Lưu trữ Blog

11 tháng 11, 2008

Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây


GS.TS. Phạm Duy Hiển

Mấy năm gần đây, công bố công trình khoa học trên tạp chí quốc tế ngày càng được quan tâm và chấp nhận như một tiêu chí đánh giá khách quan chất lượng nghiên cứu khoa học (NCKH). Bộ GD&ĐT tuyên bố sẽ phấn đấu đưa một trường đại học VN lọt vào top 200 thế giới, đồng nghĩa với việc ưu tiên thúc đẩy công bố quốc tế, xem đây là nhân tố bảo đảm chất lượng đào tạo đại học. Trong chương trình đào tạo hai vạn tiến sỹ, luận văn được yêu cầu phải kèm theo công bố quốc tế. Mới đây, Bộ trưởng còn tuyên bố thưởng 1000 USD cho mỗi bài báo quốc tế. Tuy vậy vẫn còn nhiều tiếng bàn ra khiến các cơ quan quản lý khoa học chuyển biến chậm, các đề tài R&D chưa lấy công bố quốc tế làm tiêu chí đánh giá khi xét duyệt và nghiệm thu như ở các nước khác.

Công bố quốc tế của VN được chia thành hai loại tùy theo tác giả đầu mối (coresponding author) trong nước hay nước ngoài. Loại thứ nhất, gọi là công bố quốc tế do nội lực, được trích dẫn ít hơn hẳn so với loại thứ hai. Bài báo do nội lực liên quan trực tiếp đến đầu vào và đầu ra trong NCKH, do đó có thể dùng làm cơ sở để đánh giá hiệu quả NCKH và giúp hình dung cấu trúc các ngành khoa học nước nhà hiện nay. Để biết khoa học và đại học VN đang ở đâu, dưới đây sẽ so sánh công bố quốc tế của một số trường đại học hàng đầu ở VN với Thái Lan.

Dẫn nhập
Dưới đây, công bố quốc tế chỉ bao gồm những bài báo, mà không kể đến các loại báo cáo khoa học khác. Bài báo trong ISI phần lớn bằng tiếng Anh, tra cứu theo hai phương án “English” và “All Languages” chỉ khác nhau chưa đầy 0,5% về số lượng.

Dựa trên cơ sở dữ liệu này có thể đưa ra bức tranh tổng thể về số lượng và tốc độ tăng trưởng công bố quốc tế của 11 nước và vùng lãnh thổ Đông Á từ 2002 đến 2007. Năng suất NCKH tính bằng số bài báo quốc tế trên một triệu dân được dùng để so sánh các nước về mặt số lượng. Về chất lượng có thể dựa trên số lần trích dẫn trung bình các bài báo công bố cách đây bốn năm (2004).

Năng suất NCKH – một tiêu chí đặc trưng cho phát triển
Bảng 1 cho ta hình dung khối lượng và tốc độ tăng trưởng công bố quốc tế của 11 nước và vùng lãnh thổ Đông Á trong hai năm 2002 và 2007. Trung Quốc, nước đông dân nhất, giữ ngôi đầu bảng, tiếp theo là Nhật Bản vừa đông dân (thứ ba trong khu vực), vừa tiên tiến. Cho nên để loại yếu tố dân số ra, ta nên xem mỗi nước có bao nhiêu công bố quốc tế trên một triệu dân, và gọi đó là năng suất NCKH.

Thật đáng ghi nhận khi gần đây, Bộ KH&CN đã mua quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu ISIKNOWKEDGE (http://db.vista.gov.vn/) để giới khoa học có thể cập nhật thông tin toàn diện về các công bố quốc tế trên toàn thế giới. Nơi đây tập hợp hơn một vạn tạp chí khoa học, từ tự nhiên, xã hội đến nhân văn-nghệ thuật, và bài báo (article) đăng trên những tạp chí này thường được xem như đủ “tiêu chuẩn quốc tế”.

Biểu diễn năng suất NCKH trên thang lô ga như hình 1 rất dễ thấy công bố quốc tế của các nước tăng đều hằng năm theo cấp số nhân. Việt Nam, Thái Lan và Malaysia tăng trưởng khá nhanh, 16% hàng năm. Tuy nhiên, số công trình Việt Nam vẫn luôn kém Thái Lan 6,5 lần, Malaysia 9,5 lần. Nghĩa là nếu không tăng tốc mạnh hơn nữa, đại học Việt Nam rất khó chen chân vào top 200 thế giới, nơi đây đã có mặt Đại học Chulalongkorn của Thái Lan theo cách xếp hạng năm 2005 và 2007 của The Times Higher Education (tuy nhiên, Chulalongkorn vẫn chưa lọt vào tốp 500 theo cách xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, chủ yếu dựa trên thành tích NCKH).

Bảng 1. Tổng số bài báo quốc tế và tốc độ tăng trưởng của 11 nước và vùng lãnh thổ Đông Á trong hai năm 2002 và 2007.



Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10/2008.

Điều “an ủi” là năng suất NCKH của Việt Nam vẫn cao gấp ba lần Indonesia và từ 2004 trở đi đã vượt Philip pines nước này chỉ giữ được tốc độ tăng trưởng hằng năm khoảng 3-4%. Trung Quốc tăng trưởng nhanh nhất, hơn 20%/năm. Họ đã vượt Thái Lan và sắp đuổi kịp Malaysia.

Singapore đứng đầu bảng trong khu vực, có năng suất NCKH cao hơn Malaysia, Thái Lan và Việt Nam gấp 20, 30 và 200 lần. Cứ một nghìn người Singapore có trên 01 bài báo quốc tế hằng năm. Tiếp sau Singapore là Nhật Bản và ba con rồng châu Á. Nhưng phát triển đến trình độ càng cao, tăng trưởng càng chậm, Hàn Quốc và Đài Loan: 11%/năm, Singapore: 10%/năm, Hong Kong: 7%/năm, Nhật Bản: 1%/năm.

Thoạt nhìn, có thể nghĩ rằng sự khác biệt về năng suất NCKH giữa các nước là do chênh lệch về mức sống. Có thực mới vực được đạo. Nhưng người Philippines và Indonesia thu nhập gấp đôi Việt Nam lại công bố ít hơn chúng ta từ 1,3 đến 3 lần. Phép phân tích tương quan cho thấy trong phạm vi Đông Á, năng suất NCKH có tương quan ít nhiều với bình quân GDP (R2 = 0,64), nhưng không mạnh bằng tương quan với chỉ số phát triển con người HDI của UNDP bao gồm cả những tiêu chí về giáo dục và tuổi thọ (R2 = 0.91, hình 2). Lại một lần nữa, phát triển kinh tế một chiều sẽ không đưa chúng ta đến những đỉnh cao khoa học, công nghệ và văn hóa

Hình 1. Năng suất NCKH thể hiện bằng số công bố quốc tế trên một triệu dân của các nước Đông Á. Độ dốc của những đường hồi quy trên đây cho ta ý niệm về tốc độ tăng trưởng năng suất NCKH.



Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10/2008, UNDP Human Development Reports.

Hình 2. Tương quan mạnh giữa năng suất NCKH với chỉ số phát triển con người ở các nước Đông Á.



Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10/2008, UNDP Human Development Reports.

Bức tranh NCKH ở Đông Á trên hình 1 khẳng định công bố quốc tế là mệnh lệnh từ sự phát triển, không thể tránh né bằng bất cứ lập luận nào. Ở mọi nước khác, người ta xem đây như một chuẩn mực đương nhiên trong NCKH, bảo đảm chất lượng đào tạo đại học và hiệu quả ứng dụng các hoạt động R&D trong thực tiễn.

Đánh giá chất lượng

Song bài báo quốc tế trong ISI cũng đủ loại. Trước hết, giá trị học thuật của bài báo thường căn cứ trên hệ số tác động của tạp chí mà tác giả gửi đăng. Hệ số này đo bằng số lần trích dẫn trung bình trong hai năm của tạp chí. Đây là thương hiệu của tạp chí, nên không dễ gì “ứng tiền” mua chuộc tòa soạn để được lãnh 1000 USD tiền thưởng, như một số người đàm tiếu khi nghe chủ trương này của Bộ GD&ĐT.

Thoạt nhìn, có thể nghĩ rằng sự khác biệt về năng suất NCKH giữa các nước là do chênh lệch về mức sống. Có thực mới vực được đạo. Nhưng người Philippines và Indonesia thu nhập gấp đôi Việt Nam lại công bố ít hơn chúng ta từ 1,3 đến 3 lần. Phép phân tích tương quan cho thấy trong phạm vi Đông Á, năng suất NCKH có tương quan ít nhiều với bình quân GDP (R2 = 0,64), nhưng không mạnh bằng tương quan với chỉ số phát triển con người HDI của UNDP bao gồm cả những tiêu chí về giáo dục và tuổi thọ (R2 = 0.91, hình 2). Lại một lần nữa, phát triển kinh tế một chiều sẽ không đưa chúng ta đến những đỉnh cao khoa học, công nghệ và văn hóa.

Trong mỗi tạp chí, số lần trích dẫn của từng bài cũng rất khác nhau, và nhiều người xem đây như một tiêu chí đánh giá chất lượng. Cách làm này thuận tiện vì có thể số hóa để đưa vào cơ sở dữ liệu. Song nó không tránh khỏi khiếm khuyết. Thí dụ, bài báo được trích dẫn 5 lần chưa chắc có chất lượng hơn 3 lần, nhất là khi so sánh hai chuyên ngành khoa học khác nhau. Bởi vậy dưới đây, chúng tôi chỉ xem số lần trích dẫn như một tiêu chí thống kê, trung bình, dùng để so sánh chất lượng NCKH ở những trung tâm nghiên cứu lớn, đa ngành, thí dụ trường đại học, hoặc các quốc gia (bảng 2).



Bảng 2, 3 so sánh thành tích một số đại học hàng đầu Việt Nam và Thái Lan theo thống kê năm 2004 và 2007. Hơn 95% công bố quốc tế của Thái Lan xuất phát từ trường đại học, trong khi ở Việt Nam tỷ lệ này chỉ có 55%. Ngoài hai Đại học Chulalongkorn và Mahidol (bảng 2, 3), Thái Lan còn có nhiều đại học khác như Chiang Mai, Khon Kaen, Prince Songkla, Thammasat, Viện Công nghệ châu Á v.v..., mỗi trường đều công bố vài trăm bài báo quốc tế hằng năm.



Số bài báo quốc tế của các trường đại học hàng đầu Việt Nam tăng lên khá nhanh trong vài năm gần đây, gấp đôi sau ba năm (2004-2007). Trong khi đó, Viện KHCN VN, cơ sở khoa học lớn nhất nước, chỉ tăng 18%. Tăng nhanh, song các đại học hàng đầu Việt Nam vẫn công bố ít hơn Đại học Chulalongkorn và Mahidol từ 13 đến 30 lần. Từng trường này còn công bố nhiều hơn tất cả các cơ sở NCKH Việt Nam cộng lại. Đại học Thái Lan cũng được trích dẫn nhiều hơn rõ rệt, trung bình 9,4-11 lần, so với 4,1-6,9 lần của Việt Nam.

Trên bảng 2 có một chi tiết đáng chú ý. Số lần trích dẫn trung bình của 5 cơ sở nghiên cứu hàng đầu Việt Nam (4,1 – 6,9) ít hơn cả nước (8,1). Nghĩa là các cơ sở nghiên cứu ít “tiếng tăm” hơn lại được trích dẫn nhiều gấp bội. Thí dụ, năm 2004 ngành y học Việt Nam công bố 82 công trình, và trung bình mỗi công trình được trích dẫn đến 13,7 lần. Đặc biệt, công trình về virus cúm gà H5N1 đăng trên Nature được trích dẫn 320 lần. Vậy phải chăng y học Việt Nam rất mạnh?

Thực ra, trong số 82 bài báo quốc tế về y học ấy chỉ có 7 bài do 4 người Việt Nam làm tác giả đầu mối. Số áp đảo còn lại đều do người nước ngoài làm tác giả đầu mối, đồng tác giả Việt Nam có lẽ chỉ đóng góp phần khiêm tốn.

Nội lực và hợp tác quốc tế trong NCKH

Nếu chia các bài báo quốc tế của Việt Nam và Thái Lan ra làm hai loại tùy theo người trong nước hay nước ngoài làm tác giả đầu mối, thì thấy ở Việt Nam loại thứ nhất chiếm 25% năm 2004, tăng lên 34% năm 2007. Loại thứ nhất có thể gọi là công bố quốc tế do nội lực, chẳng những ít hơn loại thứ hai (do hợp tác) về số lượng mà cả về chất lượng, bởi số lần trích dẫn ít hơn rõ rệt (phần bên phải bảng 2).

Nhìn sang hai đại học Thái Lan, tỷ lệ công trình do nội lực của họ cao hơn hẳn, 70% năm 2004 (bảng 2), tăng lên gần 80% năm 2007 (bảng 3). Các bài báo do nội lực của họ cũng được trích dẫn nhiều hơn ta trên hai lần.

Bảng 2. Thành tích công bố quốc tế của một số tổ chức R&D hàng đầu Việt Nam và Thái Lan năm 2004. Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/ cập nhật ngày 30/10 – 5/11/2008.

Khái niệm nội lực không nên hiểu một cách tuyệt đối, bởi trong từng trường hợp cụ thể rất khó lượng định rạch ròi phần đóng góp của tác giả trong nước và nước ngoài. Song phân biệt ra hai loại bài báo quốc tế - nội lực và hợp tác – theo tác giả đầu mối là một thực tế không thể tránh né. Có phân biệt như thế, ta mới khỏi ngộ nhận khi đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH căn cứ trên đầu vào (đầu tư, nhân lực, hạ tầng ...) và đầu ra (nhân lực được đào tạo, tác động đến kinh tế xã hội, công bố quốc tế ...). Tách ra phần nội lực không hề phủ nhận vai trò quan trọng của hợp tác quốc tế trong NCKH.

Cấu trúc các ngành khoa học

Để hình dung cấu trúc nền khoa học nước nhà, ta có thể phân loại 234 bài báo quốc tế do nội lực năm 2007 của Việt Nam theo các chuyên ngành khoa học. Kết quả ghi trên bảng 4. Nhìn sang Thái Lan, chỉ cần so với một trường ĐH Chulalongkorn công bố

Bảng 3. Thành tích công bố quốc tế của một số tổ chức R&D hàng đầu Việt Nam và Thái Lan năm 2007. Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10 – 5/11/2008.

569 bài báo do nội lực năm 2007 cũng đủ thấy công bố quốc tế của cả nước ta vừa quá ít, lại mất cân đối đến mức đáng lo ngại.

Tổng số công bố quốc tế của Việt Nam hiện nay chưa bằng một trường đại học Thái Lan, như Chulalongkorn hay Mahidol. Đã thế, gần 80% bài báo của Thái Lan do người Thái làm tác giả đầu mối, ta chỉ có 34%. Công bố quốc tế của Thái Lan gắn với đào tạo đại học (95% từ các trường đại học so với 55% của ta), với thực tiễn đời sống và sản xuất. Việt Nam cũng dồn sức đầu tư cho các đề tài ứng dụng thực tiễn, song đầu ra trên các diễn đàn khoa học quốc tế lại rất thưa thớt, thể hiện một sự khước từ có chủ định chuẩn mực quốc tế về chất lượng NCKH. Trước nghịch lý này có người muốn trấn an: ta có việc của ta, cách đi của ta!

Những ngành rất mạnh và gắn với đời sống của Thái lan như y học, hóa học, sinh hóa và nhiều ngành công nghệ, vật liệu lại chính là lĩnh vực rất ít thấy công bố từ Việt Nam. Chúng ta mạnh về toán học và vật lý (một nửa là vật lý lý thuyết), trong khi hai ngành này lại đứng cuối bảng ở ĐH Chulalongkorn và nhiều đại học khác ở Thái Lan.

Rất nhiều cơ sở NCKH “vừa có tiếng vừa có miếng” ở Việt Nam lại vắng bóng trên các tạp chí khoa học quốc tế. ĐHQG Hà Nội chỉ tập trung ở khoa Toán và Vật lý thuộc trường ĐHKH Tự nhiên. Ngoài ra mới đây có thêm trường Đại học Công nghệ. Trong số 19 bài do nội lực của ĐHQG TP. Hồ Chí Minh năm 2004, có 9 bài về Vật lý, 6 bài về Toán. Riêng Van Hoang V. làm tác giả đầu mối 6 bài về Vật lý. Một quang cảnh khá manh mún, tự phát, mất hút đầu tư từ ngân sách Nhà nước, không thấy dấu ấn nhạc trưởng lại thiếu hẳn một cơ chế điều hành tự nhiên nảy sinh trong quá trình phát triển.

Thay lời kết – Việt Nam và Thái Lan

Tổng số công bố quốc tế của Việt Nam hiện nay chưa bằng một trường đại học Thái Lan, như Chulalongkorn hay Mahidol. Đã thế, gần 80% bài báo của Thái Lan do người Thái làm tác giả đầu mối, ta chỉ có 34%. Công bố quốc tế của Thái Lan gắn với đào tạo đại học (95% từ các trường đại học so với 55% của ta), với thực tiễn đời sống và sản xuất. Việt Nam cũng dồn sức đầu tư cho các đề tài ứng dụng thực tiễn, song đầu ra trên các diễn đàn khoa học quốc tế lại rất thưa thớt, thể hiện một sự khước từ có chủ định chuẩn mực quốc tế về chất lượng NCKH. Trước nghịch lý này có người muốn trấn an: hãy yên chí, ta có việc của ta, cách đi của ta!

Đi đâu trong thế giới này? Đại học Việt Nam muốn theo đuổi để chen chân vào tốp 200 thế giới (xin nói, đây không phải việc riêng của hệ thống đại học!), mà trong đám này đã có mặt người láng giềng đang tiến rất nhanh lên phía trước. Có lẽ nên chấm dứt điệp khúc thành tích đang ru ngủ mọi người để còn bình tâm suy xét tại sao trên đường đua này, ta luôn cách xa người láng giềng đến thế! Cay cú lắm! Mà cay cú đâu phải là tật xấu!

Bảng 4. Công bố quốc tế do nội lực năm 2007 của Đại học Chulalongkorn và cả nước Việt Nam theo chuyên ngành khoa học được phân loại trong cơ sở dữ liệu ISI.
Nguồn: ISIKOWLEDGE (http://db.vista.gov.vn/) cập nhật ngày 30/10 – 5/11/2008.




Phạm Duy Hiển
Tia Sáng 10/11/2008

10 tháng 11, 2008

Hà Lội mùa này lắm những cơn mưa



Bạn hãy vào trang Hoai Van Blog
http://hoaivan.vnweblogs.com/ để tải file nhạc về nghe.


Nhạc sĩ: Trương Quý Hải
Tác giả lời "chuyển soạn": Bọ Lập & dân gian


Ca sĩ: Đinh Công Sáng

Hà Nội mùa này phố cũng như sông
Cái rét đầu đông, chân em run ngâm trong nước lạnh
Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố
Đường Cổ Ngư xưa, ngập tràn nước sông Hồng...

Hà Nội mùa này chiều không có nắng
Phố vắng nước lên thành con sông
Quán cóc nước dâng ngập qua mông
Hồ Tây, giờ không thấy bờ...




Hà Nội mùa này lòng bao đau đớn
Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay
Cho đến đêm qua lạnh đôi chân
Giờ đây, lạnh luôn toàn thân.


Hà Nội mùa này phố cũng như sông
Cái rét đầu đông, chân em thâm vì ngâm nước lạnh
Hoa sữa thôi rơi, em tôi bơi cả chiều trên phố
Đường Cổ Ngư xưa, ngập tràn nước sông Hồng...




Hà Nội mùa này người đi đơm cá
Phố vắng nước lên thành con sông
Quán cóc nước dâng ngập qua mông
Hồ Tây, tràn ra Mỹ Đình




Hà Nội mùa này lòng bao đau đớn
Ta nhớ đêm nao lạnh đôi tay
Cho đến đêm qua lạnh đôi chân
Giờ đây, lạnh luôn toàn thân

8 tháng 11, 2008

Thơ Khánh Nguyên



HOCMOINGAY. GS Mai Văn Quyền gửi hai bài thơ của Khánh Nguyên do GS Nguyễn Ngọc Kính chép tặng (GS Kính là con của nhà ngoại giao, nhà thơ Xuân Thủy)với lời nhắn: Gui Kim-Thuy va hai chau Nguyen-Long. Cam on Kim va Thuy da gui thu tham va ca bai hat hay. Thay Co di "Ha Loi" ve. Ha Noi da doi ten thanh Ha-Loi.Khong co gi lam qua, chi co hai bai tho minh tam dac nen gui cho Kim de giao luu cho vui. Xin chuc cac em moi su tot dep. Quyen.(Ảnh tư liệu: GS. Mai Văn Quyền thăm ruộng anh Hồ Sáu ở xã Tây Hòa, Trảng Bom, Đồng Nai, nơi các sinh viên Sáu, Linh, Thủy, Quyết, Hạnh, Liên đang làm đề tài. Ảnh chỉ để lưu niệm)






SUY NGẪM

“Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù”
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ trên là giỏi, cứ “xu” là cầm
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc, không trông là mù
Đừng tưởng cứ trọc là sư
Cứ vâng là tốt, cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng cứ giàu là sang
Cứ im lặng-là tưởng vàng đến ngay
Đừng tưởng uống rượu là say
Cứ hứa là thật, cứ tay là cầm
Đừng tưởng giặc ở ngoại xâm
Cứ bè là bạn, cứ dân là lành
Đừng tưởng cứ trời là xanh
Cứ đất và nước là thành quê hương.

LỜI ĐÁ

Vô cảm trái tim đá?
Sao gõ vào rung ngân
Người gọi vội đáp trả
Người đợi chờ hóa thân

Tôi già trong thác bạc
Tôi trẻ khi thành bi
Tôi chết khi đem tạc
Tôi sống khi thành bia

Đất đỡ mình- ngỡ bạn
Nước bào mòn- tưởng thù
Ngẫm nghĩ đến bây giờ
Nếp nhăn hằn vầng trán

VĂN NGHỆ, Số 13
29-3-2008

Đọc lại và suy ngẫm



HOCMOINGAY. Tôi chọn giữ lại hai bài báo: "Vì sao Brack Obama thắng?" của Richard Lister BBC News và "Một niềm tin trong các ước mơ đơn giản" (A Faith in Simple Dreams) của Tân Tổng thống Mỹ Barack Obamar để đọc lại và suy ngẫm. Đó là những tư tưởng lớn, bài học sinh động trong một nền chính trị lớn. Trang Obama Blog http://www.barackobama.com/index.php phản ảnh niềm tin và ước mơ của vị tổng thống trẻ. (Ảnh trên chép từ trang chính Obama Bog)

VÌ SAO BRACK OBAMA THẮNG?

Richard Lister
BBC News, Washington


Cách đây hai năm, Barack Obama chỉ là một chấm nhỏ trên màn hình radar chính trị của nước Mỹ. Thế nhưng, với một chiến dịch thông minh và có kỷ luật, một số lượng lớn tài chính và một bầu không khí chính trị tạo ra, vị thượng nghị sỹ trẻ tuổi từ tiểu bang Illinois đã chiếm lĩnh được vịtríquyền lực lớn nhất trên thế giới.

Cuộc vận động của ông Obama sẽ là một hình mẫu cho những ai muốn tìm kiếm sự thay thế ông trong tương lai.

Ngay cả các chiến lược gia đảng Cộng hoà cũng phải công nhận đây là một chiến dịch vận động với một cơ sở chuẩn bị hoàn hảo về mặt kỹ thuật.

Tiền bạc là một yếu tố then chốt. Ông Obama đã thừa nhận trong suốt cuộc vận động bầu cử sơ bộ là ông đã phát triển được một cơ sở quyên quỹ cực kỳ rộng lớn, mà ông luôn có thể tìm kiếm được sự tài trợ.

Do đó, ông đã từ chối không nhận tài trợ của liên bang dành cho chiến dịch vận động của mình, cũng như dành cho việc bù đắp các giới hạn tài chính khác.

Đội quân giúp đỡ

Với sự giúp đỡ của người sáng lập trang Facebook, Chris Hughes - người đã thiết kế một hệ thống gây quỹ mới - chiến dịch tranh cử của ông Obama cuối cùng đã thu hút được hơn ba triệu người ủng hộtài chính.

Những người này đã quyên góp được 650 triệu đôla, nhiều hơn cả hai đối thủ tranh cử tổng thống năm 2004 cộng lại.

Ngay cả các chiến lược gia đảng Cộng hoà cũng phải công nhận đây là một chiến dịch vận động với một cơ sở chuẩn bị hoàn hảo về mặt kỹ thuật.

Ông Obama đã có gấp bốn lần số văn phòng vận động so với ông McCain và sở hữu một đội quân đông đảo nhân viên và những người tình nguyện.

Các cơ sở này đã phát triển và khai thác được một cơ sở dữ liệu khổng lồ các thông tin về các nhà tài trợ và cử tri tiềm tàng ở mọi bang then chốt.

Mọi người vào trang mạng của Obama đều được mời đăng ký để cung cấp thêm thông tin. Và mỗi người đăng nhập như vậy đều được yêu cầu đóng góp hay tham gia tình nguyện.

Một khi đồng ý, họ nhận được nhiều cú gọi điện và các thông điệp đề nghị quyên thêm tiền hoặc cung cấp thêm sự giúp đỡ.

Chương trình gây quỹ với cơ sở vững vàng đó đã trang bị đủ lực cho ông Obama trong cuộc chiến truyền thông.

Truyền hình, vốn phủ sóng trên 3,5 triệu dặm vuông (tức khoảng 9 triệu km2) tới 300 triệu dân, gần như là huyết mạch của chiến dịch vận động và ông Obama đã không gặp phải bất cứ vấn đề gì để mua thời lượng phát sóng.

Chiến dịch siêu việt

Tại một số tiểu bang dao động (swing states) trong những tuần lễ vận động cuối, ông Obama đã vượt trội ông McCain với tỉ lệ 4/1. Chiên dịch vận động của ông đã tiến vào địa hạt internet, nhằm đưa các thông điệp quảng cáo tới các đối tượng trên mạng.

Thậm chí, người của ông Obama còn mua cả một không gian quảng cáo mà và xen vào địa hạt các trò chơi video. Ông Obama cũng đủ lực để vận động ở cả những khu vực luôn là thành luy của đảng Cộng hòa và ép ông McCain phải dàn trải các nguồn lực vốn ngày một mỏng manh của mình, từ đó thu hút bớt các ủng hộ viên của đối thủ về phía mình ở các tiểu bang giao động chính kiến.

Đồng thời, chiến lược vận động của thượng nghị sĩ bang Illinois còn tỏ ra rất siêu việt trong việc lấy phiếu. Đội quân của ông Obama đã chạy một chiến dịch vận động đăng ký khổng lồ đối với những người có khả năng trở thành ủng hộ viên Dân chủ. Nỗ lực này đã giành thêm hơn 300.000 cử tri tới các vòng bỏ phiếu ở riêng Florida.

Nhận ra việc nhiều cử tri mới có thể tràn ngập các điểm bỏ phiếu trong ngày bầu cử, chiến dịch vận động của ông Obama đã làm cho việc bỏ phiếu sớm trở thành một ưu tiên ở nhiều tiểu bang nơi việc này được phép.

Có nhiều người đi bỏ phiếu trước ngày bầu cử vào năm nay hơn bất thời điểm nào trước đây - hơn 29 triệu người ở 30 tiểu bang, theo số liệu thống kê sơ bộ.

Tất cả hiệu quả đạt được còn nhờ việc ông Barack Obama đã biết hiệu triệu mọi người với tư cách một ứng viên tổng thống. Ông là một nhà hùng biện xuất sắc, có thể dẫn dụ đám đông quần chúng theo kiểu của ông Bill Cliton.

Hình ảnh của Obama mang tính trọn vẹn - một người đàn ông tự lập với một ngôi nhà, một chiếc xe hơi và một gia đình.

Điều này tương phản với John McCain từng ly dị người vợ vốn chờ đợi ông qua suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi cưới một người phụ nữ thừa kế gia sản giàu có và là một người không thể nhớ mình có bao nhiêu ngôi nhà trong tay.

Ứng cử viên chống Bush

Ông Obama đã có thể thiết lập được liên hệ một cách sâu sắc hơn với các khối cử tri khác nhau. Ông đã đánh đúng vào tâm lý của các cử tri trẻ, dành được cảm tình của nhiều cử tri nói tiếng Tây Ban Nha và Do Thái, vốn là những người ủng hộ Đảng Cộng hoà trong quá khứ, và đương nhiên đã dành được nhiều phiếu của các cử tri da đen hơn bất cứ vị tổng thống tiền nhiệm nào.

Thông điệp duy nhất, thống nhất của ông Obama là "thay đổi" đã phát huy tác dụng khi gần chín trên 10 người dân Mỹ tin rằng đất nước của họ đã "đi sai đường."

Ông có thể dễ dàng đặt mình vào vị trí một ứng viên tổng thống chống lại ông Bush theo một cách thức mà ông McCain phải rất vất vả nếu muốn có. Tổng thống Bush đã nhận tỉ lệ ủng hộ thấp hơn cả cựu tổng thống tai tiếng một thời, Richard Nixon.

Một thông điệp xuyên suốt của ông Obama là ông John McCain đã luôn hậu thuẫn ông Bush trong suốt 90% thời gian cầm quyền của Bush.

Các cuộc thăm dò dư luận luôn cho thấy nhiều người dân tin tưởng hơn vào khả năng ông Obama có thể giải quyết các vấn đề kinh tế khi khủng hoảng tài chính nổ ra, và ông Obama đã xuất hiện đúng chỗ để tận dụng trọn vẹn lợi thế chính trị này.

Trọng tâm kiên định của ông vào việc làm thế nào có thể giúp đỡ những người dân bị bần cùng hoá nhiều nhất trong 8 năm cầm quyền của Tổng thống Bush dường như tỏ ra thích hợp với thời sự hơn. Điều này tương phản với trọng tâm đặt vào việc cắt thuế có lợi rõ ràng cho các giới giàu có trong chiến dịch vận động của ông McCain.

Khác biệt là sức mạnh

Nhưng trên hết, ngay cả thế mạnh cao nhất của ông McCain với tư cách một anh hùng trong chiến tranh Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế hàng chục năm cũng đã bị lu mờ.

Lựa chọn của ông Obama về người liên danh vào chức vụ ứng viên Phó tổng thống, chuyên gia chính sách đối ngoại kỳ cựu, Thượng nghị sĩ Joe Biden, đã thu hẹp khoảng cách kinh nghiệm.

Ông Obama cũng nhấn mạnh khăng khăng rằng quan điểm đánh giá còn quan trọng hơn kinh nghiệm và suốt quá trình chiến dịch tranh cử, các đồng thuận chính trị về khía cạnh này ở công chúng có vẻ đã chuyển dịch dần sang quan điểm này của Obama.

Ông Obama đã kêu gọi thiết lập một thời gian biểu cho việc rút quân khỏi Iraq, bảo vệ các biên giới của Afghanistan bằng việc tiến hành các cuộc tấn công nằm bên trong lãnh thổ Pakistan khi được yêu cầu và tiến hành đối thoại với các kẻ thù của Hoa Kỳ.

Và rồi một cách chậm rãi và lặng lẽ, chính Chính quyền của ông Bush đã phải đi tới chấp nhận các quan điểm trên của ông Obama, và trong ông John McCain thì đã ngày càng bị cô lập hơn khi tiếp tục phản đối ông Obama.

Ông Barack Obama còn nói ông không "trông giống như các vị Tổng thống khác được in hình trên đồng đôla."

Mặc dù đây là một ngụ ý về mầu da của mình, ông Obama đã tỏ ra có nhiều khác biệt so với các tầng lớp chính trị quý tộc truyền thống, và trong một năm mà nhiều người Mỹ khao khát đổi mới, những khác biệt này đã trở thành một phần sức mạnh của ông Obama.

MỘT NIỀM TIN TRONG CÁC ƯỚC MƠ ĐƠN GIẢN

(A Faith in Simple Dreams) Barack Obamar


Khi tôi còn nhỏ, tôi sống ở nước ngoài một thời gian với Mẹ tôi. Và một trong những ký ức sơ khai của tôi về Mẹ là bà đọc cho tôi nghe những dòng chữ đầu tiên trong Tuyên Ngôn Độc Lập, và giải thích cho tôi nghe những ý tưởng trong đó đã được áp dụng vào từng người Mỹ ra sao, người Mỹ da Trắng, da Đen và da Nâu đều giống nhau cả, tất cả đều là người Mỹ. Bà đã dạy cho tôi biết rằng những dòng chữ đó, và những ngôn từ trong Hiến Pháp Hoa Kỳ, đã bảo vệ chúng ta tránh khỏi những bất công tàn nhẫn mà chúng ta đang là chứng nhân sống cho những số phận con người khác đang phải chịu đựng tại các quốc gia khác trên thế giới.

Mới đây, điều này đã được gợi lại trong tôi khi tôi theo dõi những bất công tàn bạo quanh vấn đề gọi là cuộc bầu cử tại Zimbabwe. Trong nhiều tuần lễ, đảng phái đối lập và những người ủng hộ họ đã bị săn đuổi, tra tấn và sát hại trong vòng bí mật. Họ đã bị kéo ra khỏi nhà họ vào lúc giữa đêm và bóp cổ đến chết trong khi con cái họ nhìn thấy cha mẹ mình đang bị sát hại dã man. Người vợ của một vị thị trưởng tân cử đã bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi ngay chính cả em ruột của bà cũng không nhận ra được thi thể bà, ngoại trừ cái váy mà bà đã mặc trong ngày bà bị sát hại. Ngay cả những cử tri bị tình nghi là đã bội phản lại vị Tổng Thống đương kim cũng bị tập trung lại và bị đánh đập trong nhiều giờ. Tất cả chỉ vì một tội đồ đơn giản - Họ đã đi bỏ lá phiếu bầu của họ.

Quốc gia của chúng ta là một quốc gia giàu mạnh với nhiều niềm tin và nhận thức khác biệt. Chúng ta tranh luận và bàn cãi những tư tưởng khác biệt của chúng ta một cách sôi động và thường xuyên. Nhưng một khi tất cả những gì cần phải nói đã được nói ra, chúng ta vẫn cùng nhau đoàn kết lại như một khối dân đồng nhứt và tuyên thệ trung thành, không những chỉ đơn thuần cho một nơi chốn trên tấm bản đồ hay một vị lãnh đạo nào đó nhưng tới những dòng chữ mà Mẹ tôi đã từng đọc cho tôi nghe cách đây nhiều năm về trước - "Rằng mọi người đều được tạo ra công bằng, rằng mọi người được Đấng Tạo Hóa ban cho những quyền không thể nào tách bỏ được, trong những quyền này bao gồm quyền Được Sống, quyền Tự Do và quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc."

Đó chính là một niềm tin trong những ước mơ đơn giản đích thực của nước Mỹ, một sự khẳng định trên các điều kỳ diệu nhỏ bé. Đó là những ý tưởng mà chúng ta có thể ru đưa vào giấc ngủ của con cháu chúng ta hằng đêm và biết rằng chúng được nuôi dưỡng và an toàn trước các hiểm họa; rằng chúng ta có thể nói những gì chúng ta đang suy nghĩ, viết lên những gì chúng ta đang suy nghĩ, mà không phải lo sợ bị công an, cảnh sát gõ cửa; rằng chúng ta có thể có một sáng kiến và khởi sự công việc làm ăn riêng rẽ của chúng ta mà không phải nộp hối lộ; rằng chúng ta có thể tham dự vào các tiến trình chính trị mà không phải lo sợ bị trả thù; và rằng các lá phiếu bầu của chúng ta sẽ được đếm trong các cuộc bầu cử.

Với tôi, đó là niềm tin yêu và việc bảo vệ những lý tưởng này chính là ý nghĩa thực sự của lòng yêu nước. Đó là những lý tưởng không thuộc về bất kỳ đảng phái nào hay bất kỳ nhóm người nào nhưng là sự kêu gọi mỗi một chúng ta đóng góp phần của mình vào sự thịnh vượng chung của chúng ta.

Tôi viết lên điều này với sự hiểu biết rằng nếu những thế hệ cha ông trước đó của chúng ta đã không đứng lên để nhận lãnh trách nhiệm trong thời của mình, thì có lẽ tôi đã không đứng trong vị trí của tôi vào ngày hôm nay. Là một người trẻ mang hai dòng máu trong người, không có được những nối kết, gốc gác trong bất kỳ cộng đồng nào, không có được chính cả bàn tay dẫn dắt của người Cha, thì đây chính là lý tưởng của người Mỹ mà vận mạng của chúng ta đã không cần phải được viết trước khi chúng ta ra đời để định nghĩa cuộc đời của chúng ta. Và đó chính là nguồn cội của lòng tin yêu của tôi đối với đất nước này: bởi vì với một người Mẹ có gốc từ Kansas và một người Cha có gốc từ đất nước Kenya, tôi biết rằng những câu chuyện giống như câu chuyện đời tôi chỉ có thể xảy ra ở nước Mỹ mà thôi.

2 tháng 11, 2008

Ngày không em - Nguyễn Trọng Tạo


Phan Chí Thắng

HOCMOINGAY: "Ngày không em" là một bài thơ chứng minh sức sáng tạo trẻ trung của Nguyễn Trọng Tạo. Có thể mạnh dạn mà nói: các nhà thơ lớn phải làm một việc lớn là đi tiên phong trong công cuộc đổi mới thơ (từ trái sang phải: Nguyên Hùng , Nguyễn Trọng Tao, Phan Chí Thắng, Hoàng Cát http://pcthang.vnweblogs.com/post/2432/97272)


Các nhà phê bình, bạn bè văn chương và cả người đọc viết khá nhiều về thơ Nguyễn Trọng Tạo. Khó tìm ra điều gì để viết thêm về nhà thơ danh tiếng này.

Tôi muốn viết một cái gì đó nho nhỏ, hợp với sức mình về thơ Nguyễn Trọng Tạo, với tư cách một người đọc bình thường. Tôi không cố chọn ra một số bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo để nói đến. Tôi đơn giản lấy luôn bài thơ mới nhất mà anh công bố để đọc và cảm nhận.

Viết về thơ Nguyễn Trọng Tạo là một công việc cực kỳ khó khăn. Vườn thơ anh quá rộng, cây hoa nào cũng đẹp, bông hoa nào cũng lung linh. Vừa định "yêu" bông hoa này, ta lại thấy bông khác quyến rũ không kém.

Một nhà "Nguyễn Trọng Tạo học" chắc chắn phải bỏ cả năm để đọc, nghiên cứu và viết một công trình khoa học về thơ anh. (Xin xem Phụ lục ở cuối bài để hình dung kho "sản phẩm" mang thương hiệu Nguyễn Trọng Tạo)

Mấy chục năm qua nhiều bài thơ của NguyễnTrọng Tạo vẫn sống trong lòng người đọc, được nhiều người thuộc lòng. Tiến sỹ Hoàng Kim, một nhà nông học tên tuổi, hễ khi nào trò chuyện với bạn bè về thơ văn là nhắc đến mấy câu:

Anh trót để ngôi sao bay khỏi cát.
Biếc xanh em mãi chớp sáng bầu trời.
Điều có thể đã hoá thành không thể.
Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi

Tôi chỉ lấy ra trường hợp tiến sỹ Hoàng Kim làm ví dụ. Những người khác có thể thích bài khác, những câu thơ khác. Những câu thơ mượt mà, dễ nhớ, không cầu kỳ nhưng hình ảnh hấp dẫn, mới lạ, dưới con chữ là Tình và Lý ẩn hiện.

Đó là nói về những bài thơ thành danh của Nguyễn Trọng Tạo, thế thơ của anh gần đây thì sao? Xin mời đọc bài thơ sau:

NGÀY KHÔNG EM

Nguyễn Trọng Tạo

Tặng Em

Ngày không em
anh cây chổi tựa mòn góc bếp
anh cái chảo mốc meo
anh con mèo đói kêu khan
anh con chồn hoang ngủ vùi trong hốc tối...

Ngày không em
anh làm gì với gió
gió mềm mại dáng em
anh làm gì với lửa
lửa cháy môi em
anh làm gì với cơn mơ giật liên hồi tiếng nấc

Ngày không em
anh không có thật
anh bị phép tàng hình
chiếc bình vỡ không sao gắn lại...

Mưa vẫn rơi
anh bão về miền thẳm
ngày không em
con chó tru điên
con chó điên tru hình anh mờ tỏ
nó chạy thật xa
về mách anh lưỡi được liếm gió...

Anh nhớ em
mắt liếm màn hình
những dòng chat thơm mùi da thịt

Anh thấy mình bay là trên cỏ ướt
trên cánh trần tay em
đêm dồn đêm
ngày cũng là đêm
anh nhắm mắt một thiên đường mây trắng

Ngày không em
ngọn cỏ khát đâm mù tia nắng...

24.9.2008

Cách tân (đổi mới) là một quy luật của sự tồn tại, một yêu cầu tự thân của mỗi tác giả. Ai liên tục cách tân, tuổi thọ sáng tác của người đó càng dài lâu.

Có người hiểu cách tân nghệ thuật là múa không mặc quần áo như mấy chú ở FPT, có người lại làm cho câu văn lủng củng đến vô nghĩa, câu thơ cầu kỳ khó hiểu. Thậm chí có người cho rằng phải đập phá các tượng đài mới là cách tân mạnh mẽ.

Dẫu đã bước sang thập kỷ thứ 7 của cuộc đời, Nguyễn Trọng Tạo vẫn liên tục cách tân thơ mình, theo cách của anh.

Bài thơ "Ngày không em" được xây dựng theo cấu trúc:

1. Xa em, anh là gì
2. Xa em anh làm gì
3. Xa em anh như thế nào
4. Nguyên nhân - Vì nhớ em
5. Khát vọng yêu đương

Là hoạ sỹ, Nguyễn Trọng Tạo đương nhiên là giỏi bố cục. Là một người làm kỹ thuật, tôi hay tìm "sơ đồ khối" của mọi thứ.

1. Xa em anh biến thành vật bất động, mất hết công năng

anh cây chổi tựa mòn góc bếp
anh cái chảo mốc meo

hoặc là động vật hoang dại, thiếu thốn và bải hoải:

anh con mèo đói kêu khan
anh con chồn hoang ngủ vùi trong hốc tối...

Đã ai ví sự cô đơn, nhớ nhung của mình như một con mèo đói kêu khan?

2. Xa em, anh thành người bất lực, không còn biết làm gì

Ngày không em
anh làm gì với gió
gió mềm mại dáng em
anh làm gì với lửa
lửa cháy môi em
anh làm gì với cơn mơ giật liên hồi tiếng nấc

Đụng vào cái gì, kể cả cái vô hình là gió, cũng gợi nhớ đến em. Anh bất lực với sự khủng khoảng của chính mình.

3. Tác giả xác định trạng thái của "anh", đẩy logic nhớ nhung lên mức cao hơn

Ngày không em
anh không có thật
anh bị phép tàng hình
chiếc bình vỡ không sao gắn lại...

Anh như bị biến mất, thành vô hình, không xương không thịt. Cảm thấy nói thế hơi điêu, hơi vô lý, tác giả tự gán mình là cái bình đã vỡ.

4. Cái gì làm anh ra nông nỗi này? Vì nhớ em. Tác giả diễn tả nỗi nhớ đến kinh người

- thành bão về phương em,
- thành con chó điên chạy thật xa.

Tác giả không nói nhưng người đọc hiểu là con chó điên chạy đến "em", vì ở trên tác giả đã nói "gió mềm mại dáng em".

Muốn biến thành con chó đến "liếm" được người yêu một cái, hình ảnh này mới lạ, theo tôi là chưa ai nghĩ đến để mà dùng trong thi ca. Một lần nữa, tự thấy mình "phiêu" quá, tác giả lại quay về với cõi thực:

Anh nhớ em
mắt liếm màn hình
những dòng chat thơm mùi da thịt

Liếm màn hình như con chó ảo liếm gió. Động từ "liếm" là một từ trần tục, ít ai dám dùng trong thơ, Nguyễn Trọng Tạo dùng nó, rất sex mà không sex, rất thật mà vẫn rất ảo.

5. Khát vọng yêu đương

Nhớ đến vậy, điên cuồng đến vậy, nhưng chỉ nói đến mức đó thì bài thơ mới chỉ là hay chứ chưa rất hay. Tiếp tục là khát vọng yêu đương, tuy vẫn là ảo ảnh, nhưng bây giờ thực tế hơn, đắm đuối và hạnh phúc hơn:

Anh thấy mình bay là trên cỏ ướt
trên cánh trần tay em
đêm dồn đêm
ngày cũng là đêm
anh nhắm mắt một thiên đường mây trắng

Hai câu thơ cuối, thông thường là câu kết.

Ngày không em
ngọn cỏ khát đâm mù tia nắng...

Nhưng cái kết thật bất ngờ. Hình ảnh kỳ lạ: ngọn cỏ làm sao đâm mù được tia nắng? Một cái gì đó là ao ước, một chút gì đó là giận hờn hoàn cảnh, một sự khao khát đến tột cùng.

"Ngày xa em" là một bài thơ chứng minh sức sáng tạo trẻ trung của Nguyễn Trọng Tạo. Có thể mạnh dạn mà nói: các nhà thơ lớn phải làm một việc lớn là đi tiên phong trong công cuộc đổi mới thơ.

Trên đây là cách tôi hiểu, tôi cảm nhận một bài thơ được lấy hú hoạ trong mấy trăm bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo. Không biết là tôi đã cảm thụ được hết nó hay chưa. Nếu tôi chưa cảm thụ được hết nó thì đó cũng là điều đáng mừng: bài thơ ở một tầm cao hơn sức với của tôi.

29 tháng 10, 2008

Nước mình làm gì có tham nhũng



Nguyễn Đức Đát

http://nddat.vnweblogs.com/post/2427/101767

Sáng nay uống cà phê, tôi gặp thằng bạn. Lâu lắm rồi mới thấy mặt hắn. Hắn là người dễ xúc động. Việc gì đối với hắn cũng bức xúc. Đọc báo thấy nói tăng giá điện, thu phí chống kẹt xe, ăn chặn hàng cứu trợ...hắn trằn trọc cả đêm không ngủ, chỉ mong trời mau sáng để gặp ai đó xả cơn tức. Gặp tôi, hắn mừng như bắt được vàng. Hắn xả ngay:

- Tham nhũng tràn lan ông ạ. Sờ đến nơi nào là nơi ấy có tham nhũng.

Tôi quặc ngay:
- Nước ta làm gì có tham nhũng. Ông chỉ nghe bọn phản động tuyên truyền bậy bạ thôi.

- Đây ông xem, Tổ chức Minh bạch thế giới xếp Việt Nam ở vị trí cao trong danh sách những nước tham nhũng nặng.

- Ông tin luận điệu của tổ chức ấy làm gì. Đó là âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Chúng hùa nhau làm mất uy tín Đảng và Nhà nước ta đấy.

- Ông chỉ bênh vực cho Nhà nước. Đây vụ PU18, vụ Đồ Sơn, vụ Võ Thanh Bình...báo chí đăng tải ầm ỹ, ông đui à.

- Tôi không đui. Vụ PU18 không có tham nhũng. Tiền đánh bạc của Bùi Tiến Dũng là của cá nhân hắn, không phải tiền tham ô. Cơ quan điều tra giải thích rồi. Vụ Đồ Sơn chẳng qua cán bộ cấp dưới trình độ non yếu, lại hay cả nể. Cán bộ cấp trên công việc lu bu, không quán xuyến hết. Mà cấp vài chục mảnh đất thì nghĩa lý gì. Cán bộ làm việc cho dân, họ phải được cấp đất làm nhà chứ. Có an cư mới toàn tâm phục vụ. Ông Võ Thanh Bình đâu biết đất của bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ông nhận đất từ quân đội. Quân đội lại tịch thu từ quân lực chế độ cũ. Số tiền một trăm triệu ông đã nói rõ, không phải tiền chạy chức. Tiền người ta cho con ông, hỗ trợ cháu làm nhà. Việc làm tình nghĩa thôi.

- Nói như ông thì nước ta không có tham nhũng à ? Nhiều vị có nhà rồi còn tham lam nhận thêm đất.

- Thì nhà đông con cái, phải cho chúng ở riêng chứ. Ở chung với bố mẹ mãi sao được. Nước mình làm gì có tham nhũng. Nếu có chỉ là số ít, chủ yếu là người ngoài Đảng. Chế độ ta là chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tôn chỉ đã nói rõ rồi. Cán bộ ta ai cũng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lê Nin và đạo đức Hồ Chí Minh. Đố ông nào dám tham nhũng. Ngay nhân dân còn được giáo dục để sống tiết kiệm, không tham nhũng nữa là. Tóm lại, chế độ ta rất ưu việt, đâu có xấu xa, thối nát như chế độ phong kiến, tư bản. Đợt khủng hoảng tài chính vừa rồi, chứng minh hùng hồn: - Bọn tư bản đang giãy chết !. Ông đừng có mắc mưu diễn biến hòa bình của kẻ địch mà nguy đấy.

- Vụ xử hai nhà báo và tướng Quắc, ông thấy thế nào ? Nhà báo chống tham nhũng mà bị bắt, bị xử bị tù thì còn ai chống tham nhũng nữa. Xử thế này thì bọn tham nhũng mừng ông ạ. Tòa xử theo chỉ đạo, chẳng có tính độc lập. Nghe nói vụ này là do hai phe đánh nhau.

- Thế nào là thế nào ? Chuyện không có nói có, có ít lại nói vống lên. Hai nhà báo và tướng Quắc tội rõ rành rành. Nghiệp vụ của Chiến, Hải yếu, nhìn hiện tượng, lại tưởng tham nhũng. Làm gì có tham nhũng. Khi thành lập Ban chỉ đạo chống tham nhũng TW, Ban yêu cầu các địa phương và cơ quan, ban ngành báo cáo tình hình tham nhũng. Nhiều địa phương, ban ngành không báo cáo. Vì tìm mãi không thấy tham nhũng ở đâu. Đơn giản vậy thôi. Không có tham nhũng thì lấy gì báo cáo. Đảng và Nhà nước là một khối thống nhất. Mọi việc đều bàn bạc thấu đáo. Họp hành liên tục. Có thể một vài ý kiến chưa tương đồng. Làm gì có phe phái. Nghe ghê quá. Tòa án của ta xử rất công minh, độc lập, không chịu bất cứ áp lực nào. Một vài vụ do thẩm phán mới, nắm chưa vững luật thôi. Ông cẩn thận cái mồm kẻo mang vạ vào thân.

- Báo chí bị dán băng keo vào mồm rồi, không anh nào dám ho he viết và đăng bài chống tham nhũng nữa.

- Ông lại ngu hơi bị lâu. Làm gì có tham nhũng mà chống. Không có tham nhũng thì quay qua viết về thi hoa hậu, lăng xê các ca sỹ ngôi sao (dù là sao xẹt), kêu ca về tăng giá điện, về môi trường, lũ lụt, kẹt xe, lễ hội, dựng bia tiến sỹ thời đại mới...Thiếu gì chuyện. Ông làm như chống tham nhũng là chống Nhà nước không bằng. Đầu óc ông nhiễm nặng tư tưởng phản động rồi. Về chịu khó đọc báo Nhân dân để củng cố lập trường đi.

- Tôi thấy nước mình càng ngày càng thiếu dân chủ !

- Tôi lại nghĩ khác ông. Nước mình đại tự do dân chủ. Ông đang đi ngoài phố, chợt buồn đi tiểu, dừng xe, chĩa vòi vào gốc cây, tường rào xả thoải mái. Có công an nào đến hỏi thăm sức khỏe đâu. Ngồi ở quán cà phê, ông chửi bới lung tung, có ma nào phê phán ông đâu. Tự do dân chủ như thế là nhất rồi. Mệt với ông quá.

- Nghe ông nói tức anh ách.

- Tức là tức thế nào ? Ông không nghe người nước ngoài họ ao ước: Khi ngủ dậy, thấy mình thành người Việt Nam à ! Tự hào lắm chứ ! Tôi cũng vậy, mỗi sáng ngủ dậy, lòng khoan khoái khi biết rằng mình chưa phải là người Tàu.

- Ông !...

Hắn tắc tỵ trước bức tường kiên cố bảo vệ chính thể. Đáng đời hắn !

26 tháng 10, 2008

“Triết lý giáo dục hiện nay là học thuộc sao cho… thuộc”



Nguyên Ngọc

http://vietimes.vietnamnet.vn/vn/chuyende/5888/index.viet

Giảng đường Việt Nam thế kỷ 21 vẫn còn không ít những giờ học đọc chép, những giảng viên “ê a kinh sử”, những sinh viên thụ động chỉ lên lớp để… ngủ và học nhồi nhét để đối phó với kỳ thi. Căn nguyên sâu sa của những hiện trạng đáng buồn này nằm ở đâu? Bằng vốn hiểu biết và những trải nghiệm sâu sắc với sự nghiệp giáo dục, nhà văn Nguyên Ngọc (NN) sẽ chia sẻ với bạn đọc một góc nhìn về vấn đề này.


NN: Có một sự thật rất lạ ở Việt Nam, đó là học sinh bắt đầu vào đại học thì chơi nhưng lại cắm đầu cắm cổ “dùi mài kinh sử” suốt những năm phổ thông. Điều này phản ánh một sự thật rằng, học sinh của chúng ta đang học để thi, học để có bằng chứ không phải học để chiếm lĩnh tri thức.

Đó là một điều rất nguy hiểm. Tính chủ động tư duy trong đại học thực ra là vấn đề chung của toàn bộ nền giáo dục. Nền giáo dục của Việt Nam không nhằm tạo ra con người tự chủ mà thậm chí nó còn không muốn nhằm tạo ra con người như thế. Nó muốn anh thuộc lòng cho tôi và tôi bảo anh nghe đừng có cãi.

PV: Vậy thì, những giảng đường đọc chép, những thầy cô “ê a kinh sử”, những sinh viên ngủ gật rồi ra đời trở thành những cá nhân thụ động, cam chịu… chỉ là cái bề mặt. Còn cái gốc sâu sa, phải chăng là giáo dục Việt Nam đang thiếu một triết lý, một quan niệm, một tinh thần đúng đắn làm "kim chỉ nam" hành động?

NN: Đúng vậy! Triết lý giáo dục, nói nôm na ra là chúng ta định xây dựng và thực hiện nền giáo dục này để làm gì? Bằng nền giáo dục này, chúng ta muốn đào tạo nên những con người như thế nào đây? Chúng ta định đào tạo nên những con người tự do, biết suy nghĩ và có suy nghĩ độc lập, từ đó là những con người sáng tạo, cho một xã hội tự do và sáng tạo, hay đào tạo nên những con người chỉ biết chấp hành, vâng lời, phục tùng, hết sức dễ bảo.

Triết lý giáo dục sẽ chi phối, chỉ đạo toàn bộ các khâu, các lĩnh vực cụ thể của giáo dục, từ nội dung giáo dục, phương châm giáo dục, phương pháp giáo dục, tổ chức giáo dục…, ảnh hưởng quyết định đến tất cả các cấp của nền giáo dục, từ tiểu học, trung học, cho đến đại học, trên đại học. Kiểu triết lý giáo dục nào thì đưa đến kiểu nội dung, phương châm, phương pháp, tổ chức giáo dục đó.

PV: Nếu xem xét một cách khách quan và quan diện, chúng ta phải thẳng thắn với nhau rằng những nhà tổ chức và quản lý giáo dục cũng đã có những cố gắng khắc phục sự yếu kém của nền giáo dục. Cụ thể là những kế hoạch đưa giảng viên đi tu nghiệp ở nước ngoài, những đổi mới về cơ sở vật chất cũng như phương pháp giảng dạy, chương trình học như sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đào tạo theo tín chỉ…Những cải tiến này đang nói lên điều gì, thưa ông?

NN: Theo ý tôi, đó là những cải tiến rất hay của nước ngoài mà chúng ta đi học về và áp dụng lại. Nhưng những cải tiến đó có thể rất hiệu quả với nền giáo dục nước ngoài nhưng khi áp dụng ở Việt Nam lại không có kết quả. Là vì những cái hay đó nằm trong một quan niệm cơ bản của nền giáo dục đó, trong cái tư duy cơ bản mà mình gọi là triết lý giáo dục.

Chúng ta đi học những cái cụ thể đó để mà áp dụng trong một cái cơ bản khác, một hệ thống khác thì tất cả những thứ đã học đều vô nghĩa, thậm chí phản tác dụng. Ví dụ, lý tưởng của giáo dục Mỹ là đào tạo ra những con người độc lập, tự do và dân chủ nên họ quan niệm trước hết là phải tạo ra một nền tảng văn hóa cơ bản cho con người dựa vào đó mà độc lập tư duy.

Chính vì thế, chương trình ỏ các đại học danh tiếng của Mỹ đòi hỏi sinh viên phải học một chương trình cơ bản với các môn như: Hội thảo về phương pháp suy nghĩ, phân tích, nghiên cứu và viết luận văn, khoa học tự nhiên, quy tắc và phương pháp tư duy, khoa học xã hội và hành vi, sử học, triết học, tôn giáo hoặc đạo đức…

PV : Sinh viên Việt Nam trong hai năm đại cương cũng được học gần như là đầy đủ những kiến thức đó?

NN : Hai năm đại học đại cương của sinh viên Việt Nam bị nhồi nhét quá nhiều kiến thức, và theo tôi còn có những môn học rất phí phạm thời gian. Các nhà giáo dục Việt Nam cũng như các học sinh, phụ huynh cần phải xác định học không phải là để thi, như đang diễn ra hiện nay, mà là để chiếm lĩnh tri thức. Và tri thức không phải là vô số những kiến thức chồng chất ngày càng được nhân lên đến như vô tận hằng ngày hiện nay, không cách gì chạy theo, học thuộc lòng cho hết.

Nói cho thật đúng, cần học các kiến thức, rồi sau đó phải biết quên chúng đi, giữ lại cho được cái cốt lõi, tức cách thức tư duy được thể hiện qua việc con người đã phấn đấu như thế nào để khám phá ra được kiến thức đó.

Tôi nhớ có một lần cùng GS Vật lý hạt nhân Phạm Duy Hiển đến dự một giờ vật lý tại một trường phổ thông trung học. GS Hiển đã nhận xét với tôi là thầy giáo là người nắm rất chắc kiến thức nhưng không khí của toàn bộ giờ học thì vô cùng buồn chán. Những kiến thức về vật lý hạt nhân có thể sau này không hữu dụng cho đứa trẻ, nhưng qua buổi học đó, người thầy phải làm cho đứa trẻ được thấy thế giới vi mô vô cùng, từ đó kích thích ở nó sự tò mò với giới tự nhiên, đó mới là cách để rèn luyện tư duy logic, khoa học.

Học tập suốt đời

PV: Vậy phải chăng, việc khơi dậy cá tính chủ động của sinh viên trong trường đại học chủ yếu nằm ở quan niệm giáo dục của những người giảng dạy và cái quan trọng hơn là người thầy muốn truyền cho sinh viên một tinh thần học tập, khám phá tri thức như thế nào?

NN: Đúng rồi, tinh thần của nền giáo dục đó nó thể hiện qua người thầy và nó thấm vào người học. Tôi nhớ hồi học phổ thông, tôi may mắn gặp được một thầy giáo rất giỏi. Ngay hôm đầu tiên vào lớp, ông bảo chúng tôi: "Các anh chị đến đây là để học cách học". Vậy đó, qua dạy kiến thức, ông chủ yếu dạy chúng tôi cách học, tức cách chủ động tư duy độc lập, tự mình đi tìm lấy tri thức. Ông bảo: "Có ai ngồi ở trường được suốt đời đâu, vậy phải học cách học, để rồi tự mình sẽ học suốt đời". Ông cũng không bao giờ dạy cho chúng tôi hết chương trình, mà chỉ dạy chừng hai phần ba, phần còn lại để chúng tôi tự học lấy…

Vậy nhà trường là gì? Nhà trường phải là nơi trang bị cho học sinh những khả năng của chính mình để có thể chủ động đi tìm tri thức, tìm chân lý

PV : Nhà trường Việt Nam đang thất bại trong sứ mệnh đấy đúng không ạ?

NN: Theo tôi, giáo dục Việt Nam không thất bại vì chúng ta xuất phát từ một nền giáo dục khác, từ một triết lý giáo dục khác. Mà triết lý đó là… học thuộc làm sao cho đúng. Và phương pháp, chương trình, nội dung, cách thức giảng dạy… bắt nguồn từ triết lý cơ bản đó. Chương trình học tập của học sinh hiện nay nặng nề là vì bộ Giáo dục cứ đưa đầy kiến thức rồi bắt học sinh học thuộc để lấy điểm, lấy bằng.

PV : Đào tạo theo tín chỉ là một trong những lộ trình quan trọng trong việc đổi mới giáo dục đại học mà bộ Giáo dục đang quyết tâm thực hiện. Cách đào tạo này phải chăng sẽ tạo ra tính năng động rõ rệt hơn trong các trường đại học.

NN: Theo tôi, đào tạo theo tín chỉ sẽ không thay đổi được bao nhiêu bộ mặt của giáo dục đại học, vì cái cơ bản, cái tư duy chung trong hệ thống đó vẫn chưa thay đổi. Anh mới chỉ mang một kĩ thuật mới vào trong một hệ thống cũ cho nên nó sẽ bị chệch choạc

Phần 2: Đừng chấp nhận chân lý khi chưa "tâm phục khẩu phục"


Sơn Khê (Vietimes)

Người theo dõi