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
*** Những vấn đề trên cần có các nghiên cứu độc lập và tương đối toàn diện về tác động/hiệu quả của việc tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, NNCNC đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường nói chung, đến phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nói riêng, nhất là tác động đến sinh kế của người dân (ngắn hạn và dài hạn).
Có thể học tập mô hình "Ngân hàng đất nông nghiệp" với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển thế hệ các nông dân trẻ có tri thức như Pháp, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở đó, họ thành lập các công ty (ngân hàng) thu mua đất của nông dân theo giá thị trường, nếu như nông dân không có nhu cầu sử dụng đất để canh tác, và nông dân chỉ có thể mua bán đất hay gửi đất vào các ngân hàng đất này. Ai muốn sử dụng đất để canh tác (trồng trọt, chăn nuôi) thì phải có đề án khả thi, có bằng tốt nghiệp thấp nhất là Trung cấp nông nghiệp, sẽ được các Ngân hàng đất này cho thuê lại, và được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.
--------------
Chú thích
[1] Theo Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã đánh mất 43% lượng rừng che phủ từ năm 1973 đến năm 2009.
[2] Ông Sergut Zorya, chuyên gia về nông nghiệp của WorldBank nhận xét: “Bên cạnh những tác động khách quan ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng nông nghiệp như hạn hán, xâm nhập mặn… thì nông nghiệp Việt Nam đang đối diện với những thách thức nội tại như cơ chế chính sách đất đai, trình độ sản xuất và thương hiệu. Đã vậy, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Xuất khẩu tiếp tục khó khăn cả về lượng lẫn về giá. Gạo Thái Lan có thể bán với giá 800 USD/tấn trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 400 USD/tấn”.
[3] Theo một số ghi nhận, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động rất yếu, thậm chí có xu hướng giảm. Trong số đất nông nghiệp đã chuyển nhượng thì 29% chuyển nhượng trước 1994, 41% chuyển nhượng trong giai đoạn 1994 - 2003, 30% chuyển nhượng trong giai đoạn từ 2004 đến nay. Mặt khác, thị trường cho thuê đất còn kém hơn rất nhiều so với thị trường chuyển nhượng đất nông nghiệp.
[4] Có người cảnh giác: Chủ trương tích tụ ruộng đất có đi ngược lại mục đích của cuộc cải cách ruộng đất cách đây hơn 60 năm không? Nếu vậy thì mục tiêu cách mạng đã thay đổi? Đâu là cơ sở lý luận cho vấn đề này? Tích tụ ruộng rất có mâu thuẫn gì với mục tiêu của phát triển nông nghiệp bền vững (tăng trưởng kinh tế, cộng đồng thịnh vượng, bảo vệ môi trường)? Đặc biệt là với sinh kế của đại đa số nông dân trong điều kiện hiện nay khi công nghiệp và dich vụ chưa thể hấp thụ hết lao động dư thừa do “mất đất” ở nông thôn? Liệu cộng đồng nông thôn có thịnh vượng được không hay sẽ gây bất ổn về xã hội?
[5] Chính những hộ nông dân này (nông trại quy mô vừa và nhỏ) là những người đã làm nên kỳ tích của nông nghiệp VN thời gian qua, họ cũng cần được đối xử bình đẳng như DN. DN được thuê đất, mua đất, vay vốn để xây dựng NNCNC thì họ cũng có quyền được thuê đất, mua đất, vay vốn để ứng dụng CNC vào nông nghiệp. Nông dân với 1,5 hecta đất nông nghiệp nếu đem thể chấp ngân hàng chỉ được vay 200-300 triệu đồng, không bằng một chủ sở hữu một ngôi nhà 40m2 có thể thế chấp vay được 3-5 tỷ đồng! Cách làm này, vô hình trung đã hỗ trợ cho người giàu, làm gia tăng khoảng cách giàu-nghèo, gia tăng mâu thuẫn và các bất ổn xã hội.
[6] Trên thực tế, không ít nông hộ đã ứng dụng CNC vào sản xuất. Đa số các nông trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ của hộ nông dân đều nuôi lợn lai, hoặc lợn siêu nạc có giống gốc từ các "cường quốc" chăn nuôi châu Âu như Bỉ, Đan Mạch.., Bò giống từ Úc, Bỉ, Hà Lan... nuôi theo quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, giám sát thú y chặt chẽ, thức ăn chế biến sẵn theo quy chuẩn, v.v... Thế đã đủ để được gọi là CNC chưa?
-------------
Tài liệu tham khảo chính
1. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2013.
2. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hà Nội 2013.
3. Nông nghiệp Việt Nam đứng trước ngã ba đường, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-nghiep-viet-nam-dang-dung-truoc-nga-ba-duong-20161030064014869.htm.
4. Luật đất đai 2013, NXB Chính trị Quốc gia, 2013
5. Nguyễn Ðình Bồng (2013). Chính sách tích tụ ruộng đất nhìn từ thực tiễn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Cộng sản. 847 (5-2013). tr. 54-58
6. Nguyễn Cúc và Hoàng Văn Hoan (2010). Chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO. NXB Khoa học kỹ thuật. tr 98-209
7. Nguyễn Đình Bồng, Tạ Hữu Nghĩa (2010), “Phân tích, đánh giá vai trò quản lý Nhà nước tác động đến tích tụ ruộng đất”, Cục chính sách  hợp tác và phát triển nông thôn Bộ Nông nghiệp.
8. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
9. Tích tụ ruộng đất: Giải pháp thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, http://baoninhbinh.org.vn/tich-tu-ruong-dat-giai-phap-thyc-hien-tai-co-cau-nong-nghiep-2016121308363601p2c21.htm
10. Báo cáo số 13-BC/NN-NT ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Vụ Nông nghiệp-Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, 2016.
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016, Báo cáo về tình hình tích tụ, tập trung đất đai của một số địa phương thuộc khu vực phía Bắc, 2016
12. Dương Đình Tường, 2009. Nông nghiệp công nghệ cao: Nặng trình diễn, nhẹ hiệu quả, http://nongnghiep.vn/nong-nghiep-cong-nghe-cao-nang-trinh-dien-nhe-hieu-qua-post36762.html
13. Đỗ Kim Chung, Nguyễn Văn Song, Trần Đình Thao, Trần Hữu Cường, Nguyễn Việt Long, Trần Thanh Phương, Nguyễn Xuân Trạch, 2017. Tích tụ đất đai và hạn điền; Trao đổi cá nhân


DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC

Blog Tình yêu cuộc sống 12/6/2017,  Hoàng Kim

'Dưới đáy đại dương là Ngọc', 'Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi', 'Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn' là ba câu chuyện ám ảnh trong chuỗi bài 'Con đường lúa gạo Việt Nam'. Tôi mắc nợ câu chuyện này đã nhiều năm và chỉ neo đậu cái tựa đề với ít tên người để thỉnh thoảng nhớ lại. Kể về họ là sự chiêm nghiệm một đời. Chúng ta chắc vẫn còn nhớ câu chuyện “Hai cha con đều là anh hùng” và Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại.

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rữa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.


Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất”, “xây dựng nông trại điển hình”, và “lập quỹ trái phép”, của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Không chỉ vậy, những bài học tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam việc soát xét 10 năm, 40 năm, 90 năm, 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn vẫn chưa có những công trình xứng tầm để đánh giá thấu đáo và đúc kết những bài học phát triển. Bác Năm đã yên nghĩ, chị Ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẽ và phân tích đúng sai về cách “tích tụ ruộng đất”“lập quỷ trái phép” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.

Hôm nay, khi xem bài viết 'Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định'. của ông Nguyễn Minh Nhị nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang, đăng trên Báo Tia Sáng ngày 8 tháng 6 năm 2017 và bài  'Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Khuyến nghị chính sách' của giáo sư tiến sĩ Trần Đức Viên, chuyên gia chuyên ngành Sinh thái học Nông nghiệp, Sinh thái học Nhân văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nhiệm kỳ 2006-2016) đăng trên Báo Tia Sáng ngày 25 tháng 5 năm 2017, tôi lần đọc lại trang viết Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi cùng những trang viết nông nghiệp trăn trở của Thầy. Giáo sư Mai Văn Quyền là chuyên gia thâm canh lúa và nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững nay đã trên 82 tuổi vẫn miệt mài dạy và học nghề nông. Lòng tôi rưng rưng cảm xúc nhớ đến “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” và tự nhắc mình phải cố gắng, nhất định phải dành thời gian cho học và viết về nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Mỗi người chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong sự trường tồn và đi tới mãi của dân tộc nhưng tôi tin câu nói của Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.



Tôi đọc lại Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn và đồng tình với bài viết mới đây của ông về "niềm tin" và con đường sáng nông nghiệp. Tôi hoàn toàn đồng ý với luận điểm của ông: "Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác". Trong một hội thảo Quốc tế trao đổi về "Thành tựu và bài học sắn Việt Nam" tôi có nói đến bài học 6M đó là Mam Power (Con người), Market (Thị trường), Materials (Vật liệu mới, Công nghệ mới), Management (Quản lý, Chính sách) Methods (Phương pháp, Cách làm), Money (Tiền, Hậu cần, hậu phương)., Trong 6M thì yếu tố CON NGƯỜI phải là yếu tố quyết định. Ông Bảy là con người thực tiễn. Ông đã nghỉ hưu, nay viết hồi ký “Tôi đã qua”. Ông kể lại những mẫu chuyện thực của đời mình. Sách “TÔI ĐÃ QUA” gồm hai tập với 675 trang. Lối kể chuyện của ông là tôn trọng sự thật, bám sát thực tế và tâm huyết. Tôi háo hức đọc và chia sẻ đôi lời cảm nhận với bạn, để mong cùng bạn  từ trong chuyện đời thường  rút tỉa được đôi điều về bài học tình yêu cuộc sống. Tôi thấm thía lời ông Bảy: Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì? Cụ Đồ Chiểu có cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên rất hay: “Đồng rằng trong túi vắng hoe/ Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm” ! Con đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam thật vất vả và nhọc nhằn quá ! Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam sau khoán 10, sau nghị quyết 100, sau đổi mới, sau  liên kết nông nghiệp 10 năm, hiện nay là tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, … thực tế  đời sống người nông dân đã tăng lên bao nhiêu? tăng nhiều hay tăng  ít ? có ổn định bền vững không? đã thật sự công bằng chưa? Hỏi xem thu nhập thực tế của nông dân túi họ có bao nhiêu tiền thì biết. Làm gì để chất lượng cuộc sống nông thôn tốt hơn?

Ông Bảy làm Chủ tịch Tỉnh sau làm Bí thư tỉnh An Giang là một tỉnh nông nghiệp. Ông vất vả tổ chức cho tỉnh An Giang đi lên từ hột lúa và con cá. Ông đã có trãi nghiệm thực tế và thấm thía thật nhiều về "niềm tin" về sự liên kết nông nghiệp, đưa hiện đại hóa, công nghiệp hóa vào nông nghiệp, nông thôn’ Ông đã từng tìm tòi và trả giá cho những bứt phá đúng nhưng chưa gặp thời như chuyện “Hai dự án tranh cãi”. Dự án thứ nhất là trồng bắp thu trái non, trồng đậu nành rau và xây dựng nhà máy đông lạnh rau quả xuất khẩu. Dự án thứ hai là nhà máy tinh bột khoai mì. Hơn 20 năm sau nhìn lại, ông viết: “Hai dự án đầy tranh cãi mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương,… từng đến thăm mấy lần và khen ghê lắm. Dự án thứ nhất nay lãi hằng năm cũng vài tỷ rồi cả vài chục tỷ đồng; có việc làm ổn định cho gần một ngàn công nhân (không kể lao động ngoài nhà máy). Dự án thứ hai, dù cho nhà máy bán đi nhưng An Giang được 9.000 ha đất từ Kiên Giang được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cho, từ hoang hoá và phèn nặng trở thành đất sản xuất 2-3 vụ/năm, lập thêm hai xã mới với gần một vạn dân. Đây là mồ hôi và cả nước mắt của hàng vạn con người. Nhưng không có ai tranh cãi. Chỉ có tôi và những người không đổ mồ hôi mới tranh cãi mà thôi.” Ông vui buồn trăn trở mà nói vậy thôi. An Giang nay đã vươn lên đứng đầu toàn quốc về sản lượng và xuất khẩu lúa, cá nhưng con đường nhọc nhằn của nghề nông, của một kẻ sĩ tâm huyết, cánh cánh bên lòng câu hỏi: “Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì?”. Tìm được câu trả lời vẹn toàn. Khó lắm!

Ôn cũ ngẫm mới tôi nhớ Đào Duy Từ xựa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, ngay trong trước tác  cũng rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Ông đặc biệt chú trọng thực tiễn mà không theo lối khoa trương, hủ nho của người đương thời. Tôi kính trọng những người thực tiễn, tâm huyết , biết thao thức vận dụng học để làm trong  thực tế cụ thể của chính mình,  biến những điều học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân để làm được điều gì đó thiết thực cụ thể cho dân, cho nước, cho cộng động xã hội gia đình, và cho chính bản thân mình.

Ông Bảy Nhị mail cho tôi những trang hồi ký chỉ để đọc giữa một ít người trong gia đình và thân quen. Ông vui khi đọc bài viết Kênh ông Kiệt giữa lòng dân và nhận xét: “HK viết lúc mình đã nghĩ hưu nên cả HK cũng không bị ai hiểu là “tâng kẻ có chức”. Tôi thì ám ảnh bởi những điều mình chính đời mình mắt thấy tai nghe mà không lưu lại thì khó có thể trao truyền lại những bài học thực tiễn  cho người thân và các bạn trẻ nên tôi lựa chọn để kể.

Đọc lại và suy ngẫm. Dưới đáy đại dương là Ngọc.

Xem thêm

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Lương Định Của con đường lúa gạo
Những chân dung nghề nông phác thảo
Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa


Video yêu thích
KimYouTube

31 tháng 5, 2017

Thông điệp của Thủ tướng Việt Nam

HỌC MỖI NGÀY. Thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trên tờ Washington do báo Chính Phủ Việt Nam đăng tải ngày 30 tháng 5 năm 2017 là tin nổi bật nhiều người đọc (Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ảnh VGP):

"Trong hơn hai thập kỷ qua, tôi đã có cơ hội được nhiều lần đến đất nước Hoa Kỳ để học tập nghiên cứu, làm việc và tôi luôn cảm nhận được sự chào đón chân thành từ bạn bè Hoa Kỳ. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, trên cương vị là Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, tôi cùng các thành viên trong Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam vui mừng được gặp lại những người bạn cũ và làm quen với những người bạn mới, cùng chung một tâm huyết là ủng hộ nhiệt thành quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ, để cùng viết thêm một trang mới trong lịch sử quan hệ giữa hai dân tộc chúng ta.

Cách nhau một đại dương, nhưng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao hai mươi hai (22) năm trước đây không ngừng xích lại gần nhau hơn. Bằng sự can đảm vượt lên chính mình và tinh thần “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, chúng ta đã vượt qua biết bao cam go, khó khăn, thách thức để đưa quan hệ từ cựu thù, thành bạn và nay là Đối tác toàn diện với động lực phát triển quan hệ mạnh mẽ.

Xuất khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam trong 10 năm qua tăng 5 lần. Trong chuyến đi này, các doanh nghiệp hai bên sẽ ký các hợp đồng thương mại trị giá nhiều tỷ USD, sẽ tạo ra hàng chục nghìn việc làm tại Mỹ và tăng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam và của Việt Nam sang Hoa Kỳ, góp phần cải thiện đời sống cho rất nhiều người lao động ở hai nước.

Hai nền kinh tế Việt Nam và Hoa Kỳ hoàn toàn có tính bổ sung cho nhau và càng tăng cường hợp tác chúng ta có nhiều lợi ích. Việt Nam thường nhập khẩu từ Hoa Kỳ máy bay (Boeing), động cơ điện, thiết bị y tế công nghệ cao, dược phẩm, trong năm 2016, đã nhập gần 1,5 triệu tấn ngô, đỗ tương, lúa mỳ, 0,5 triệu tấn bông…, và ngược lại chúng tôi xuất khẩu sang Hoa Kỳ những mặt hàng tôm, cá tra, rau quả, đồ gỗ, hàng may mặc, giầy dép… mà người dân Hoa Kỳ ưa dùng. Giữa tháng 5/2017, Tập đoàn sữa lớn nhất Việt Nam - Vinamilk đã nhập 2.000 con bò sữa cao sản từ Hoa Kỳ và sẽ là 8.000 con trong năm nay để nhân rộng nguồn sữa chất lượng cao cho trẻ em Việt Nam.

Phòng thí nghiệm của Underwriter Laboratories giúp cho việc kiểm tra chất lượng hàng hóa Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế. Máy bay Boeing, Vệ tinh Lockheed Martin đang giúp hiện đại hóa một cách nhanh chóng ngành giao thông vận tải và viễn thông của Việt Nam. Tuốc-bin điện của GE đang giúp chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng của Việt Nam sang hướng ngày càng xanh, sạch.

Hơn 31.000 sinh viên Việt Nam hiện đang học tập tại Hoa Kỳ đã và sẽ là một nguồn lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, khoa học-công nghệ của Việt Nam, cho tương lai quan hệ hai nước. Đại học Fulbright Việt Nam và Chương trình Hòa bình (Peace Corps) sớm được triển khai tại Việt Nam không chỉ góp phần hỗ trợ các học sinh, sinh viên Việt Nam tiếp cận nền giáo dục hàng đầu thế giới và thông thạo tiếng Anh hơn nữa, mà còn những là minh chứng cụ thể về sự phát triển của quan hệ hai nước.

Ở Quảng Nam, quê hương thân yêu của tôi, nỗ lực để giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên của Cửa Đại, bảo tồn Phố cổ Hội An, di sản thế giới UNESCO, cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn bè Hoa Kỳ. Chúng tôi cảm ơn những chuyên gia, nhà nghiên cứu đến từ Đại học Harvard, bang Massachusetts, Đại học Portland, bang Oregon, Đại học Arizona, bang Arizona, và nhiều trung tâm đào tạo, nghiên cứu của Hoa Kỳ khác đã sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống bão, lụt, biến đổi khí hậu, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Những vết thương chiến tranh đang được hàn gắn bởi các hoạt động hợp tác tẩy độc chất dioxin ở các điểm phơi nhiễm và rà phá bom mìn chưa nổ. Sự giúp đỡ chân thành, không vụ lợi đó chính là những viên gạch chắc chắn để xây dựng sự hiểu biết, lòng tin, tạo nền tảng vững bền cho mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trường tồn trong nhiều thập kỷ tới.

Hơn 20 năm trước, nhiều người Hoa Kỳ biết tới Việt Nam như là một cuộc chiến tranh, nhưng giờ đây nhiều người Hoa Kỳ đã biết Việt Nam là quốc gia độc lập, có chính sách đối ngoại độc lập; một đối tác hết sức coi trọng quan hệ với Hoa Kỳ, nhất quán thúc đẩy quan hệ theo hướng ổn định, lâu dài, xây dựng và cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, thể chế chính trị của nhau, góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực và thế giới.

Chúng tôi mong muốn xây dựng quan hệ làm việc tốt với Chính quyền của Tổng thống Donald Trump không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, mà còn vì cả lợi ích của Cộng đồng ASEAN, của hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và thịnh vượng chung của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và thế giới. Tháng 11/2017, Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017 với chủ đề “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung”. Chúng tôi hoan nghênh việc Tổng thống Donald Trump sớm nhận lời tham gia Hội nghị quan trọng này và sẽ cùng Hoa Kỳ và các nền kinh tế thành viên khác xây dựng một chương trình nghị sự thiết thực, hiệu quả.

Với những bước tiến to lớn đạt được hơn 20 năm qua, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ 20 năm tới./."

Video yêu thích
KimYouTube

22 tháng 5, 2017

Cúi đầu một nét đẹp văn hóa


CÚI ĐẦU MỘT NÉT ĐẸP VĂN HÓA. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm tâm đắc "Cúi đầu nét văn minh cao thượng, hiệu quả giáo dục sâu sắc'. Thầy giới thiệu bài viết thật đáng suy ngẫm của An Hòa đăng trên Tri thức Việt Nam  Người biết “cúi đầu” mới có thể “ngẩng đầu” Biết cúi đầu là một trí tuệ. Học cách cúi đầu trước những sai lầm của mình. Học cách “cúi đầu” khi đối mặt với hiện thực trước mắt. Học cách “cúi đầu” trước những dục vọng của bản thân.  Biết “cúi đầu” là một loại trưởng thành. Cám ơn giáo sư Nguyễn Tử Siêm với lời phản biện ấn tượng giúp chúng ta khắc sâu 'Cúi đầu nét văn minh cao thượng hiệu quả giáo dục sâu sắc'. Cám ơn tác giả An Hòa với bài viết đặc biệt sâu sắc lắng đọng trong lòng người. Hình ảnh Tổng thống Mỹ Obama cúi đầu chào Nhật Hoàng là bài học lớn chưa hề cũ.  ẤN TƯỢNG OBAMA. Cúi đầu một nét đẹp văn hóa. (Hoàng Kim)

NGƯỜI BIẾT "CÚI ĐẦU" MỚI CÓ THỂ "NGẪNG ĐẦU"

An Hòa, báo Tri thức Việt Nam 3.3.2017
Trong xã hội từ xưa đến nay, phàm là những người có sự nghiệp thuận lợi nhất, thăng tiến nhanh nhất thông thường đều là những người hiểu được rằng làm người phải biết “cúi đầu”.
1. Biết “cúi đầu” là một loại trí tuệ

Một hôm có người hỏi ngài Socrates – triết gia Hy Lạp cổ đại: “Thưa ngài! Ngài là người có học vấn uyên thâm nhất thiên hạ, ngài có biết khoảng cách giữa Trời và Đất là bao nhiêu không?”
Socrates trả lời: “Ba pous”. (pous là đơn vị đo lường của Hy Lạp cổ, 1 pous = 0,3 m)
Người này tỏ vẻ nghi hoặc nói: “Thưa ngài, ngoài trẻ con ra thì con người chúng ta ai cũng cao 5, 6 pous, nếu khoảng cách giữa trời và đất chỉ có 3 pous, thì chẳng phải chúng ta đã đâm thủng bầu trời rồi hay sao?”
Socrates tiếp tục nói: “Đúng vậy, phàm là ai cao hơn ba thước, nếu muốn đứng được ở giữa trời và đất, thì phải biết cúi đầu xuống”.
Câu chuyện cổ xưa này nói cho chúng ta biết một đạo lý, “cúi đầu” chính là một cách ứng xử đúng mực, một cách nhìn xa trông rộng trong cuộc sống. Trong cuộc sống, ở vào một số tình huống chúng ta nhất định phải học được cách “cúi đầu”, khi ấy chúng ta sẽ phát hiện ra rằng tình thế đã được chuyển biến tốt đẹp ngoài tưởng tượng của bản thân mình.

Học cách “cúi đầu” trước những sai lầm của mình

Con người không phải Thánh nhân, nên ai mà không từng phạm sai lầm? Nhưng đã mắc lỗi thì nên cải sửa. Tuy nhiên, có nhiều người khi mắc lỗi lại khuyết thiếu can đảm “cúi đầu” thừa nhận sai lầm của bản thân mình.
Sai lầm do bản thân mình gây ra rất có thể sẽ làm thương tổn đến người khác. Chỉ có “cúi đầu” mới có thể bù đắp lại được. “Cúi đầu” không phải là khuất nhục, “cúi đầu” cũng không phải là thể hiện người thấp hèn, mà thể hiện rằng bản thân biết sai nên phải sửa. Đó cũng là cái giá phải trả cho tội lỗi của bản thân mình.
Can đảm “cúi đầu” trước sai lầm mình gây ra chính là thể hiện của sự thông minh và quyết đoán, là một loại cảnh giới và phẩm cách cao quý, cũng là một loại rộng lượng và thong dong. Có thể gập vào thì mới có thể duỗi ra, có thể lui mới có thể tiến, có thể nhu mới có thể cương.
Học cách “cúi đầu” khi đối mặt với hiện thực trước mắt
Giữa thực tại và mơ ước thường có một khoảng cách và sự chênh lệch rất lớn. Một số người khi bước vào trường học, vào cuộc sống hay nơi làm việc mới thường mang theo những nguyện vọng, mơ ước tốt đẹp, nhưng họ lại khó thích ứng được với những nội quy, quy định nghiêm khắc của nơi đó và dễ dàng đánh mất đi lý tưởng, khó có thể dung nhập được với môi trường này.
Lúc này, nếu chỉ một mực ngẩng cao đầu trông ngóng mà không hạ bỏ được cái “tư thế” của bản thân thì rất khó tìm cho mình một chỗ phù hợp, chuẩn xác. Trái lại, khi ấy, có thể cúi đầu xuống, tĩnh tâm lại, hạ thấp tư thế xuống, nhiệt tình làm việc thì sẽ rất nhanh có thể tìm được vinh quang cho mình.

Học cách “cúi đầu” trước những dục vọng của bản thân

Ham muốn, dục vọng và lòng tham của con người là vô hạn, không có chừng mực. Trong lòng người, không có cái gì là tốt nhất mà chỉ có cái tốt hơn và hơn nữa.
Có những người luôn thích kiễng chân lên, vươn cổ cao lên để vượt hơn người khác, nổi danh hơn người khác. Chứng kiến địa vị của bạn bè, đồng nghiệp đều thăng lên như “thang máy”, người này làm cục trưởng, người kia làm trưởng phòng… trong khi bản thân mình lại không là gì cả liền cảm thấy oán trách trời đất, xã hội bất công. Nhưng, chỉ cần cúi đầu xuống, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng những thứ mà bản thân mình có được là rất nhiều, chính là mải “ngẩng đầu” nên không nhận ra và trân trọng nó mà thôi!
Cuộc đời nhắc nhở chúng ta rằng: Rất nhiều người cả đời ngẩng đầu phấn đấu, cuối cùng nhìn lại mới nhận ra, thứ mà mình giành được rốt cuộc cũng chỉ là phù du, mây khói, là vật ngoài thân mà thôi.

2. Biết “cúi đầu” là một loại trưởng thành

Cách đây rất lâu, có một chàng thanh niên người Nauy đã vượt biển đến nước Pháp để ghi danh thi vào học viện âm nhạc Paris nổi tiếng.
Trong giờ thi, mặc dù anh ta đã cố gắng hết sức để thể hiện khả năng của mình với một trạng thái tốt nhất nhưng vẫn không được ban giám khảo tuyển chọn.
Chàng thanh niên không một đồng xu trong người, đi đến con phố phồn hoa cách học viện đó không xa, đứng dưới một thân cây, và tiếng vĩ cầm vang lên theo nhịp kéo của anh. Anh ta chơi hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, thu hút rất đông người dừng chân lắng nghe.
Chàng thanh niên đói khát cuối cùng nâng hộp đàn của mình lên, những người xem xung quanh xúm lại lấy tiền ra và bỏ vào hộp đàn.
Có một kẻ ngạo mạn khinh thường người thanh niên ấy và ném những đồng tiền xuống dưới chân của anh, không một ánh mắt thiện cảm.
Người thanh niên nhìn kẻ ngạo mạn rồi cúi người xuống nhặt những đồng tiền trên mặt đất lên, đưa cho người đó và nói: “Thưa ông, tiền của ông rơi xuống đất này!”
Người ngạo mạn cầm tiền rồi lại một lần nữa ném xuống dưới chân của người thanh niên và nói: “Tiền này đã là của cậu rồi, cậu phải nhận lấy chúng”.
Người thanh niên lại một lần nữa nhìn kẻ ngạo mạn rồi cúi người thật sâu xuống cám ơn kẻ ngạo mạn và nói: “Thưa ông, xin cảm ơn sự giúp đỡ của ông. Vừa rồi tiền của ông rơi xuống mặt đất, tôi đã cúi người xuống nhặt lên, bây giờ tiền của tôi rơi xuống mặt đất, xin phiền ông cũng nhặt lên giúp tôi!”
Kẻ ngạo mạn kinh ngạc trước hành vi của người thanh niên, nhưng cuối cùng trước mặt đông người cũng nhặt những đồng tiền trên mặt đất bỏ vào hộp đàn của người thanh niên, rồi bước đi với bộ mặt xám xịt, xấu hổ.
Những người vây xung quanh đều yên lặng dùng ánh mắt chăm chú mà theo dõi người thanh niên này. Kẻ ngạo mạn đó chính là vị giám khảo ban nãy. Cuối cùng vị giám khảo đó lại đưa chàng thanh niên về học tại học viện. Chàng thanh niên này tên là Bill Sardinia.
Trong cuộc sống có thời điểm mà chúng ta lâm vào ngưỡng thấp nhất của cuộc đời, có thể sẽ gặp phải một số sự khinh thường vô duyên vô cớ. Khi chúng ta ở vào giây phút khó khăn cùng cực nhất của cuộc sống, có thể gặp phải sự chà đạp nhân phẩm của người đời. Phản kháng lại một cách gay gắt là bản năng của của chúng ta, nhưng thông thường sẽ khiến cho hành động của những người thiếu hiểu biết, thiếu đạo đức đó càng thêm tệ hại hơn. Lúc ấy, chúng ta không dùng lý trí để phản kháng, mà dùng một loại tâm thái khoan dung độ lượng để đối đãi cũng có thể bảo vệ được danh dự của mình.
Khi đó, bạn sẽ phát hiện ra rằng, bất luận là người có dã tâm nào đi nữa, khi đứng trước chính nghĩa thì đều không cách nào trụ vững nổi. Đôi khi “cúi đầu” lại thể hiện được phẩm chất vô giá của một người! Biết “cúi đầu” mới là trưởng thành, biết “hạ mình” mới là cao thủ.

CÚI ĐẦU

Nét văn minh cao thượng
Hiệu quả giáo dục sâu sắc

GS. Nguyễn Tử Siêm  FB ngày 20.5.2017
Nhớ lại văn hào Lỗ Tấn viết: "Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ. Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu". (Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ. Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng). Cụ Hồ Chí Minh dịch, dẫn lại và nói ‘lực sĩ’ là kẻ cường quyền, ‘nhi đồng’ là nhân dân.
Cụ Nguyễn Văn Tố - Chủ tịch Quốc hội đầu tiên (hy sinh 7/10/1947 khi Pháp nhảy dù Bắc Cạn) - vốn là một trong Tứ kiệt “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn", từng làm chuyên gia Viễn Đông Bác Cổ, Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ. Danh giá làm vậy mà khi gặp người trẻ mấy Cụ vẫn cung kính “Thưa ông” suốt đời. Đúng là cử chỉ nói lên đức độ.
Thời nay, mấy ông “cán bộ” làm thuê, dân nuôi mà tinh tướng. Cái chức lẹt phẹt, mặt vênh như bánh tráng, rõ chán. Mấy ông chỉ đường cứ chĩa dùi cui vào mặt dân, thật thiếu lễ độ, quên bẵng câu cụ Hồ: “Với dân phải kính trọng lễ phép”. Trông người ngẫm đến ta mới phải than phiền vậy, mặc dù tôi kính trọng những người tử tế, vì dân, bảo vệ dân.
Trong công việc, khi gặp một Phó Thủ tướng, tôi nhiều tuổi hơn nên ông gọi ‘anh’ xưng ‘em’. Ở cái tuổi này, tôi chẳng dễ rung rinh, nhưng quả thật, một ý nghĩ cứ vương vấn trong đầu. Mị dân ?. Không. Chân tình !. Tôi đâm nể ở mức kính trọng và nghĩ giá như quan chức ta ai cũng nhớ dân mới là cha mẹ chứ không phải quan.
Nhật hoàng còn làm thế, sao ta lại không thể ?. Cái này nó khác hẳn với “Thân lươn bao quản lấm đầu”. Vậy thì ngại gì mà không cúi.

(NTS 20.5.2017).











5 tháng 4, 2017

Truyện Walt Disney

 TRUYỆN WALT DISNEY

Hoàng Kim

Cố gắng viết ngắn giàu thông tin. Học từ một bài viết ngắn. GÍA TRỊ TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Đứa bé trai đến gần một ông già có vẻ ngoài rất thông thái. Ngước nhìn ông, cậu bé nói:“Cháu biết ông là một người rất sáng suốt, uyên thâm. Ông hãy cho cháu biết giá trị tình yêu cuộc sống?"  Ông già nhìn đứa bé đáp:“Suốt đời mình ông đã suy ngẫm rất nhiều về điều này và có thể nói ngắn gọn chỉ trong bốn từ: Đầu tiên là SUY NGHĨ . Hãy nghĩ về những giá trị mà con sống vì chúng. Thứ hai là TỰ TIN . Hãy tin tưởng bản thân bằng cách dựa vào những giá trị con nghĩ rằng vì chúng mà con sẽ sống. Thứ ba là ƯỚC MƠ. Mơ ước những gì có thể thành hiện thực dựa vào sự tự tin và những giá trị mà ta sẽ theo đuổi trong cuộc sống. Và cuối cùng là DÁM LÀM. Hãy dám thực hiện để biến ước mơ thành sự thật bằng chính niềm tin và giá trị của chúng ta. Ông già đó chính là hoạ sĩ Walt Disney – Người bạn của trẻ em của thế giới. Bài viết ngắn giàu thông tin. Đọc lại và suy ngẫm,

Xem tiếp TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

6 tháng 2, 2017

Về với vùng văn hóa


VỀ VỚI VÙNG VĂN HÓA

Hoàng Kim

Nhớ Cụ Thái Kim Đỉnh

Trên bục giảng mùa xuân
Về với vùng văn hóa
Đến Đức Châu, Đức Thọ
Nhà Cụ Đỉnh ở đây.

Năm thế kỷ văn Nôm
Truyện dân gian xứ Nghệ
Truyện Kiều trong văn hóa …
Hà Tĩnh đất … Hồng Lam *


Xuân Diệu ngõ 12
Phường Bắc Hà, Hà Tĩnh
Đi bộ cùng quá khứ
Cụ vào miền dân gian

Sức viết trãi vạn trang
Tìm tòi rồi ghi chép
Đời hành giả chẳng hay
Thênh thang với tháng ngày


Trăm năm còn chín nữa
Trang viết vẫn chuyên tay
Lương ăn còn khoái miệng**
Sinh sinh sinh tử sinh ***

Cháu đã tới quê Cụ
Biết Thạch Bằng, Thạch Kim
Học Cụ qua trang sách
Hương Sơn đâu dễ tìm ?

Đất Mẹ vùng di sản
Đức Thọ qua Đèo Ngang
Ba Đồn tới Minh Lệ
Rào Nan và Nguồn Son

Người đi săn núi Hồng
An nhiên cùng năm tháng
Lưu lại ngọc cho đời
Phúc hậu cùng con cháu

Học Người thương chuyện cũ
Liễu Hạ Huệ Nguyễn Du ****
Nhớ Cụ Hoa của Đất
Thung dung giữa đời thường …

Tài liệu dẫn

ĐI BỘ CÙNG QUÁ KHỨ

Nguyễn Trọng Tạo

Tưởng nhớ anh Thái Kim Đỉnh

Không xe máy ô tô
Anh một đời đi bộ
Từ cổng tre ra phố
Chọn ngõ nhỏ làm quê

Đi bộ dọc vỉa hè
Đi bộ về xóm mạc
Đi bộ vào sử sách
Tim tứa máu bàn chân

Đi bộ dọc chiến tranh
Đi bộ lên nhiệm sở
Đi bộ cùng con chữ
Đi bộ cùng dân gian

Những cuốn sách xếp hàng
Có cuốn dày cuốn mỏng
Anh đã viết vạn trang
Vẫn chưa thôi khát vọng

Sự chết và sự sống
Anh trọn đời nâng niu
Tình yêu khi ngả chiều
Vẫn nồng nàn nắng ấm

Anh nhìn đời thầm lặng
Bọt bèo và phù sa *
Một câu hát phường vải
Cũng nặng lòng Nguyễn Du

Anh như kẻ chân tu
Giữa chợ đời vần vũ
Hán Nôm và Pháp ngữ
Đều tự học mà thành

Ai nhắc đến công danh
Anh chỉ cười khiêm tốn:
– Đỉnh lấy đời làm vốn
Vũ Hoàng thì làm thơ **.

Giờ trong cõi Hư Vô
Anh còn đi tìm chữ
Đi bộ cùng Quá Khứ
Bóng đổ về Tương Lai …

nguyentrongtaothaikimdinh

Nguyễn Trọng Tạo và Thái Kim Đỉnh (ảnh tư liệu Nguyễn Trọng Tạo)

thaikimdinhsach

* Sách tiêu biểu và di vật Thái Kim Đỉnh (ảnh tuyển chọn của Hoàng Kim)

Vũ Toàn, báo Tuổi Trẻ, ngày 4.2.2017 đưa tin Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh qua đời. TTO – Sau bảy ngày điều trị tại bệnh viện, sáng ngày 4-2, nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh qua đời ở tuổi 92 tại nhà riêng ở ngõ 12, đường Xuân Diệu, phường Bắc Hà, TP.Hà Tĩnh (Hà Tĩnh). Thái Kim Đỉnh quê xã Đức Châu, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sinh thời ông chỉ học đến Cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc nhưng cả cuộc đời ông gắn bó với công việc sưu tầm, sáng tác và đi điền dã tới nhiều miền quê, nhiều làng xã VN liên quan đến văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh. Người đọc biết đến ông và tôn vinh ông với những biệt danh như Pho sử sống về văn hóa dân gian; Cây cổ thụ làng nghiên cứu văn hóa dân gian; Kì nhân trong làng nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Nghệ; Người đi bộ 1/3 thế kỉ; Người đi đào vàng mười… Đến cuối đời, ông đã có 30 đầu sách riêng, 50 đầu sách chung. Tiêu biểu là những cuốn Từ điển tiếng Nghệ; 5 thế kỉ văn Nôm người Nghệ; Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ; Làng cổ Hà Tĩnh; Tiếng Kiều đồng vọng… Ông nguyên là cán bộ Ty văn hóa – Thông tin Hà Tĩnh; Phó hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh; Phó chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ – Tĩnh. Hội viên Hội văn nghệ dân gian VN, Hội khoa học lịch sử VN…



thaikimdinhdicaotho

** Thái Kim Đỉnh di cảo thơ (ảnh tư liệu của Thái Ngọc Hoàng Thương)

Thế là ta đã chạm hôm nay
Trời thả rông ta mãi đến rày
Bữa một lưng ăn còn khoái miệng
Ngày vài trang viết vẫn chuyên tay
Bài nhài bệnh quấy ngơ không biết
Rối rắm trời hành giả chẳng hay
Trăm tuổi, trăm năm còn chín nữa
Thênh thang tháng tháng với ngày ngày.

***
Thơ thiền Thích Nhất Hạnh


****
Vườn Quốc gia ở Việt Nam
Đất Mẹ vùng di sản
Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ HuệNguyễn Du 250 năm nhìn lại
Hoa của Đất


Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

5 tháng 2, 2017

Đi bộ cùng quá khứ


 ĐI BỘ CÙNG QUÁ KHỨ
                                                        
 Nguyễn Trọng Tạo


 Tưởng nhớ anh Thái Kim Đỉnh

Không xe máy ô tô
Anh một đời đi bộ
Từ cổng tre ra phố
Chọn ngõ nhỏ làm quê

Đi bộ dọc vỉa hè
Đi bộ về xóm mạc
Đi bộ vào sử sách
Tim tứa máu bàn chân

Đi bộ dọc chiến tranh
Đi bộ lên nhiệm sở
Đi bộ cùng con chữ
Đi bộ cùng dân gian

Những cuốn sách xếp hàng
Có cuốn dày cuốn mỏng
Anh đã viết vạn trang
Vẫn chưa thôi khát vọng

Sự chết và sự sống
Anh trọn đời nâng niu
Tình yêu khi ngả chiều
Vẫn nồng nàn nắng ấm

Anh nhìn đời thầm lặng
Bọt bèo và phù sa *
Một câu hát phường vải
Cũng nặng lòng Nguyễn Du

Anh như kẻ chân tu
Giữa chợ đời vần vũ
Hán Nôm và Pháp ngữ
Đều tự học mà thành

Ai nhắc đến công danh
Anh chỉ cười khiêm tốn:
- Đỉnh lấy đời làm vốn
Vũ Hoàng thì làm thơ **.

Giờ trong cõi Hư Vô
Anh còn đi tìm chữ
Đi bộ cùng Quá Khứ
Bóng đổ về Tương Lai …

Hà Nội, 5.2.2017

Nguyễn Trọng Tạo và Thái Kim Đỉnh
_______
(*) Thơ Thái Kim Đỉnh: Giữa mùa nước sóc tháng Ba/ Bọt bèo thì nổi, phù sa thì chìm.
(**) Vũ Hoàng là bút danh, tác giả tập thơ “Cỏ mật – Nhịp cầu”.

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Người theo dõi