Lưu trữ Blog

25 tháng 1, 2011

Hoàng Hạc Lâu thắng cảnh, huyền thoại, thơ và ảnh

                                                                   HOÀNG HẠC LÂU

HỌC MỖI NGÀY. Hoàng Hạc Lâu là thắng cảnh nổi tiếng ở Vũ Hán gắn liền với sông Trường Giang, trận Xích Bích, huyền thoại hạc vàng, Thôi Hiệu đề thơ, Lý Bạch gác bút, Khổng Minh mượn gió đông, Tôn Quyền xem trận thế, Khuất Nguyên viết Ly tao, Nhạc Phi trần tình biểu, Nguyễn Du viết tuyệt phẩm trong bắc hành tạp lục, Tô Thức, Mạnh Hạo Nhiên, Mao Trạch Đông ... đề thơ. Biết bao danh hoạ và ảnh đẹp về Hoàng Hạc Lâu làm say đắm lòng người.


Thắng cảnh 



Lầu Hoàng Hạc vốn là đài quan sát quân sự được xây từ thời Tam Quốc, ở bờ nam sông Trường Giang, thuộc địa phận nước Ngô (thành phố Vũ Xương, Vũ Hán ngày nay). Đài quan sát này liên quan với trận Xích Bích nổi tiếng trong lịch sử và huyền thoại cầu gió đông của Khổng Minh. Sau này, khi nước Ngô bị diệt vong thì đài không còn ý nghĩa quân sự quan trọng nữa. Nhưng, do được xây ở nơi phong cảnh hùng vĩ nên lầu Hoàng Hạc dần trở thành điểm đến của tao nhân, mặc khách và ngày càng nổi tiếng, là biểu tượng, niềm tự hào của người dân Vũ Hán.



           Sa bàn HOÀNG HẠC LÂU (Ngày xưa )


        
                                          Huang He Lou (Tower of Yellow Crane): Hoàng Hạc Lâu
                                          Photo in 1870s.(Ảnh khoảng năm 1870) Nguồn: Wikipedia tiếng Việt

Lầu Hoàng Hạc nguyên thuỷ là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Trải qua nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc, chịu biết bao cuộc chiến tranh huỷ diệt; rồi lại được dựng lên, sau nhiều lần trùng tu cho đến nay lầu Hoàng Hạc được tái sinh trở lại với sự kết tinh nhuần nhuyễn những phong cách độc đáo của Hoàng Hạc Lâu qua các đời Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh ... được trưng bày để mọi người thưởng ngoạn. Hoàng Hạc Lâu hiện tại lộng lẫy hơn nhiều với năm tầng có chiều cao 51,4 mét, ngói vàng, trụ đỏ, các mái hiên được uốn cong lên như đôi cánh hạc.

Tầng một cao hơn 10m với trang trí bên trong giúp người xem hiểu ngay được về sự tích của Hoàng Hạc Lâu. Tầng hai đến tầng bốn lưu giữ lại những bài thơ từ và danh hoạ về  các sự kiện lịch sử từ thời Tam Quốc đến nay, những danh nhân như Khuất Nguyên, Nhạc Phi, thi tài Lý Bạch, Thôi Hiệu, Tô Đông Pha, Mạnh Hạo Tầng năm là tầng cao nhất của lầu, đứng ở đây, người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, nhìn dòng Trường Giang và Hán Thủy hợp lưu lại thành hình chữ “Nhân” trong Hán tự .

Huyền thoạiTheo sách “Liệt tiên toàn truyện” của Vương Thế Trinh đời Minh, có chuyện kể rằng: Xưa có một người họ Tân, bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc kiếm sống qua ngày. Một hôm có có đạo sĩ già ăn mặc rách rưới đến xin rượu uống. Anh bán rượu nghèo tốt bụng, thấy ông lão đáng thương, bèn cho rượu uống. Từ đấy, ngày nào đạo sĩ cũng đến xin rượu. Một hôm, đạo sĩ từ biệt anh bán rượu, nói: “Một năm qua, ngày nào anh cũng cho rượu uống, chẳng có gì đền đáp. Lão có con hạc quí, tặng anh để tỏ lòng biết ơn”. Nói rồi ông lấy vỏ cam vẽ lên tường một con hạc, dặn: “Chỉ cần anh vỗ tay là hạc sẽ bay ra nhảy múa, mua vui cho khách”. Dứt lời, đạo sĩ biến mất.


Anh bán rượu làm theo, quả nhiên có hạc vàng bay ra nhảy múa. Từ đấy, khách uống rượu hiếu kì kéo đến rất đông, chẳng bao lâu, anh trở nên giàu có. Bỗng một hôm đạo sĩ quay lại nói: “Mười năm qua, tiền anh kiếm được chắc đã đủ trả chỗ rượu anh cho lão uống?”. Rồi, ông rút cây sáo thần thổi lên một khúc, gọi hạc vàng bay ra, cưỡi hạc bay đi mất. Vì thế, về sau, căn lầu xây ở nơi này được mang tên Hoàng Hạc.



Theo Vương Tượng Chi của đời Bắc Tống viết trong “Dự Ðịa kỷ thắng” thì sở dĩ tháp quan sát được gọi là Hoàng Hạc Lâu vì tháp này nằm trên Hoàng Hộc Sơn, phía tây nam của Từ Thành ngày xưa. Thời cổ, chữ Hộc (ngỗng trời: thiên nga) cũng có nghĩa là Hạc, nên về sau người ta dùng chữ Hạc cho rõ nghĩa hơn. Từ đó, Hoàng Hộc Sơn được gọi là Hoàng Hạc Sơn. Đời sau Hoàng Hạc Sơn cũng được gọi là Xà Sơn vì dáng núi ngoàn ngoèo giống rắn.

Thơ và Ảnh
 


Theo tài liệu văn học Trung Quốc thì có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng bài thơ Thôi Hiệu đời Đường là xuất sắc nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.






Tương truyền, khi “Thánh thi” Lý Bạch đến lầu Hoàng Hạc du ngoạn, định đề thơ, nhưng đọc xong thơ Thôi Hiệu đã đề trước đó, ông đành nghiêng mình gác bút, ngửa mặt lên trời mà than rằng :“Nhãn tiền hữu cảnh đạo vô tắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Cảnh đẹp nhường kia sao khó viết, Trên đầu Thôi Hiệu đã đề thơ). Để ghi nhớ giai thoại văn học “Thôi Hiệu đề thơ, Lý Bạch gác bút” thú vị này, ngày nay ở phía Nam lầu Hoàng Hạc, người ta xây dựng “Đình gác bút”, làm điểm tham quan, dừng chân cho du khách.


Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh qua lầu Hoàng Hạc, trong Bắc hành tạp lục đã viết bài thơ:

黃鶴樓 Hoàng Hạc lâu

阮攸 Nguyễn Du

何處神仙經紀時 Hà xứ thần tiên kinh kỉ thì
猶留仙跡此江楣 Do lưu tiên tích thử giang mi
今來古往盧生夢 Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
鶴去樓空崔顥詩 Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi
軒外煙波空渺渺 Hiên ngoại yên ba không diểu diểu
眼中草樹尚依依 Nhãn trung thảo thụ thượng y y
衷情無限凴誰訴 Trung tình vô hạn bằng thùy tố
明月清風也不知 Minh nguyệt thanh phong dã bất tri

Lầu Hoàng Hạc

Nào thuở tiên đi mãi đến giờ,
Dấu tiên bên bến đứng trơ vơ.
Xưa qua nay lại Lư dồn mộng,
Hạc khuất lầu không Hạo để thơ.
Thăm thẳm nước mây ngoài vạn dặm,
Dờn dờn cây cỏ vẫn nghìn xưa.
Nỗi lòng ấp ủ cùng ai tỏ?
Gió mát trăng trong luống hững hờ

(Quách Tấn dịch)

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng cảm khái viết bài thơ cùng tên Hoàng Hạc Lâu:



Hoàng Hạc Lâu

Vũ Hoàng Chương

Đã bao giờ có hạc vàng đâu
Mà có người tiên để có lầu!
Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau.
Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
Trăng gió hão huyền như khói sóng
Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.

Quang cảnh thành phố Vũ Hán nhìn từ lầu Hoàng Hạc


                   
Hoàng Hạc


Hoàng Hạc Lâu trên đồi Rắn , Vũ Hán, Trung Quốc
(Yellow Crane Tower on Snake Hill, Wuhan, China
Photo by Mike Martin, uploaded by User Leonard G. on en.wikipedia)


Ảnh và danh hoạ về Hoàng Hạc Lâu có rất nhiều. Anh Hà Hữu Tiến gửi cho tôi các tư liệu mà anh thu thập được, tôi hiệu đính và thêm vào các thông tin mới. Cháu Tố Nguyên và Hoàng Long chụp được khá nhiều ảnh đẹp về Hoàng Hạc Lâu. Tôi lưu lại bài này để sau này bổ sung thêm những bài thơ tuyệt hay khác của Mạnh Hạo Nhiên, Tô Đông Pha, Mao Trạch Đông ... và những ảnh chụp, danh hoạ, cảm nhận.

Hà Hữu Tiến, Hoàng Kim
Dựa trên những nguồn trích dẫn chính:
http://www.mediafire.com/?2xe9tid2gdh Người SG
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%E1%BA%A1c_l%C3%A2u

Xem thêm:
Một bài thơ dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương
Hy Tuệ

Bài thơ lừng danh Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓 của nhà thơ Trung Quốc đời Đường Thôi Hiệu 崔顥 thì ai mà chẳng biết:



黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,

此地空餘黃鶴樓。

黃鶴一去不復返,

白雲千載空悠悠。

晴川歷歷漢陽樹,

芳草萋萋鸚鵡洲。

日暮鄉關何處是,

煙波江上使人愁。

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Bản dịch nổi tiếng của Tản Đà có dễ còn được người Việt biết nhiều hơn:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Trước Tản Đà, hình như Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục mới là người dịch đầu tiên bài thơ này trên Nam phong tạp chí năm 1923, nhưng có lẽ cái cách hạ một chữ trắc ngang ngược của ông ngay cuối câu đầu vẫn không sao địch nổi giọng tài hoa của “Túy Ông” Nguyễn Khắc Hiếu, nên dần dà người ta đã quên mất bản dịch đi đầu:

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng cút,
Ở đây chỉ những lầu hạc trơ.
Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.
Sông bọc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ!1

Sau tiếng vang của bài thơ Tản Đà, tưởng ai cũng đành phải nhường bước, ngờ đâu lại như một kích thích cho nhiều thế hệ kế tục đua tài với ông. Họ không nghe theo Lý Bạch nhắc nhở: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc / Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”; dầu người nào cũng đã một lần đến chiêm ngưỡng và tấm tắc trước lâu đài thơ của sông Đà núi Tản, kẻ trước người sau vẫn cứ muốn thử thách bút lực của mình.

Ngô Tất Tố:

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.

Trần Trọng Kim:

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

Trần Trọng San:

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời, mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy,
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

Nguyễn Khuê:

Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ?
Khói sóng trên sông giục khách sầu.

Khương Hữu Dụng:

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi !
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?
Khói sóng trên sông não dạ người.

Vân vân...

Đặc biệt, trong số người không ngại “vận bút” để làm cái chuyện “dịch là diệt” có cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ dịch của họ Hoàng cũng đã nhiều người biết, tuy chưa phổ biến thật rộng. Một cách dịch thoát sáo, tưởng xa nghĩa nhưng lại lắng đọng được thi vị, và nhất là có những ẩn ngữ đầy “tâm trạng” không kém gì tiếng lòng của nhà thơ họ Thôi:

Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Sao lại cô đơn đến mức “Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi”? Và ai là “cánh hạc vàng” trong con mắt thi nhân mà “Vàng tung cánh hạc đi đi mất”? Ai khiến cho thi nhân sầu nhớ như chực vỡ òa nước mắt trong câu thơ cuối cùng? Tôi cứ thắc mắc mãi mà không giải đáp được cho mình. May mắn gần đây được bạn Đặng Tiến ở Pháp gửi cho một tấm hình chụp lại nguyên thủ bút của Vũ Hoàng Chương:

Thì ra, không biết bài thơ được dịch từ bao giờ nhưng đích thân họ Vũ đã chép nó vào ngày 6 tháng 12 năm 1975, tặng người bạn vong niên đang ở quá xa là nhà bình thơ Đặng Tiến. Gần sát cái Tết dương lịch năm 1976, người thơ da diết nhớ bạn và đặt mình vào hoàn cảnh bạn khi ngồi trên bờ một con sông xứ người nào đấy chắc cũng rất đơn chiếc mà nhớ thương về cố quốc: “Gần xa chiều xuống đâu quê quán / Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!”. Ngôn từ bài thơ dịch quả gợi cảm hứng tuyết lạnh một buổi chiều hửng nắng ở Tây Âu. Tuy nhiên... chợt đọc lại ngày tháng chép thơ. Ôi, ngày 6 tháng 12 năm 1975. Tôi cũng ở Sài Gòn đúng trong những ngày đó. Một mùa đông lạnh hơn hẳn những mùa đông khác của phương Nam nắng ấm. Còn nhớ đêm nằm trong nhà người bà con ở 362 đường Hòa Hảo, đắp một chiếc chăn dạ mà vẫn rét run không ngủ nổi. Không chỉ thế. Tôi đã đến chơi nhà nữ sĩ Mộng Tuyết trên đường Nguyễn Minh Chiếu, nơi cách đó ít lâu gia đình Vũ Hoàng Chương tạm cư ngụ. Tôi biết lắm, ngày này, thi nhân và dịch giả Vũ Hoàng Chương cùng khá nhiều trí thức Sài Gòn cũ đang sống trong tột cùng thấp thỏm, chưa rõ trắng đen về thân phận của mình. Cái tết năm đó - năm Bính thìn 1976 - ông có bài Vịnh bức tranh gà lợn:

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn, om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có họa,
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

Đã từng sống trong không khí cải cách ruộng đất đợt V hồi 1955 ở Khu IV, tôi thấu hiểu nỗi sợ đến khủng khiếp về một cái gì không ra ngô ra khoai, “Sáng chưa sáng hẳn tối không đành”, về sự chờ đợi trong nặng nề khắc khoải, phải đếm từng giây phút một cho bớt cô đơn lạnh lẽo mà Vũ Hoàng Chương từng sống. Tôi cũng đã chứng sống cái nỗi niềm rất khó bộc bạch: “Lòng lợn âm dương một tấc thành” của gia đình mình. Một tấc thành mà không biết tỏ cùng ai, vì chẳng biết “lòng ai đỏ mắt ai xanh” (một tấm lòng đỏ và một con mắt xanh đối với người nghệ sĩ mới cần thiết làm sao!) nên nhìn đâu cũng lấm lét, làm gì cũng ngó trước ngó sau: “Rằng vách có tai, thơ có họa/tai họa”. Đúng là những ngày ấy Vũ Hoàng Chương đang như Từ Thức ngay chính trên quê hương xứ sở của mình. Phải: “Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu / Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi”. Chỉ có ông với một mình ông.

Cảm thán cho Vũ Hoàng Chương thì cũng chỉ là vô ích vì ông đã là một cánh hạc vàng đi mất đến ba mươi năm có lẻ rồi. Chi bằng hãy bắt chước ông, vắt óc trước bài thơ của chàng Thôi Hiệu để “thôi xao” ra những vần dịch mới. Tôi đã gắng làm như thế, cũng xin coi là một bài thơ tặng những người bạn xa - rất xa ở Mỹ ở Âu - trong đó có Đặng Tiến:

Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi,
Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi.
Một thuở hạc vàng không trở lại,
Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi.
Hán Dương cây đứng soi sông sáng,
Anh Vũ cỏ non biếc bãi bồi.
Chiều tối quê hương nhìn chẳng thấy,
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.

Hà Nội 21-1-2007

1 Tác giả có lời Cảm ơn TS Nguyễn Văn Hiệu đã đọc giúp cho bài thơ khó nhớ này.

Nguồn: Văn hoá Nghệ An

22 tháng 1, 2011

Đọc và suy ngẫm câu chuyện về Bác Hồ

HỌC MỖI NGÀY. Nhà thơ Việt Phương đọc thơ của mình cho Bác Hồ nghe, trong đó có những ý so sánh sự ác độc của người đời với loài cầm thú, kiểu như "nhăn nhở như đười ươi", "rình mò như cú vọ", "nham hiểm như cáo già", "độc ác như báo hổ". Nghe xong, Bác lắc đầu và bảo: "- Không phải thế đâu chú ạ! Loài vật không xấu xa thế đâu. Đó là định kiến sai lầm của con người gán cho loài vật. Loài vật không xấu xa thế đâu. Loài vật không có như chú viết: nhăn nhở, rình mò, nham hiểm, độc ác. Không phải thế đâu." Nhà thơ Việt Phương sau này qua trãi nghiệm đã rất thấm thía bài học trên từ Bác. Sự sống rộng hơn sự người nhiều lắm, chứa đựng nhiều thành tố khác mà con người cần tương kính, tương thân, tương ái…”.


Nhà thơ Việt Phương kể chuyện Bác Hồ góp ý sửa thơ


Kiều Mai Sơn


Trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ở tuổi ngoài 80, nhà thơ Việt Phương đã hoàn thành tâm nguyện của mình là muốn kế thừa người anh ruột - nhà văn Từ Bích Hoàng, một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Khi mới 19 tuổi, Việt Phương đã được đồng chí Phạm Văn Đồng - bấy giờ là Đặc phái viên của Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ - chọn về làm thư ký riêng. Từ đó, ông đã giúp việc cho đồng chí Phạm Văn Đồng suốt 53 năm trên các cương vị Phó Thủ tướng, Thủ tướng Chính phủ, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng… cho đến khi đồng chí mất năm 2000.

Nhà thơ Việt Phương cho tôi biết, là thư ký riêng giúp việc vị Thủ tướng lâu năm nhất của nước Việt Nam, ông phải "tự kiềm chế" và mất đi rất nhiều điều. Ông vốn lắm cá tính, có kiểu riêng, điệu riêng, cách riêng, thích thú riêng, và thậm chí cả ngang tàng riêng. Vì vậy, nếu ngay đến trong thơ cũng lại đưa cho thủ trưởng duyệt nữa, thì ông không còn gì, ông không còn là mình nữa. Nàng thơ là lĩnh vực của riêng Việt Phương.

Máu văn nghệ sĩ có sẵn trong căn cốt của mình, từ năm 1964, ông đã tham gia một nhóm thơ. Các thành viên trong nhóm đều làm thơ chuyên nghiệp, riêng có mình Việt Phương làm thơ nghiệp dư. Họ là Vũ Quần Phương, Bằng Việt, về sau thêm Phạm Tiến Duật ở trong miền Nam ra. Phái nữ có Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi...

Năm 1970, tập thơ "Cửa mở" của Việt Phương ra đời thu hút ngay được sự chú ý của dư luận, không phải chỉ riêng văn đàn mà cả chính giới.

Sau những dích dắc liên quan tới tập thơ "Cửa mở", Việt Phương vẫn là cán bộ giúp việc Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng thời tham gia nhóm cán bộ giúp việc Tổng Bí thư Lê Duẩn, và là một thành viên cốt cán của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Nghỉ hưu ở tuổi 65, ông được Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định cử làm Ủy viên Thường trực của Tổ chuyên gia tư vấn của Thủ tướng. Khi Tổ chuyên gia tư vấn mở rộng ra thành Ban Nghiên cứu đổi mới của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, Việt Phương vẫn tiếp tục là Ủy viên Thường trực của Ban. Vừa làm kinh tế ông vừa làm thơ. Để rồi, sau "Cửa mở" là "Cửa đã mở" (2008), "Bơ vơ đông đảo" (2009) và "Cỏ dọc đường trần" (2010) ra đời.
Tôi ngồi hỏi chuyện một Việt Phương nhà thơ. Ông kể, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có một tâm hồn thơ nhưng không làm một câu thơ nào. Như đã thỏa thuận từ trước, nàng thơ là của riêng ông. Tuy không đưa thơ cho Thủ tướng xem, nhưng Việt Phương lại thỉnh thoảng được đọc thơ mình vừa làm để Bác Hồ nghe và cho ý kiến. Cuối những năm năm mươi (của thế kỷ trước) cho đến năm 1969, khi Bác qua đời, nhà thơ Tố Hữu làm thơ thường đọc cho Bác nghe trước khi công bố. Nhiều hôm đọc như thế, Việt Phương được dự.

Sau ngày Bác mất, Việt Phương đã công bố ngay bài thơ "Muôn vàn tình thương yêu trùm lên trên khắp quê hương" (1969) với những câu thơ ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả: "Bác thường để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn mấy quả cà xứ Nghệ". Đầu năm 1970, ông có bài nói chuyện tại Hà Nội với cán bộ, đoàn viên Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh, sau này được in thành sách "Một số mẩu chuyện về đời sống hàng ngày của Bác Hồ" (Lưu hành nội bộ - nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000).

Bằng chất giọng hào sảng, nhà thơ Việt Phương kể cho tôi nghe một kỷ niệm về thơ với Bác cách nay vừa đúng nửa thế kỷ.

Năm 1961, nhà thơ Tố Hữu viết một bài thơ xuân mang vào đọc cho Bác nghe. Khổ đầu của bài thơ như sau:

Tôi viết bài thơ xuân
Nghìn chín trăm sáu mốt
Lá bàng đỏ rụng ngoài sân
Cành dâu xanh rờn ngõ trước

Những câu thơ tả thực khuôn viên nhà riêng của nhà thơ Tố Hữu ở 76 Phan Đình Phùng: Sân sau có mấy cây bàng, vào mùa xuân lá bàng đỏ rụng, còn phía trước có cây dâu mùa đông ra lá xanh.

Nghe đọc xong Bác nói ngay:
- Chú viết sái lắm. Mới vào năm 1961 cái mà lá bàng đỏ rụng ngoài sân thế này, không được. Cành dâu mà có xanh rờn ngõ trước thì cũng không bù lại được.

Nhà thơ Tố Hữu tiếp thu. Trở về, ông chữa lại:

Tôi viết bài thơ xuân
Nghìn chín trăm sáu mốt
Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt
Nắng soi sương giọt long lanh…
Rét nhiều nên ấm nắng hanh
Đắng cay lắm mới ngọt lành đó chăng?
Giã từ năm cũ bâng khuâng
Đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường…

Những năm tháng ấy, Văn phòng Chủ tịch nước và Văn phòng Chính phủ ở chung với nhau. Vì vậy, nhiều lần nhà thơ Việt Phương sang giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi thì ông đọc cho Bác nghe những tài liệu trong nước và nước ngoài gửi đến để Bác duyệt; hoặc ông đọc những tài liệu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng muốn xin ý kiến Bác. Sau những lúc làm việc xong, trong tình thân Bác - cháu, nhà thơ lại đọc Bác nghe một bài thơ ông mới viết.

Nhìn vào cuộc sống thấy cả mặt sáng và mặt tối. Dù trong thâm tâm mình vẫn luôn hướng về ánh sáng nhưng ông không thể làm ngơ trước cái xấu. Ông làm bài thơ dài hai trang về đời sống xã hội. Làm việc xong với Bác, ông đề nghị:

- Hôm nay cháu có bài thơ mới viết, xin đọc Bác nghe.

Bác Hồ hưởng ứng: "Ừ, chú đọc đi".

Nhà thơ Việt Phương liền đọc khổ thơ mở đầu, trong đó có những ý so sánh sự ác độc của người đời với loài cầm thú, kiểu như "nhăn nhở như đười ươi", "rình mò như cú vọ", "nham hiểm như cáo già", "độc ác như báo hổ".

Nghe xong, Bác lắc đầu và bảo:

- Không phải thế đâu chú ạ! Loài vật không xấu xa thế đâu. Đó là định kiến sai lầm của con người gán cho loài vật. Loài vật không xấu xa thế đâu. Loài vật không có như chú viết: nhăn nhở, rình mò, nham hiểm, độc ác. Không phải thế đâu.

Kể xong câu chuyện, nhà thơ Việt Phương nói với tôi: "Ngay mở đầu đã hỏng, tôi bỏ cả bài ấy đi. Từ đó tôi rất là thấm thía học được bài học từ Bác. Sau này dần dần cho đến lúc lớn thêm nữa, trải nghiệm, tôi hiểu ra được sự sống: Sự sống rộng hơn sự người nhiều lắm. Sự người là từng người và cả loài người. Còn sự sống rộng hơn sự người nhiều. Trong sự sống còn nhiều những thành tố khác, những thành tố bình đẳng với con người mà con người cần tương kính, tương thân, tương ái…”.

Nhấp một chén trà ấm, nhà thơ Việt Phương trầm ngâm suy tư. Lát sau, ông lấy từng ví dụ để chứng minh cho tôi rõ.

Giáo sư Việt kiều Cao Huy Thuần đến chơi đã kể cho ông nghe câu chuyện có những nhà khoa học ở phương Tây dành cả một đời để nghe tiếng nói của từng loài cây. Trên một mảnh đất độ phì nhiêu như nhau, khí hậu như nhau, người ta trồng một loại cây cùng một lúc, ra cùng một thứ hoa, cùng một thứ quả. Người ta tưới bón chăm sóc giống y như nhau, chỉ có một điều khác duy nhất: Một cây họ cứ lặng yên chăm sóc, còn một cây trong khi chăm sóc thì họ nói chuyện với cây, tâm sự với cây vào lúc trời nắng, vào lúc trời mưa, vào lúc ra mầm mới, vào lúc rụng lá… Có điều gì trong cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn họ cùng tâm sự với cây. Kết quả là cây đó ra hoa sớm hơn hẳn và có quả ngọt hơn hẳn cây kia.

Vợ chồng giáo sư toán học Phan Đình Diệu lại kể cho ông nghe câu chuyện về hai cây cau vua cao to trong khoảnh vườn của mình: "Cây cau vua nhà tôi, hai vợ chồng tôi đếm đã 200 lần rơi lá, không có lần nào lá cây cau rơi xuống mà gây tổn thương hay làm hại, gây khó khăn gì cho cây ở dưới, cứ như là nó lựa chọn ấy. Nó chọn lúc nào thì rơi, theo chiều gió như thế nào, lá rơi xuống cách ra làm sao, đi theo những đường lượn thế nào, không bao giờ gây tổn hại cho ở dưới cả. Mà đến 200 lần. Có lẽ nào lại không có một tý ý thức nào? Tôi phải khấn và tôi phải khâm phục cây ấy. Nó tôn trọng các cây khác đến như thế".

Còn vợ nhà thơ Việt Phương, bà Trần Tú Lan, con gái đầu của hai nhà cách mạng lão thành Vũ Văn Tân và Nguyễn Thị Phương Hoa, có một con chó và một con mèo. Dường như có sự giao lưu giữa bà chủ với hai con vật nuôi đó rất rõ rệt. Bà nói cái gì hầu như nó hiểu cả.

Cho nên dần dần tôi thấm thía được câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không phải thế đâu chú ạ. Đó là định kiến sai lầm của con người. Loài vật không xấu xa như thế" - Nhà thơ Việt Phương kết thúc câu chuyện với tôi bằng một câu đúc kết đầy tâm đắc

Kiều Mai Sơn - VNCA Xuân 2011

30 tháng 12, 2010

Sự im lặng của núi


HỌC MỖI NGÀY
. "
Sự im lặng của núi" là bài viết của tác giả Nguyễn Đình Chú đối với học giả Cao Xuân Huy: "Một bi kịch đã diễn ra đối với phương Đông là nhiều giá trị tinh thần, trong đó có truyền thống triết học rất mực cao siêu (dĩ nhiên cao siêu nhưng vẫn có hạn chế) đã từng có vị trí, có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội phương Đông nay bị hạ bệ, bị mai một. Sự thật đau xót là chính không ít người phương Đông đã tham gia tích cực vào sự hạ bệ này, mặc dù cũng chính họ là người rất mực yêu quý phương Đông. Và quả thật tôi đã từ những suy nghĩ đó, mà đến với cuốn sách Tư tướng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của học giả Cao Xuân Huy."

Sự im lặng của núi
(Bài viết về học giả Cao Xuân Huy
Giáo sư Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội từ 1951 - 1960 - Giải thưởng Hồ Chí Minh )
Nguyễn Đình Chú
Tôi có cái may mắn được sinh ra trên đất Nghệ cùng quê với học giả Cao Xuân Huy. Cụ người Diễn Châu, tôi người Nghi Lộc, hai huyện liền nhau và 2 nhà cách nhau chỉ chưa đầy hai chục cây số. Tôi lại con một nhà Nho có dính bảng tú tài vào khoa Giáp Ngọ (1894), cùng khoa với Tú Xương) nên ngay từ lúc bắt đầu học chữ Hán, lập tô in ấy chữ "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng" trên bảng gỗ, tôi đã được nghe cha kể về gia thế cụ Thượng Cao (tức là Cao Xuân Dục, ông nội của học giả Cao Xuân Huy) quê Diễn Châu, với tất cả sự kính nể, tôn sùng. Điều này dĩ nhiên đã chi phối cách nghĩ của tôi sau này về học giả Cao Xuân Huy và con trai cụ, anh bạn Cao Xuân Hạo. Riêng về cụ Huy, thì ngay khi bắt đầu đi học trường Pháp - Việt, tôi cũng đã được nghe các thầy giáo cũng với thái độ sùng kính kể cho nghe nhiều chuyện. Nào là: cụ Huy cùng với Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Bính... là mấy nhà văn hoá, khoa học giỏi nhất tỉnh Nghệ thời Tây. Cụ Huy đã từng tranh luận và thắng cuộc về triết học với một người Pháp hồi ở Huế. Cụ Huy am hiểu, say mê và đặc biệt là sống theo triết lý Lão Trang là "vô vi" đã bị hiểu theo kiểu nôm na, dung tục và dĩ nhiên là không đúng, tức là: không làm gì cả, cái gì cũng chẳng coi là gì cả. Ví như: đi đường gặp mưa, người ta thì mau chân rảo bước, tìm nơi ẩn náu, còn cụ thì cứ từng bước mà đi. Đang ngồi đọc sách, kẻ trộm vào lấy quần áo phơi ở sân, trông thấy, cũng mặc. Hôm sau kẻ trộm lại đến lấy, lại trông thấy, thì chỉ hỏi nhẹ: mấy thứ hôm qua lấy chưa đủ mặc à. Nhiều chuyện được kể về cụ Huy như vậy, chẳng hay chính xác tới đâu, nhưng đã để lại trong tuổi thơ của tôi, ấn tượng về một bậc siêu nhân, khác lạ giữa trần gian là Cao Xuân Huy.
Năm 1951, trường Dự bị đại học mở ở hai địa điểm là Nghệ An và Thanh Hoá sau đó mới quy về một nơi là Thanh Hoá. Nhân dịp giáo sư Trần Văn Giàu mà bấy giờ dư luận coi là người có tài hùng biện, có tài diễn thuyết hay nhất nước Nam, vừa từ Việt Bắc vào Thanh Hoá dạy dự bị đại học và có sang dạy cho phân hiệu Nghệ An. Tôi đi nghe và đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy bậc siêu nhân Cao Xuân Huy với gương mặt thanh tú, có cặp mắt tinh anh hiền từ, trên miệng như lúc nào cũng đang sắp cười mà không cười, tay cầm đèn dầu hoả (vì lớp học phải học ban đêm), tay cầm chiếc ghế xếp, đến ngồi ngoài sân đình nghe Giáo sư Giàu giảng về triết học.
Kế đó, từ năm 1954 đến 1957 là sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi chính thức được làm học trò giáo sư Cao Xuân Huy về hai môn là Tâm lý học và Logíc học. Phải nói là lúc này, Giáo sư Cao Xuân Huy đối với số đông thuộc thế hệ sinh viên chúng tôi chưa phải là vị thầy có tiếng tăm lừng lẫy. Lý do là vì Giáo sư Cao Xuân Huy viết quá ít. Vả chăng lại chưa được dạy đúng vào chỗ giỏi nhất, cao siêu nhất của mình. Bấy giờ triết học phương Đông cổ truyền đâu đã có chỗ đứng trong nền giáo dục, kể cả giáo dục đại học.
Từ năm 1957 đến 1960, với tư cách trợ lý, tôi lại được trường đại học sắp xếp chỗ ở chung nhà với Giáo sư Cao Xuân Huy và cả với các giáo sư khác: Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Nhị tại ngôi nhà 16 Đ ngõ Hai, Hàng Chuối. Do đó tôi lại biết thêm về cụ. Biết cụ, té ra ở thời thanh niên cũng từng tham gia phong trào ái quốc sôi nổi bị chính quyền thực dân bắt giam và sau đó đuổi không cho dạy học ở trường công phải ra dạy trường tư và đọc trên Đông Pháp thời báo xuất bản ở Sài Gòn tôi thấy đăng một bức thư của một số trí thức trong đó có Trần Phú (sau đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương) và Cao  Xuân Huy gửi vào Huế bày tỏ niềm ngưỡng mộ cụ Phan Bội Châu, lúc này vừa mới bị đưa về giam lỏng tại Bến Ngự ở gần cụ Huy suốt ba năm, tôi thấy cụ rất ít nói mặc dù cặp mắt lúc nào cũng vui và miệng lúc nào cũng như sắp cười mà không cười như ngày đầu tôi đã thấy. Ngày ấy có dư luận cụ Huy là người mê Lão - Trang không nhập thân được vào chủ nghĩa Mác trong khi mọi trí thức Hà Nội hầu như đã hướng hẳn vào con đường độc đạo là chủ nghĩa Mác.
Từ năm 1961 trở đi, tôi chuyển chỗ ở. Cụ Huy cũng chuyển công tác từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội về Viện Văn học. Tuy vậy thỉnh thoảng tôi vẫn được gặp cụ ở Viện Văn học, ở nhà người con rể, anh bạn Văn Tâm. Cứ mỗi lần gặp là mỗi lần vui sướng vì được gần gũi một nhân cách cao thượng, một hình ảnh hấp dẫn về trí tuệ, về học vấn mặc dù trước sau cụ vẫn là người ít nói. Tôi gặp cụ Huy theo kiểu "đối diện đàm tâm" không như gặp cụ Mai thì trò chuyện hết điều này điều khác và thường phải sợ thầy hỏi lục vấn như là kiểm tra chuyện đọc sách vở của mình. Giáo sư Cao Xuân Huy sau 1975 vào Sài Gòn sống với con trai là anh Cao Xuân Hạo. Mấy lần vào Sài Gòn tôi có đến thăm cụ và vẫn là theo kiểu "đối diện đàm tâm" nhưng trong lòng tôi thì vẫn vui vô cùng. Ngày cụ qua đời có người mách với tôi: Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho người đến tìm con gái cụ là chị Cao Thị Cam (vợ anh Văn Tâm) sống ở Hà Nội hỏi địa chỉ trong Sài Gòn để gửi vòng hoa tới viếng. Kế đó lại có tin tại Thành phố Hồ Chi Minh có đường đặt tên Cao Xuân Huy. Tôi thầm nghĩ: đáng khen cho ai đó đã có con mắt xanh trong khi làm mưu sĩ cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh. Ở Sài Gòn, có đường phố Cao Xuân Huy là đẹp thêm thành phố rất nhiều.
Học giả Cao Xuân Huy đã sống, đã đi qua giữa cõi đời như thế và người đời đã đối xử với cụ như thế, thiết tưởng cũng đã là thoả đáng rồi, nhưng chuyện lại không chỉ dừng ở đây. Sau 13 năm cụ đã hoá thân vào Đạo, vào vũ trụ, hôm nay trước mắt chúng ta lại bỗng nhiên có cuốn sách: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu mà tác giả là Cao Xuân Huy. Thú thật, đối với tôi đây là một hiện tượng gây xúc động lớn. Tôi biết sức mình chưa thể hiểu hết, càng chưa dám nói là hiểu đúng, để nhận xét đúng giá trị của cuốn sách dày 790 trang in này. Nhưng trong sự cảm nhận bồng bột ban đầu, tôi vẫn muốn coi nó là một hiện tượng đột khởi trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tính từ xa xưa tới nay, với một số ý nghĩ cũng là ban đầu về nó như sau:
 1. Trước hết nó là sản phẩm của một đời im lặng mà là một thứ im lặng đặc biệt. Ở đây cần nói thêm về cái im lặng này. Bởi nó là sự im lặng không chỉ là do cá tính thông thường ta đã quen gặp, mà còn là có liên quan đến cả một truyền thống triết học xưa cũ của phương Đông. Tôi muốn cho rằng truyền thống triết học mang tính hướng nội nhiều hơn là hướng ngoại của phương Đông, trong đó có quan niệm "thuật nhi bất tác", "dư dục vô ngôn, tứ thời hành yên, vạn vật dục yên, thiên hà ngôn tai" (ta không muốn nói đâu, bốn mùa đi lại, vạn vật sinh trưởng, trời có nói gì đâu) của Khổng Tử, chủ trương “vô ngôn thông", "bất lập văn tự”, “ngôn ngữ loạn đảo” của Phật giáo và cả lý thuyết "bất ngôn chi giáo", "Tri giả bất ngôn, Ngôn giá bất trí" của Lão Tử... chắc chắn là có ảnh hưởng sâu sắc đến sự ít nói, ít viết của học giả Cao Xuân Huy. Và tôi muốn nói đây là sự im lặng của núi. Núi của tri thức. Núi của trí tuệ. Núi của sự suy tư, của sự nghiền ngẫm. Cuốn sách Tư tưởng phương Đông... của học giả Cao Xuân Huy trong cảm nghĩ ban đầu của tôi hiện tại trước hết là như thế. Tôi nói điều này là ít nhiều có sự so sánh với người này, người khác từng có nhiều công trình về triết học phương Đông mà tôi cũng ít nhiều đã và vẫn kính phục. Nhân dây xin được nhắc lại câu chuyện được nghe kể về một nhà Đông phương học nổi tiếng, cỡ lớn của Liên Xô cũ đầu những năm 70 đến Hà Nội sau khi gặp cụ Huy đã bái phục tôn lên bậc thầy và cho là người hiếm hoi của thế giới hiện thời. Nếu chuyện kể này là đúng sự thật thì hẳn là hỗ trợ cho cái điều tôi vừa nói.
2. Sức hấp dẫn của cuốn sách với tôi cũng là sức hấp dẫn của một tư thế và một khả năng tư duy triết học. Vốn là một người từng được phân công làm trợ lý lịch sử triết học cho Giáo sư Trần Đức Thảo nhưng rồi sự bất thành, phải quay lại nghiệp văn chương song tôi vẫn tìm đọc được ít nhiều các sách triết học thì thấy một tình trạng là: có tác giả chuyên sâu, thậm chí là rất sâu kiến thức triết học phương Tây nhưng với triết học phương Đông cổ đại thì hầu như không biết gì. Ngược lại có những người chuyên viết về triết học phương Đông trung đại thì với triết học phương Tây cũng chỉ là lảo thảo. Riêng với công trình Tư tưởng phương Đông của cụ Huy tuy nội dung chính là nói về triết học phương Đông nhưng tầm nhìn, thế nhìn lại là bao trùm cả Đông Tây, lại là mang tính vĩ mô nhân loại lịch sử, vĩ mô toàn thế giới. Đúng là thế! Học giả Cao Xuân Huy đã tỏ ra là người cùng một lúc, am hiểu khá sâu, khá kỹ lịch sử triết học phương Đông lẫn lịch sử triết học phương Tây theo tinh thần phán đoán, nhận xét một cách có chủ kiến và bằng một năng lực tư duy triết học vốn mang đặc trưng trừu tượng cao siêu để từ đó tạo ra hệ thống tư tưởng triết học riêng của mình.
Đọc cuốn sách Tư tưởng phương Đông tôi có cảm tưởng nó là tư tưởng phương Đông nhưng cũng là tư tưởng Cao Xuân Huy, nhất là xét ở cấp độ hệ thống, ở phương diện tổng kết và đề xuất. Từ lâu, dư luận vẫn cho rằng cụ Huy là nhà Đạo học, nghĩa là theo triết học Lão - Trang nhưng đọc vào công trình này dễ thường có cảm tưởng nói như thế chưa chắc đã đúng hẳn, bởi học giả Cao Xuân Huy là hiện tượng còn rộng hơn cả Đạo học. Trong Tư tưởng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy, cái phần để được người đọc chú ý nhiều nhất và cũng là phần tác giả có nhiều trí tuệ nhất có lẽ là phần đầu nói về chủ toàn và chủ biệt hai ngả rẽ trong triết học Đông Tây. Trong đó cái chủ toàn quả thật là nét đặc trưng bản chất nhất của triết học phương Đông cổ đại mà học giả Cao Xuân Huy đã giúp người đọc hiểu rõ hơn đâu hết. Nhưng ở đây rõ ràng cũng không chỉ là một sự tường thuật, một sự miêu tả đơn thuần mà còn là một sự phân tích, một sự đánh giá, một hệ thống lý giải mới trên cơ sở so sánh vĩ mô mang đậm dấu ấn sáng tạo của bản thân học giả họ Cao.
 Để thấy rõ hơn nữa bản lĩnh triết học của học giả Cao Xuân Huy, tôi muốn trở lại với tình hình giao lưu văn hoá – tư tưởng Đông - Tây trong khoảng hai thế kỷ qua trên xứ sở phương Đông. Như mọi người đã biết, trong thời cổ đại, nhân loại có ba nền văn minh lớn thì trong đó hai là thuộc phương Đông. Đó là văn minh cổ đại Ấn Độ và văn minh cổ đại Trung Hoa. Trong khi phương Tây chỉ có một là nền văn minh Cổ đại Hy-La. Nhưng qua thời trung đại thì do những điều kiện khác nhau, phương Tây đã bứt lên, tạo ra một nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần phong phú, bề thế, trong khi đó thì phương Đông đã tỏ ra là chậm phát triển. Bởi thế mà từ giữa thế kỷ XIX đã phải chịu sự tấn công, áp đảo toàn diện của phương Tây. Ở đây quy luật của sự áp đảo là quy luật giữa cái mạnh và cái yếu: do mạnh mà áp đảo được; do yếu mà bị áp đảo Nhưng chuyện không chỉ thế. Bởi kẻ mạnh không phải cái gì cũng hay. Ngược lại kẻ yếu không phải cái gì cũng dở. Có điều một khi đã có sự áp đảo thì cái dở của kẻ mạnh cũng thành chiến thắng và cái hay của kẻ yếu cũng thành chiến bại.. Quy luật vừa nói đây đã thể hiện khá rõ trong tình hình giao lưu văn hoá, tinh thần Đông - Tây tại nhiều nước phương Đông trong hai thế kỷ qua. Trong cuộc giao lưu văn hoá này, sự.nâng đỡ của văn hoá tinh thần phương Tây đối với phương Đông quả là rất lớn nhưng sự áp đảo của nó đối với phương Đông cũng không nhỏ.
Một bi kịch đã diễn ra đối với phương Đông là nhiều giá trị tinh thần, trong đó có truyền thống triết học rất mực cao siêu (dĩ nhiên cao siêu nhưng vẫn có hạn chế) đã từng có vị trí, có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội phương Đông nay bị hạ bệ, bị mai một. Sự thật đau xót là chính không ít người phương Đông đã tham gia tích cực vào sự hạ bệ này, mặc dù cũng chính họ là người rất mực yêu quý phương Đông. Và quả thật tôi đã từ những suy nghĩ đó, mà đến với cuốn sách Tư tướng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy, và có thể nói tôi đã không thể giấu nổi sự thần phục cái tư thế triết học, cái tư thế học thuật của học giả siêu nhân họ Cao. Tôi muốn nói như thế này được chăng: Cụ Huy đã không chịu bất cứ sự áp đảo nào mà đứng vững, đứng trên, đứng ngoài tất cả để suy nghiệm, để tìm tòi, để tạo ra ít ra là một giả thuyết khoa học có tầm vóc nhân loại, để nhân loại tuỳ ý mà phán xét mà đồng tình hay không đồng tình nhưng hẳn là không dễ gì bác bỏ với ai đó là người biết rõ thế nào là sự tìm tòi vất vả đối với chân lý khoa học ở tầm cỡ lớn.
4. Cuốn sách Tư tưởng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy thực ra chưa phải đã bao gồm hết mọi vấn đề của lịch sử tư tưởng đã có ở phương Đông. Ngay phần nói về tư tưởng Việt Nam trong cái gọi là tư tưởng phương Đông này thì quả thật là còn ít ỏi chưa đủ độ bề thế so với phần nói về tư tưởng Trung Hoa. Nhưng những gì cụ Huy đã phát biểu về tư tưởng Việt Nam vẫn là thể hiện cách nghĩ hết sức độc đáo của cụ, một học giả lớn. Luận điểm của cụ về cá tính Việt Nam là "nước" đành là có dấu vết của tư tưởng triết học Lão Tử nhưng vẫn là một luận điểm đáng cho chúng ta suy ngẫm mặc dù tác giả chỉ mới nói qua. Rồi quan điểm của cụ về tư tưởng triết học và văn hoá của Tự Đức nói riêng, của Triều Nguyễn nói chung rõ ràng cũng để lộ bản lĩnh riêng của cụ mà có thể có người đồng tình, có người không hẳn đã đồng tình. Riêng tôi thì đồng tình bởi từ lâu tôi đã không muốn nghĩ về triều Nguyễn, về Tự Đức một cách quá đơn giản như đó đây từng bắt gặp.
Trong một bài viết về Giáo sư Trần Đức Thảo trong dịp qua đời, Giáo sư Trần Văn Giàu có nói: Nếu Việt Nam có một người đáng gọi là triết gia thì đó là Giáo sư Trần Đức Thảo, Giàu này chỉ là giáo sư triết học. Tôi rất mong rằng hôm nay đọc xong Tư tưởng phương Đông của Giáo sư Cao Xuân Huy, Giáo sư Trần Văn Giàu sẽ nói bổ sung cho, mặc dù tự tôi cũng có thể làm việc bổ sung đó.
 
                                                                        Nguyễn Đình Chú

Nguồn: http://www.viet-studies.info/NguyenDinhChu_ImLangCuaNui.htm

Đọc thêm:

GS Cao Xuân Huy với "Tư tưởng phương Đông" (1950 - 1960 - 1979)

Công trình “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của giáo sư Cao Xuân Huy, được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1995, dày 446 trang gồm 3 phần:
- Phần I: Chủ toàn và chủ biệt, hai ngã rẽ trong triết học Đông Tây, nêu 7 vấn đề lớn: các bi kịch của sự đồng nhất hoá, phương thgức chủ toàn và phương thức chủ biệt của tư tưởng; Thiết vấn pháp của bản thể luận; bản thể và nguyên lý đồng nhất tính; vận động, phát triển về không gian và thời gian; tri giác về thế giới, do lai của ý thức
- Phần II: Tư tưởng Việt Nam từ truyền thống tới canh tân, nêu 4 nội dung: Lê Quý Đôn và học thuyết lý khí; Tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức; chủ thuyết canh tân của Nguyễn Trường Tộ; một giả thuyết làm việc trong quá trình nghiền ngẫm lịch trình tư tưởng dân tộc.
- Phần III: Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc, gồm 11 vấn đề: Xã hội và tư tưởng cổ đại Trung Quốc; Khổng Tử; Lão Tử; Mặc Tử; Mạnh Tử; Trang Tử; Tuân Tử; Pháp gia và Hàn Phi; sơ lược về sách Liệt Tử và học thuyết Dương Chu; Tổng luận Chu Dịch; Tư tưởng triết học Phật giáo Lục Triều, Tuỳ, Đường

Đây là kết quả thể hiện công phu và quá trình nghiền ngẫm lâu dài của tác giả về tư tưởng phương ĐỒng có những kiến giải minh triết và sâu sắc. Nhà nước đã đánh giá cao công trình này, truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996
Giáo sư Cao Xuân Huy sinh ngày 28/5/1900 tại Diễn Châu, Nghệ An, mất năm 1983

GS. Cao Xuân Huy với các cán bộ Viện Văn học
GS. Cao Xuân Huy (thứ 3 từ trái sang, hàng đầu) cùng các học trò
admin [Trang Tin tức Sự kiện] 

16 tháng 12, 2010

Biến đổi khí hậu tác hại đồng bằng Cửu Long

HOCMOINGAY. Thời tiết bất thường ở Việt Nam, nơi cần nắng thì mưa tầm tã, nơi cần lũ thì không có lũ, dự báo xâm nhập mặn sẽ diễn ra sớm và khốc liệt ở đồng bằng sông Cửu Long. Phải chăng Việt Nam bắt đầu chịu tác động của khí hậu biến đổi. Theo tin Nam Nguyên, phóng viên RFA

Báo Nông Nghiệp Việt Nam bản tin trên mạng ngày 7/12 tường thuật hội nghị sản xuất lúa đông xuân 2010-2011 vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ở Bạc Liêu ghi nhận, Tổng cục Thủy lợi dự báo xâm nhập mặn sẽ diễn ra sớm và sâu hơn những năm trước, lượng mưa 11 tháng của năm 2010 ở đồng bằng sông Cửu Long kém hơn hẳn mọi năm, ước tính giảm khoảng 15%.

Hai ngày sau, hãng thông tấn Reuters của Anh Quốc có bài viết từ Long Xuyên nhận định là, đất canh tác nhiễm mặn chỉ là một trong nhiều thách thức cấp thời về môi trường đang gia tăng ở Việt Nam, tình trạng càng thêm tồi tệ vì ảnh hưởng biến đổi khí hậu. Khả năng điều phối của chính phủ để thực hiện các biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu đang bị thử thách.

Lũ, hạn, biển mặn xâm nhập

Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên, ông Nguyễn Văn Thặng Phó Tổng Cục Trưởng Thủy Lợi nhận định:

“Khí hậu biến đổi rất là thất thường, người ta cứ nói biến đổi khí hậu nước biển dâng là bài toán tương lai, nhưng thực ra mấy năm nay hàng ngày chúng ta luôn bị cái thất thường ấy của thời tiết.

Ví dụ như năm nay miền Trung lũ chồng lũ, thiết kế thủy lợi phục vụ sản xuất cũng không đặt vấn đề lũ chồng lũ. Trong khi đồng bằng sông Cửu Long mùa lũ mà không có lũ thì chắc chắn ảnh hưởng thời vụ.

Ở đồng bằng sông Hồng thông thường mực nước lũ trên sông mười mét thì năm nay chỉ khoảng trên 6 mét, dự báo ngang Hà Nội có thể chỉ còn 0,1 mét. Các hồ thủy điện thì cạn kiệt, so với năm ngoái hụt khoảng 1,7 tỷ m3 cho ba hồ thủy điện, so với mực nước thiết kế thì bị hụt khoảng 4,4 tỷ m3. Nói chung khí hậu thất thường, lượng mưa ‘dữ’ đấy chính là biến đổi khí hậu.”


Thu hoạch giảm

Báo Cần Thơ điện tử trong bản tin về hội nghị sản xuất vụ đông xuân 2010-2011 vùng đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận Sở NN&PTNT các tỉnh thành kiến nghị Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long sớm đưa ra nhiều giống lúa chịu mặn, chịu ngập và chịu hạn trước tác động biến đổi khí hậu. Theo tờ báo, riêng tỉnh Bạc Liêu diện tích vụ đông xuân 2010-2011 phải cắt giảm 3.000 héc-ta so với vụ trước nhằm đề phòng tác động của xâm nhập mặn.

Một người trồng lúa vùng ven biển dễ ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long phát biểu với chúng tôi:

“Thông thường đến giữa tháng 12 âm lịch là cao điểm mặn xâm nhập ở quê tôi, có những cống tự động để ngăn mặn nhưng tôi thấy mỗi năm xâm nhập mặn càng vô sâu thêm trong đất liền. Những giống lúa kháng được mặn là nói vậy thôi, mặn trên 3 phần ngàn cây lúa nào cũng bị ảnh hưởng, làm không có năng suất.”

Theo Reuters, nhiều nghiên cứu cho thấy Việt Nam là một trong những nước chịu nhiều thiệt hại nhất của tình trạng biến đổi khí hậu, điển hình như mực nước biển dâng cao và thời tiết bất thường.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long bị đe dọa đặc biệt, nơi này làm ra một nửa sản lượng lúa của cả nước và cung cấp gần như toàn bộ lượng gạo hàng hóa xuất khẩu đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ nhì thế giới. Khoảng 1/5 dân số 86 triệu của Việt Nam sống tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi là một trong những vùng đa dạng sinh thái hàng đầu trái đất.

Báo cáo của chính phủ Việt Nam hồi năm ngoái cho thấy 1/3 vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập chìm nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m. Các vùng ven biển khác cũng chìm dưới nước, thời tiết thất thường sẽ tác động lũ lụt, hạn hán và làm giảm sản lượng lúa thu hoạch.

Khảo cứu của Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế trong năm nay ước tính nếu nước biển dâng thêm 17cm, kèm theo những biến đổi thời tiết có thể làm giảm 18,4% sản lượng lúa trên toàn Việt Nam vào năm 2030.

Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Dương Văn Ni Giám đốc Trung tâm Đa dạng Sinh học Hòa An Trường Đại học Cần Thơ nhận định, tác hại của biến đổi khí hậu đến sớm hơn hay nói cách khác đang xảy ra.

Theo ông, có thể thấy sự rủi ro của Đồng bằng sông Cửu Long trên ba góc độ, thứ nhất là qui hoạch bất cập về nguồn nước giữa các tỉnh thành. Thứ hai là các nước hai bên dòng Mekong tận dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp và thứ ba là thủy điện bậc thang được các nước xây dựng trên dòng Mekong.

Trời kêu ai nấy dạ

TS Dương Văn Ni nhận định là cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm để giúp đỡ người dân thích nghi với tình trạng môi trường thay đổi ở đồng bằng sông Cửu Long.

“Nếu chúng ta có một hệ thống cảnh báo sớm và chính xác, tôi nghĩ rằng với kinh nghiệm vốn sống sẵn có của người dân thì người ta có thể thích nghi được.

Đưa ra một hệ thống cảnh báo sớm là chuyện không dễ dàng. Đồng bằng sông Cửu Long ở cuối nguồn một con sông lớn, muốn cảnh báo phải có hết thông tin trên lưu vực thượng nguồn sông Cửu Long, đây là một thách thức rất lớn, nhiều quốc gia ở phía thượng nguồn chúng ta chưa sẵn sàng chia xẻ thông tin. Thiếu những nguồn thông tin như vậy thì việc đòi hỏi chương trình dự báo hay cảnh báo sớm quả là một thách thức không nhỏ.”


Theo TS Dương Văn Ni, người dân đồng bằng sông Cửu Long do điều kiện tự nhiên, đã sống từ hàng trăm năm nay trong bối cảnh không thuận lợi. Ở từng vùng người dân thích nghi nhiều mặt để duy trì cuộc sống và có sản xuất tốt, vùng ven biển họ chuyển đổi sản xuất bớt lệ thuộc nước ngọt, thí dụ chuyển từ trồng lúa sang mô hình vừa lúa vừa tôm, hoặc nơi nào mặn quá thì chuyển hẳn sang nuôi tôm, cua, cá kèo những loài có thể thích nghi với nước mặn.

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long nói với chúng tôi là họ tự mình đối phó với xâm nhập mặn bằng nhiều cách và mỗi lần thất bại là một bài học đầy tốn kém:

“Vụ đông xuân năm rồi nước mặn xâm nhập, người ta tự khoan ‘cây nước’ tức là khoan giếng nước ngầm. Mỗi héc-ta khoan hai giếng dùng máy rút nước ngầm lên, lượng dầu để rút chi phí quá cao, năm nay họ bỏ vì không hiệu quả, có người làm tới mười mấy giếng khoan sau mới thấy không hiệu quả. Trước đây nhà nước cũng khuyến khích khoan giếng ngầm để đối phó với mặn.

Bây giờ một là người ta xạ giống ngắn ngày, khi cây lúa được hai tháng thì bơm nước, thời điểm mặn chưa xâm nhập sâu vẫn còn nước ngọt bơm lên giữ lại không cho thoát ra tới khi cắt lúa, làm như vậy năng suất lúa không được cao nhưng cũng đỡ hơn là thất trắng .”


Từ hai năm qua chính phủ Việt Nam đã thiết lập Chương trình mục tiêu quốc gia đối phó với biến đổi khí hậu. Trong dịp trả lời Nam Nguyên về vấn đề đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước canh tác, TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long phát biểu:

“Chính phủ đã có hướng qui hoạch lại vùng trồng lúa, thứ hai nghiên cứu những giống lúa thích nghi với biến đổi khí hậu như nắng nóng, khô hạn, ngập mặn, ngập úng …thứ ba là bố trí giống cây trồng cho phù hợp, thứ tư là áp dụng kỹ thuật thích ứng thích nghi với biến đổi khí hậu. Cuối cùng là tìm cách phối hợp với các nước trong vùng tạo mối liên kết trong vấn đề nước sông Mekong. Đặc biệt các nước Đông Dương cần ngồi lại với nhau vì nước sông Mekong không chỉ ảnh hưởng cho một mình Việt Nam.”

Đối với nông dân đồng bằng sông Cửu Long, trồng trọt đánh bắt nuôi thủy sản mọi thứ trông ở trời, dù trong hoàn cảnh nào cũng cam chịu và nỗ lực để sinh tồn. Nếu hỏi một nông dân về tình trạng biến đổi khí hậu nước biển dâng làm chìm ngập 1/3 đồng bằng sông Cửu Long, câu trả lời sẽ là trời kêu ai nấy dạ."


( RFA, http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReviewOnlineDomesticPress/Mekong-delta-to-be-suffered-early-climate-change-nnguyen-12112010105246.html )

21 tháng 11, 2010

Đã từng thất bại


HỌC MỖI NGÀY. Những thất bại, va vấp mà chúng ta trải qua trong đời cũng có ý nghĩa và giá trị của riêng nó, mỗi người phải có lúc thất bại đến đau đớn để hiểu mình hơn và hiểu người hơn. Để rồi để có yêu thương, sẻ chia, nâng đỡ và tha thứ.Thất bại không chỉ giúp chúng ta trưởng thành hơn, mà còn làm chúng ta con người hơn."  Một bài hay từ trang của Thanh Thủy

Chẳng ai tìm kiếm thất bại. Nhưng thất bại, dù chúng ta vì trách nhiệm trước bản thân mình và những người xung quanh, cố gắng né tránh nó, vẫn tìm đến với mỗi người vào những thời điểm riêng.
Một nhà tuyển dụng nói với tôi rằng: Nếu chỉ được chọn một giữa hai ứng viên có khả năng tương đương, người tràn trề tự tin và luôn chiến thắng; kẻ có phần dè dặt bởi đã từng phải nếm mùi thất bại, thậm chí là cay đắng, anh ta sẽ chọn người thứ hai. Những người đã từng thất bại đã học cách thất bại, và đó là bài học đắt đỏ nhất và vì thế cũng quý giá nhất.
Bill Gates từng thổ lộ dù biết rằng nhân viên của mình là những người giỏi nhất, nhưng ông vẫn có một điều lo lắng về những kẻ giỏi giang và tràn ngập tự tin này, đó là “họ chưa từng nếm mùi thất bại”. Tại sao? Có lẽ bởi nếu chưa từng thất bại, thì chưa thể biết sự mạnh mẽ của con người là sự mạnh mẽ của Đá hay của Nước.
Một thạch trụ nặng hàng ngàn tấn có thể một ngày kia đổ sập. Nhưng Nước, bạn sẽ thấy nó khi rắn lạnh, khi tươi mát, uốn lượn mềm mại mà vượt qua tất cả, thiên biến vạn hoá mà vẫn là chính mình, có mặt ở khắp các đại dương và trong từng tế bào sống.
Sự tự tin của một người chỉ mới biết đến chiến thắng và sự tự tin của những người đã từng trải qua thất bại là khác biệt. Đó là sự tự tin của người biết và sự tự tin của người hiểu. Để đi từ Biết đến Hiểu, chẳng thể tránh khỏi quá trình phải chiêm nghiệm bằng chính mình qua những lần vấp ngã.
Bạn có thể nhận biết một người thành đạt không phải lúc họ ăn mừng chiến thắng, mà ở lúc họ đối diện với khoảnh khắc biết mình thua cuộc, bấn loạn hay bình tĩnh, đổ lỗi cho vận đen hay nhận lỗi về mình, khóc than hay tìm hiểu căn nguyên thất bại, vùi lấp bản thân trong tuyệt vọng hay tiếp tục tìm kiếm những cơ hội khác.
Những người đã từng thất bại, bạn có thể nhận ra điều ấy trong mắt họ, sâu lặng hơn và trầm ngâm hơn, đôi mắt của những người hiểu được nỗi đau của thời kỳ trượt dốc.
Những kẻ nông nổi sẽ bảo rằng họ có cái vẻ thu mình của kẻ nhút nhát, yếu đuối. Nhưng những kẻ hiểu đời sẽ nhận thấy trong đó có sự dè dặt khôn ngoan, náu mình đợi chờ thời cơ thích hợp. Họ có thể không phải là người đầu tiên, nhưng sẽ là người đúng lúc. Có thể không phải là người mạnh nhất, nhưng sẽ là người cuối cùng trụ lại.
Những người đã từng thất bại, bạn có thể nhận thấy họ trong cách đối xử với con người, yêu thương hơn và xót xa hơn, bởi họ yêu thương và xót xa bằng những trải nghiệm đau đớn của chính bản thân mình, xuất phát tự sự yêu thương và xót xa chính mình.
Và bởi thế bạn biết rằng, những thất bại, va vấp mà chúng ta trải qua trong đời cũng có ý nghĩa và giá trị của riêng nó, mỗi người phải có lúc thất bại đến đau đớn để hiểu mình hơn và hiểu người hơn. Để rồi để có yêu thương, sẻ chia, nâng đỡ và tha thứ.
Thất bại không chỉ giúp chúng ta trưởng thành hơn, mà còn làm chúng ta con người hơn.

Nguồn: Thanh Thủy

Đăng lại từ báo Hoa Học Trò

25 tháng 10, 2010

Chiếc chậu thau đồng


HỌC MỖI NGÀY. Bà Hải có một chiếc chậu thau đồng nhỏ, cũ kỹ và móp méo. Thời sơ tán, đi đâu bà cũng tha chậu đi, nhưng chỉ để đựng gạo chứ không bao giờ dùng nó để giặt giũ. Sau này, mấy bận dọn nhà mới, bà vứt đi nhiều thứ tầm tầm, riêng cái chậu thau đồng bà vẫn cẩn thận mang theo, cất kỹ trong tủ.



Có một việc duy nhất bà dùng đến cái chậu thau bé nhỏ là hoá vàng vào những ngày rằm, mồng một và giỗ chạp. Hoá vàng xong, bà rửa chậu sạch sẽ, lau khô rồi lại cất vào tủ.

Con cháu bà dần quen với với việc bà đặc biệt quý cái chậu thau cổ lỗ sĩ, coi đó như một thói lẩn thẩn của người già.

Bà Hải có một thói lẩn thẩn nữa là sợ nước. Đi sơ tán, việc gì khó mấy, vất vả mấy bà cũng xung phong nhận, nhưng xin các thủ trưởng hãy tha cho bà chuyện lội đồng, xuống ao, ra sông. Sau này, mỗi lần cơ quan tổ chức liên hoan trên du thuyền Hồ Tây, bà đều cố tìm cách vắng mặt. Mấy chú thanh niên cứ nằng nặc lôi bà đi. Ngồi trên du thuyền đi vòng hồ, mặt bà trắng bệch, tuyệt nhiên không cầm đũa gắp lấy một miếng.

Người ta cười bà sợ nước.

Hôm qua thằng con trai đầu của bà đi Hà Tĩnh về. Cơ quan nó tổ chức một đoàn đại biểu vào tận nơi trao quà cho các gia đình bị nạn. Quà gồm 40 cái phong bì, mỗi phong bì 500 ngàn đồng. Tổng cộng là 20 triệu. Thằng con kể có nhiều chuyện thương tâm lắm. Có nhà chết hai ba người. Có nhà chết người lớn, để lại con thơ, có nhà vợ mất chồng.

Bà Hải lặng yên ngồi nghe, gần cuối mới hỏi:

- Thế đoàn các anh đi ba ngày chi phí hết bao nhiêu?

Anh con trai kế toán trưởng không dấu diếm gì mẹ:

- Dạ, khoảng tám mươi triệu ạ.

Bà Hải mím môi không nói gì. Mãi sau bà mới nói với anh con cả:

- Mai mẹ làm cơm, con báo cho tất cả các con cháu tập trung ở đây nhé.

Người con trai biết tính mẹ, không dám hỏi mai là ngày gì mà lại tập trung ăn cơm.



*

* *

Khoảng 11g hôm sau, bốn gia đình con dâu rể cháu có mặt đầy đủ.

Cô dâu trưởng chạy vào bếp định giúp một tay thì người giúp việc bảo bà làm xong hết cả rồi, bà dặn mọi người chờ bà tụng kinh xong là ăn cơm.

Tiếng bà tụng kinh gõ mõ từ tầng 4 vọng xuống. Không một đứa cháu nào dám lên chào bà khi bà đang tụng kinh. Nửa giờ sau bà mới xuống, khoác bộ đồ nâu nhà chùa, tay cầm gói vàng mã.

Mở tủ lấy cái chậu thau đồng cũ, bà mang ra sân, từ từ hóa xong chỗ vàng mã rồi mới vào nhà bảo con cháu dọn cơm ra ăn.

Bữa liên hoan gặp mặt đại gia đình chỉ có hai món: Đậu phụ rán và rau muống luộc. Đám trẻ con nhìn nhau. Người lớn thì không dám hé răng hỏi. Bà Hải mời cả nhà ăn cơm, bảo ăn xong bà có chuyện muốn nói.

Nhìn bữa cơm chay đạm bạc, ai cũng thất vọng. Nhưng ăn vào vẫn thấy ngon. Mấy đứa trẻ quen cơm gà giò chả, mấy người lớn quen lẩu nọ lẩu kia hôm nay ăn một bữa chay cũng thấy hay hay.

Ăn xong, bà Hải gọi mọi người quây quần quanh bàn nước. Nhìn thái độ bà khác mọi ngày, ai cũng nơm nớp.

- Mỗi lần nhà ta có việc, mỗi gia đình đóng góp bao nhiêu thì hôm nay xin bỏ ra bấy nhiêu.

Bác cả nộp một triệu, ba người em mỗi người nộp năm trăm ngàn. Bà Hải cho số tiền hai triệu rưỡi vào phong bì, đặt lên cái đĩa trên bàn thờ.

Bà ra sân lấy cái chậu thau đồng bây giờ đã nguội, đổ tro vào túi ni lông rồi cẩn thận rửa sạch cái chậu. Lau khô chậu bằng một cái khăn mặt mới, bà kính cẩn đặt cái chậu cũ kỹ lên mặt bàn nước.

- Năm 1956 quê mình lụt to lắm. Nước ngập hết. Nhà mình nước lên đến gần vì kèo. Bố bà, tức là cụ ông của các cháu, đang công tác xa. Ở nhà chỉ có cụ bà, bà và hai người em. Bà 7 tuổi, ngồi trên vì kèo tre. Ông Hoàn 3 tuổi ngồi trong cái thúng bọc vải mưa còn bà Hiền mới 6 tháng thì nằm trong cái chậu thau đồng này. Cả hai thứ lềnh bềnh trên mặt nước.

Bà Hải chỉ vào cái chậu thau bé tí.

- Bà lấy tay giữ cái thúng và chậu thau để hai em khỏi bị lật xuống nước. Thỉnh thoảng cụ trèo lên nhòm qua lỗ mái tranh xem trời bên ngoài mưa gió đến mức nào. Toàn bộ thức ăn là mấy củ khoai sống mà cụ phải lặn xuống mò lên sau khi bố trí được cho ba người con an toàn.

Rất lạnh. Bà ngồi ngâm chân trong nước. Ông Hoàn và bà Hiền tuy không bị ướt nhưng cũng lạnh. Bà Hiền nằm trong chậu thau càng lạnh hơn.

Ông Hoàn được ưu tiên gặm khoai nên chịu nằm yên. Riêng bà Hiền khóc ghê quá vì khát sữa.

Cụ cố gắng nhét vú vào miệng con. Nhưng sau hai ngày không ăn không uống, ngâm mình trong nước lạnh nên sữa cạn khô. Bà Hiền khóc khản tiếng, rồi không khóc nữa, nằm im.

Thấy em nằm im hơn nửa ngày không khóc, bà hỏi cụ:

- Sao em Hiền không khóc nữa?

Cụ nói mà mắt nhìn đi chỗ khác:

- Chắc là em thiếu sữa nên lả đi.

Lúc đó bà còn bé quá, bà đâu biết là bà Hiền đã chết. Bà Hiền chết khi mới 6 tháng tuổi, chết ngay trong cái chậu thau này! Chết vì đói và lạnh.

Mấy ngày sau nước rút. Cụ mang bà Hiền đi chôn, quấn con trong cái chiếu rách, làm gì có quan tài. Chôn con xong cụ mới ngồi khóc. Nếu còn sống, năm nay bà Hiền 54 tuổi rồi đó.

Quê mình hay bị thiên tai bão lụt. Tháng tháng bà đều để dành khi được dăm chục, khi một trăm để hễ cứ nghe tin trong quê có lụt là bà lại gửi ngay về cho bác Thiện làm ở Uỷ ban xã để bác ấy chuyển cho những gia đình có người bị nạn.

Cái phong bì hai triệu rưỡi mà các con đóng góp kia, mai bà cũng sẽ gửi về cho bác Thiện. Bà cảm ơn tất cả các con các cháu hôm nay đã cùng bà ăn chay niệm Phật chia sẻ với bà con vùng bão lụt.

Mọi người kính cẩn nhìn chiếc chậu thau đồng. Bác cả đứng dậy, chắp tay lạy cái chậu thau rồi mở ví, có bao nhiêu trong đó là bỏ hết vào chậu thau.

Mấy người em làm theo. Bọn trẻ con nhìn nhau, đứa nào trong túi có đồng nào cũng bỏ hết vào chậu.

Phan Chí Thắng
http://pcthang.vnweblogs.com/post/2432/264542

THƯƠNG VỀ MIỀN TRUNG


Miền Trung chìm trong lũ . Hãy chung tay cứu trợ nhân đạo và giúp người thận.

Sau lũ nông dân vùng lũ: đói càng đói thêm, nghèo càng nghèo thếm. Làm gì ?

Coi chừng đói và dịch bệnh !!! Những câu hỏi nhức nhối và lo lắng toàn xã hội .

http://foodcrops.vn/en/news/1-thuong-ve-mien-trung.html

15 tháng 10, 2010

Những chuyện góp nhặt dạy và học

HỌC MỖI NGÀY. "Học mà dối, nhà rồi còn khổ, bà con buồn, chúng bạn cười chê; thi mà gian, nước sẽ u mê, nền giáo dục muôn đời khốn khó. Học phải thật, thi càng phải thật, mới giúp cho đất nước chấn hưng, muôn kiếp nguyện giữ gìn xã tắc; sống vì dân, thác cũng vì dân, lời dụ dạy đã rành rành, chớ bán đứng sông này núi nọ. Nước mắt trường thi lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thi đua; bằng tốt nghiệp mực chưa khô, cám bởi một câu thành tích" (Nguyễn Quang Lập). Chuyện không đọc chỉ một lần...



GẶP THỜI, ĐƯƠNG THỜI VÀ HẾT THỜI

Hiệu Minh


Hiệu Minh chưa bao giờ bàn về chuyện thầy Đỗ Việt Khoa chống tiêu cực trong thi cử và những bung xung quanh đó. Nhưng đọc tin gần đây về thầy Khoa “đương thời” thành “hết thời”, bỗng tự hỏi, không hiểu ngành giáo dục nước nhà đi về đâu trong những năm sắp tới. Thầy Nguyễn Thiện Nhân cũng sang công tác khác, để lại một khoảng lặng trong bài ca về sự nghiệp trồng người.

Những người gặp thời
Khi bác Nguyễn Thiện Nhân cắp cặp từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhậm chức Bộ trưởng Bộ GD thì xảy ra vụ thầy giáo Đỗ Việt Khoa coi thi tại Hội đồng thi Trường THPT Phú Xuyên A. Ông giáo làng này dùng điện thoại di động quay video làm chứng cứ “tố cáo những gian lận thi cử, làm bùng lên dư luận xã hội bất bình và bức xúc trước những tiêu cực trong giáo dục nhiều năm đã ủ thành bệnh nan y” như “cô giáo” Kim Dung từng viết.

Như vậy cả hai đều gặp thời. Thầy Nhân “gặp” thầy Khoa trong một dịp hiếm có để bàn về cách “chống bệnh thành tích trong học tập và tiêu cực trong thi cử”, và “xây dựng một phương pháp học sáng tạo, thực chất, học là phải dùng được”, rồi “đổi mới phương pháp học tập theo xu hướng tiên tiến của thế giới”.

Còn thầy Khoa được báo chí tung hô, trở thành nổi tiếng, vì sau vụ đó, thầy Hiệu trưởng THPT Vân Tảo Từ Ngọc Lĩnh làm chủ tịch Hội đồng thi bị cách chức. Sở GD&ĐT Hà Tây (cũ) cử Phó phòng Giáo dục thường xuyên, thầy Lê Xuân Trung về làm hiệu trưởng trường Vân Tảo.

Bác Nhân gặp thời, bác Khoa gặp thời, bác Trung gặp thời, báo chí truyền thông gặp thời, chỉ có thầy Từ Ngọc Lĩnh bị “oan” nên…thất thời. Cả nước quay cóp không sao, mình trường ông Lĩnh chịu, hu hu.

Đến đương thời

Thầy Đỗ Việt Khoa đang từ một anh giáo làng bỗng nổi tiếng như cồn. Sau vụ PMU18 ngành truyền thông trải qua cơn sốc, nhà báo thiếu bài vở nên thi nhau hẹn gặp. VTV3 mời lên trò truyện trong mục “Người đương thời”. Người ta có cảm giác ngành Giáo dục đang chuyển mình.

Tuy nhiên, dân quanh làng bác Khoa ở không thích lắm. Học hành kiểu “thầy đọc trò ghi” rồi về nhà nhai lại “Rắn là một loài bò, sát không chân” thì không quay cóp làm sao qua được.

Thầy Trung và đồng nghiệp lại càng chán vì thầy Khoa không hiểu…thời cuộc. Chuyện gì đến đã đến. Thầy Lê Xuân Trung đã bị tố cáo nhiều sai phạm từ lạm thu, phạt học sinh nghỉ học.



Máy ảnh bị ném xuống mương. Ảnh: VNE

Đêm 14/11/2008, hai bác bảo vệ THPT Vân Tảo là Trần Văn Xường và Nguyễn Văn Đông, không hiểu nghe ai xúi dại, xông vào nhà chửi bới và cướp máy ảnh của thầy giáo Khoa, một công cụ hành nghề thời chống tiêu cực khó khăn trăm bề.

Công an huyện Thường Tín tạm giam bác bảo vệ “nhẹ dạ” Trần Văn Xường vì hành vi cướp giật tài sản. Còn chiếc máy ảnh của thầy Khoa hỏng hoàn toàn do bị ném xuống mương nước cạnh trường.

Rồi vụ kiện chả đi đến đâu, “người đương thời” Đỗ Việt Khoa chẳng được bảo vệ đến cùng và hóa ra bị thất thế. Trường đá lên sở, sở đá lên bộ, bộ đá lại về trường. Mọi việc đâu vào đó. Chỉ có người đọc tin trên báo thở dài ngao ngán cho một cung cách làm ăn phi hệ thống.

Bộ trưởng GD đương thời làm được vài vụ động trời. Chính sách mới “chống tiêu cực trong thi cử” xuất hiện ngay cuối năm học 2007. Kết quả nhãn tiền. Chỉ tính riêng hệ trung học phổ thông kỳ thi lần một chỉ có 67,5% đỗ tốt nghiệp (thậm chí có trường không đỗ học sinh nào). Tổ chức thi lại cũng chỉ đạt 80,38%.

Học sinh, phụ huynh, giáo viên kêu thấu trời xanh vì trước đó toàn đạt trên 95% tốt nghiệp. Bây giờ thành tích đi bay, con cái trượt phổ thông biết đi về đâu để hội nhập.

Tuy thế, dư luận xã hội khá đồng tình và người ta đợi trong tương lai gần, nền GD trồng người sẽ biết gieo nhân vào mảnh đất nào cho nẩy mầm xanh. Bao hy vọng lại nhen nhóm về một tương lai tốt đẹp cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa, mà thiếu tố chất giáo dục, thì vẫn là anh nông dân với cái cầy trên thửa ruộng trong thế giới toàn cầu hóa.

Và hết thời nhưng chuông vẫn ngân nga

Bốn năm trôi qua như bóng câu bay ngoài cửa sổ. Nghe nói thầy Nhân đã thôi chức “đương thời” để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới, quan trọng hơn.

Thầy Đỗ Việt Khoa chán đời nên quyết định từ chức anh giáo làng và thành người…hết thời.

Nhà báo Xuân Oanh của VNN “bỗng” nhớ ra thầy Văn Như Cương, hiệu trưởng trường tư nhân Lương Thế Vinh rất nổi tiếng. Giáo sư này từng hùng hồn tuyên bố “sẽ nhận thầy Đỗ Việt Khoa về làm việc nếu thầy gặp khó khăn” hồi năm 2007.

Khi hay tin thầy Khoa sẽ nghỉ việc, trao đổi với VietNamNet chiều 21/5/2010, vị giáo sư râu dài đến ngực này nói “bây giờ thì tôi không nhận thầy nữa vì nhận thức đã thay đổi”. Thầy Cương có lý khi nói về sự “đương thời” của thầy Khoa có vấn đề không bình thường.

Mọi sự đồn đoán cũng chỉ là đồn đoán. Người ngoài cuộc không thể biết trong chăn có rận hay không. Thôi đành biết vậy vì nhìn trên ảnh, râu thầy Cương chả quặp đi chút nào.

Chỉ biết thầy Nhân đã hết thời bên Giáo dục, thầy Khoa hết thời của anh giáo trường làng “thấp cổ bé họng”, thầy Cương và thầy Trung vẫn đương thời làm…hiệu trưởng.

Người ta đang tự hỏi, rồi ngành giáo dục sẽ đi về đâu sau khi chứng kiến những bi kịch trên. Lời thề đổi mới phương pháp học tập theo xu hướng tiên tiến của thế giới, rồi đào tạo 20 ngàn tiến sỹ, tăng học phí cho giáo dục bậc đại học, tăng trách nhiệm tự chủ tài chính cho các trường đại học, không hiểu bây giờ đang ở hang cá trê nào.

Bước chân quan trường của ai đó vẫn rong ruổi trên đường đời, để lại phía sau những thông điệp, mới nghe rất hay, nhưng quả là khó thực hiện.

Đừng trách thầy Cương “thất hứa” hay thầy Trung “giữ ghế”, vì miếng cơm manh áo ở đời thực quan trọng hơn cả sự nổi tiếng đương thời ảo trên VTV hay thế giới online. Đừng chê báo chí đưa tin theo kiểu tung hô. Không có nhà báo làm sao những thông điệp về thay đổi có thể tới hàng triệu người đọc.

Chả nên trách thầy Nhân, vì trong một cơ chế bùng nhùng, “mắc lưới” là phải thôi. Đừng trách thầy Khoa bỏ cuộc vì có lẽ thầy và gia đình hiểu đời cay đắng hơn ai vì con thầy từng bị chuyển trường, cả nhà bị đe dọa. Cách làm của thầy có thể gây tranh cãi, nhưng trái tim và bầu nhiệt huyết dành cho thế hệ tương lai khỏi bàn cãi. Những gì hai thầy để lại phía sau cho ngành giáo dục rất đáng quí, là tiếng chuông cảnh tỉnh “cần thay đổi tận gốc sự nghiệp trồng người” sẽ ngân nga không bao giờ dứt.

Du học 40 năm trước, tôi từng nghe tiếng kèn tây da diết Hejnał Mariacki bỗng bị ngắt quãng ở thành phố cổ Krakow (Balan) vang lên từng giờ từ trên nóc nhà thờ St. Mary’s Basilica.

Theo dòng lịch sử, người thổi kèn xưa kia bị bắn tên trúng vào cổ khi ông tìm cách báo động quân địch xứ Mongolia của Thành Cát Tư Hãn đang tấn công thành phố. Hàng vạn người được cứu sống vì người lính dũng cảm này. Vì thế, tiếng kèn tiếp tục được thổi theo cách bị nghẹn lại cho đến hôm nay ở thành phố cổ có cung Vavel xinh đẹp dù đã sau cả ngàn năm.

“Tiếng kèn” Đỗ Việt Khoa từ miền đất hẻo lánh Vân Tảo nhằm chống tiêu cực trong giáo dục có thể bị nghẹn lại vì cơ chế. Với vài cá nhân có thể là thất bại, là mất mát, là hết thời như người lính thổi kèn thành Krakow.

Nhưng với số đông và dư luận báo chí xung trận, thì đó là bước tiếp theo. Thời vận của ngành này đã mở sang trang mới. Rồi một thầy cô khác sẽ bước theo Đỗ Việt Khoa như tiếng kèn Hejnał Mariacki tồn tại mãi với thời gian.
                                             Bùi Minh Trí cởi trần trên website Bộ GD.


Viết tới đây tôi chợt nhớ ra cậu học trò “hacker” Bùi Minh Trí tấn công trang chủ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cậu bé 17 tuổi dám cởi trần “làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục ” thay thầy Nhân trên trang web trong mấy ngày.

Phải chăng, cũng như các lãnh đạo ngành khác, vị đứng đầu Bộ với trọng trách trồng người đôi khi phải có tố chất “không còn gì để mất” như Bùi Minh Trí cởi trần online. Lúc đó mới mong sự thay đổi thật sự đến từ nhiều phía, giải phẫu được khối u đang có nguy cơ sang giai đoạn cuối của ngành Giáo dục.

Hiệu Minh. 23/05/2010

PS. Entry này như một lời gửi gắm chân thành tới thầy Khoa, thầy Nhân và tất cả những ai đồng tình, giúp khuấy động công cuộc cải cách Giáo dục. Khi con tầu đã chuyển bánh thì khó mà dừng lại được. Đó cũng là cách Blog HM nhìn về hiện tượng Đỗ Việt Khoa.

(Nguồn: blog Hiệu Minh)


CHUYỆN VỀ THẦY ĐỔ VIỆT KHOA BÂY GIỜ MỚI KỂ XONG

Thảo Dân

Cuộc đời thầy Đỗ Việt Khoa đã làm nên hai sự kiện. Nhưng cả hai sự kiện ấy ngẫm đi ngẫm lại đều là những sự kiện buồn. Ngành giáo dục có thay đổi được gì đáng nói sau sự kiện thứ nhất thầy Khoa làm nên hay không? Tôi không dám chắc. Nhưng cuộc đời thầy Khoa thì thay đổi, nhưng là một thay đổi buồn…

Thầy Khoa đã dũng cảm lên án những “phần tối” trong nhà trường. Hồi đó, nhiều người cứ tưởng ngành giáo dục nhân cơ hội ấy mà dọn dẹp căn nhà có không ít nhếch nhác và bừa bộn của mình. Thế nhưng, ngày tháng cứ trôi đi, mọi chuyện trở lại yên ắng như không gian “bình yên” sau một tiếng nổ.

Ngay từ ngày ấy, không ít người có suy nghĩ cẩn trọng đã dự báo rằng: những động thái của ngành giáo dục đối với thầy Khoa chỉ là một cách đối phó và lựa theo dư luận chứ không phải muốn thay đổi thực sự. Bởi ngày ấy, sự kiện thầy Khoa là một “quả bom” làm chấn động dư luận.

Đến ngay cả một giáo sư danh tiếng và cẩn trọng như giáo sư Văn Như Cương cũng tuyên bố sẵn sàng bảo vệ thầy Khoa đến như thế cơ mà. Rồi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã về thăm thầy Khoa. Rồi các phương tiện truyền thông vào cuộc rầm rộ. Còn các giáo viên thì chỉ lấy sự kiện của thầy Khoa mà bàn tán, tranh cãi với người khen, kẻ chê… tán loạn.

Hầu như tất cả chúng ta bị sự kiện thầy Khoa cuốn đi và không làm sao cưỡng nổi. Nó cho thấy ngành giáo dục đã xuống cấp đến mức nào. Nó cho thấy xã hội muốn có một cuộc cách mạng đối với ngành giáo dục nước nhà. Nhưng hình như kết quả từ sự dũng cảm của thầy Khoa chỉ có tác dụng làm cho truyền thông “bốc” lên. Việc “bốc” lên của truyền thông cũng chẳng có gì lạ vì đó chính là một trong những đặc điểm của nó.

Thế rồi đến bây giờ, thầy Khoa lại làm ra sự kiện thứ 2 khi thầy buồn bã và có phần tủi thân thông báo sẽ rời bỏ ngành giáo dục vĩnh viễn. Sự kiện lần này không “nổ to” bằng sự kiện lần thứ nhất nhưng nghe cay đắng và ê chề hơn.

Nhưng cay đắng và ê chề hơn cho thầy Khoa khi xã hội nghe giáo sư danh tiếng Văn Như Cương chối từ không nhận thầy Khoa vào trường mình nữa cho dù thầy Khoa chưa chắc có ý định đó. Có một người bạn học thân thiết của thầy Khoa đã khóc như một nỗi tủi hổ khi đọc những lời của giáo sư Văn Như Cương trả lời báo chí và nói kỹ đến mức phũ phàng về thầy Khoa.

Anh thương bạn mình quá. Cho dù có những lúc anh đã tâm sự và khuyên thầy Khoa không nên làm thế này hay chỉ nên làm thế kia. Anh hiểu bạn mình có lúc đã không nhìn nhận vấn đề thật thấu đáo. Anh cũng hiểu bạn mình quả thực bị dư luận xã hội lúc đó có lúc làm cho “choáng váng”.

Nhưng anh hiểu bạn mình đấu tranh từ những ngày đầu là xuất phát từ sự chân thành và không thể đứng nhìn những trò phi giáo dục trong ngành giáo dục. Anh nói thầy Khoa không ảo tưởng gì về mình như lời giáo sư danh tiếng Văn Như Cương nói mà thầy Khoa cứ tưởng hầu hết những người trong xã hội ủng hộ thầy, đứng về phía thầy bởi những lợi ích cho chính con em họ hay vì lợi ích cho xã hội.

Thế là thầy Khoa lao vào chiến đấu với những gì mà cá nhân thầy cho rằng những cái đó đang nguy hại cho ngành giáo dục. Thầy Khoa cứ tin rằng phía sau mình là cả một biển người đi theo thầy. Nhưng thực ra người ta chỉ đứng xem thầy như một sự tò mò. Chỉ có rất ít người thực sự ủng hộ thầy mà cũng lo cho thầy. Và đếnkhi chiến đầu mãi không giành được chiến thắng, thầy Khoa quay lại và bắt đầu thấy hoang mang.

Cuối cùng, thầy tự đầu hàng. Cứ cho là những lời nhận xét của giáo sư danh tiếng Văn Như Cương là đúng thì có nên nói ra như thế không về một người là thầy Khoa đã phải dùng đến hạ sách cho cuộc đời mình.

Người bạn của thầy Khoa hiểu rõ rằng: nếu thầy Khoa có ảo tưởng bởi báo chí tung hô quá mức hay Người đương thời gì đó thì trong đó có cả sự ảo tưởng đến từ sự bênh vực của một người danh tiếng chính là giáo sư Văn Như Cương. Tìm hiểu ra mới thấy giáo sư Văn Như Cương là một trong những người làm thầy Khoa tin tưởng mãnh liệt nhất. Bởi thầy Khoa vô cùng kính trọng giáo sư và hoàn toàn tin sự lên tiếng sẵn sàng nhận thầy Khoa đã làm thầy Khoa như bị “sốc” thuốc.

Không phải thầy Khoa tin vào việc giáo sư danh tiếng Văn Như Cương nhận thầy Khoa khi có mệnh hệ nào để mình vẫn có việc làm mà nuôi con, mà thầy Khoa tin vào việc mình đấu tranh là hoàn toàn đúng. Cũng như những món quà tặng hay bằng khen thì không phải là bằng khen hay quà mà là lòng tin của thầy Khoa vào việc làm của mình và tin vào xã hội quanh mình.

Nhưng sau những ngày “thăng hoa”, những người đứng về phía thầy Khoa và lên tiếng về ngành giáo dục dần dần rút lui và để lại trận chiến cho một kẻ duy nhất là thầy Khoa. Thế là thầy Khoa chẳng biết “kẻ thù” của ngành giáo dục đang ở phía nào. Thầy Khoa những ngày tháng sau đó giống như một người lính chẳng có người chỉ huy. Nhưng trong lúc đó, quanh thầy đầy tiếng la ó, tiếng dọa dẫm của “kẻ thù”. Vì thế, thầy Khoa có hoảng hốt mà “bắn” loạn xạ âu cũng là chuyện dễ hiểu.

Lúc đầu tôi cứ nghĩ sự kiện đầu của thầy Khoa đã kể xong câu chuyện về ngành giáo dục và về xã hội chúng ta. Nhưng đến khi sự kiện thứ hai của thầy Khoa xẩy ra thì mới ngã ngửa người ra rằng: câu chuyện về thầy Khoa bây giờ mới kể xong.

Vâng câu chuyện đã kể xong. Nghe mà buồn thấu ruột. Nghe mà ứa nước mắt về nhiều chuyện. Không biết thầy Khoa và những người hiểu đúng câu chuyện này sẽ buồn đến khi nào?

(Nguồn: VNN)

THƯA THẦY VĂN NHƯ CƯƠNG 
Thanh Chung

Thưa thầy,

Khi gõ tên thầy với đầy đủ dấu tiếng Việt, trong vòng 0,41 giây, anh “Google” cho 7,690,000 kết quả. Theo Wikipedia, ” Văn Như Cương (sinh 1937) là một nhà giáo Việt Nam, nhà biên soạn sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học bộ môn hình học, Ủy viên Hội đồng giáo dục quốc gia Việt Nam. Ông là một Tiến sĩ toán học, được phong học hàm phó giáo sư. Nhiều bài báo có ghi ông là Nhà giáo Nhân dân, tuy nhiên ông đã chính thức phủ nhận việc ông có danh hiệu này. Ông là người đầu tiên lập ra trường dân lập tại Việt Nam vào thời kỳ đổi mới [2] là trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh-Hà Nội.”

Năm 2001, con trai em thi tốt nghiệp trung học cơ sở với tổng số trên 50 điểm cho sáu môn. Cháu đỗ vào chuyên Pháp hệ B trường Amsterdam và hệ A trường Chu Văn An, nhưng em vẫn quyết tâm nộp hồ sơ cho cháu vào trường Lương Thế Vinh của thầy. Ơn giời, cháu đủ điểm vào lớp A1 – nghĩa là “chọn của chọn”. Tỷ lệ đỗ đại học ở các lớp này thường đạt từ 90 đến 100%. Đến tận thời điểm này, em chưa hề ân hận về quyết định đó của mình, mặc dù con trai em và các bạn nó luôn nói: “mẹ muốn biết về trường LTV thì phải hỏi con”. Gần đây nhất, khi cô bạn em nhờ tư vấn về các trường cấp 3 trong nội thành Hà Nôi, em lại khuyên cô ấy cho con thi vào Lương Thế Vinh. Kể dài dòng như vậy chỉ cốt để nói rằng em đã ngưỡng mộ và kính trọng thầy biết nhường nào.

Thưa thầy Văn Như Cương, cách đây vài ngày, báo chí lề phải và dân cư mạng rộ lên chuyện thầy Đỗ Việt Khoa xin nghỉ việc. Sẽ chẳng có lý do gì để nhắc đến tên thầy trong “sự kiện ĐVK” nếu không có lời hứa của thầy cách đây bốn năm. Mặc dù đã xác định với báo chí sẽ “ở nhà giúp đỡ vợ chăm sóc, dạy 2 đứa con cho tốt, phụ vợ đi chụp ảnh, cài đặt máy tính, internet”, nhưng em tin trong thâm tâm, thầy Khoa vẫn trông chờ vào sự ủng hộ của dư luận xã hội, của ban lãnh đạo Bộ GD-ĐT và cả của ông hiệu trưởng trường Dân lập danh tiếng LTV. Việc thầy Khoa lên gặp lãnh đạo Bộ GD-ĐT thông báo quyết định của mình được xem như cố gắng cuối cùng của người bơi ngược dòng đã đuối sức, hy vọng một chiếc phao sẽ được quăng ra trước khi bị dòng nước nhấn chìm.

Thưa thầy Văn Như Cương, thầy hoàn toàn có quyền rút lại lời hứa khi nhận thức của thầy về ĐVK thay đổi. Bốn năm đủ để cho một tân sinh viên trở thành cử nhân, đủ để cho một nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sĩ, và cũng đủ để cho một người từng ở vị trí “đương thời” ngã ngựa trở thành kẻ thất thế vì thiếu thức thời. Em và nhiều người có thể tin ĐVK đã quá ấu trĩ và ‘dại dột’ khi quyết định đơn thương độc mã chống lại tiêu cực trong thi cử của ngành giáo dục. Nhưng em không tin ĐVK “không bình thường cả về tư duy, nhận định và đánh giá mình” như thầy đã trả lời phóng viên Kiều Oanh trên báo Vietnamnet.

Nếu một diễn viên điện ảnh có thể ứng cử để trở thành tổng thống Mỹ như ngài Ronald Reagan, hay thống đốc bang California - Arnold Schwarzenegger thì tại sao một giáo viên tâm huyết với nghề không thể tự ứng cử đại biểu quốc hội? một luật sư tài cao, học rộng như Cù Huy Hà Vũ không thể tự ứng cử vào vị trí Bộ trưởng? Nếu do “không bình thường” mà ngài luật sư CHHV phát đơn kiện Thủ tướng trong dự án Bô-xit, mà thầy ĐVK kiện BGH trường Vân Tảo vì những thu chi tài chính thiếu minh bạch thì em kính trọng lòng dũng cảm đến “bất bình thường” của họ.

Thưa thầy, thầy nói sở dĩ ĐVK bị bạn bè đồng nghiệp cô lập là vì anh luôn kè kè máy ghi âm và máy ảnh ở mọi lúc mọi nơi. Nếu phải sống ở môi trường mà đi chậm 2 phút sẽ không được vào họp Hội đồng; gọi hết hơi khản tiếng không thấy ai, nhưng chỉ vừa trèo qua cổng thì hai ông bảo vệ lập tức xuất hiện (như đã rình sẵn) áp tải đi trước con mắt của đồng nghiệp và học trò như một kẻ tội phạm thì liệu ĐVK có nên tìm mọi cách để tự bảo vệ mình không? Bẫy giăng ra khắp nơi: từ nhà đến trường, từ cổng trường lên lớp. Sống trong môi trường như vậy mà ĐVK không bị “tâm thần” mới là chuyện lạ. Thầy tin rằng ĐVK “có vấn đề” bởi chẳng thể nào tất cả mọi người từ thanh tra của Sở tới bạn bè đồng nghiệp, từ ông hiệu trưởng cũ bị “gặp hạn” đến ông phó phòng giáo dục mới được điều về đều chống lại Khoa. Nếu phải bỏ ra ba chục triệu để “chạy” một suất biên chế trong hệ thống trường công; nếu phản đối cán bộ lãnh đạo sẽ bị trù dập, mất việc làm thì em tin khi ông hiệu trưởng gọi “con bò” là “giống lợn ăn cỏ”, đa số giáo viên cũng sẽ ồ à “lợn, lợn”. Người không đồng tình sẽ cúi mặt lặng thinh. Nếu ông hiệu trưởng trường Vân Tảo tổ chức bỏ phiếu “bất tín nhiệm” với ĐVK bằng cách giơ tay biểu quyết, em đồ rằng chẳng có ai dám cả gan ngồi im. Thầy từng là người tiên phong đi đầu trong việc mở trường Dân lập để được thực hiện ý tưởng của mình, sao thầy vẫn còn tin vào “tâm lý đám đông”?

Thưa thầy, trong bối cảnh giáo dục hiện nay, có 1001 lý do khiến các trường dân lập ngại nhận ĐVK. Họ bị áp lực từ phía các cổ đông, từ phía cha mẹ học sinh và cả từ phía báo chí. Bên cạnh những trường dân lập có chất lượng cao như LTV, Marie-Cuirie, Nguyễn Tất Thành (Hà Nội) được “quyền” tuyển sinh ngang ngửa với hệ thống trường chuyên lớp chọn Amsterdam, Chu Văn An, chuyên Sư phạm, chuyên Tổng hợp… nhiều trường dân lập chỉ nhằm mục đích “trông trẻ” và “xóa mù” cho tất cả những “cậu ấm, cô chiêu” không có chỗ trong các trường công đúng tuyến và trái tuyến. Dù trường LTV của thầy được biết đến như một “trại lính” vì tính kỷ luật cao: Không có học sinh nhuộm tóc “hi-lite”, móng chân móng tay tô vẽ, mặc áo hai dây, mặc quần trễ cạp tới trường; Nổi tiếng về nghiêm túc trong thi cử: đề thi kiểm tra 1 tiết, cuối học kỳ đều do các chuyên gia giáo dục soạn thảo; bài thi của học trò được giao cho một cơ quan độc lập đánh giá, cho điểm; bàn học được thiết kế như ở các nước phát triển, không có ngăn bàn để ngăn chặn quay cóp… thì các vị phụ huynh vẫn không muốn có thêm gánh nặng tâm lý cho con em mình khi có một vị “hắc tinh” của bệnh thành tích và những thói tiêu cực trong Hội đồng nhà trường. Các cổ đông sẽ không để cho ngài chủ tịch Hội đồng quản trị yên ổn khi “thượng đế” của mình ùn ùn kéo nhau đến chuyển con em mình sang trường khác. Nhận ĐVK, ông hiệu trưởng sẽ được báo chí tung hô như “người đương thời” một thưở, để rồi trường họ trở thành “điểm đến”cho những đoàn thanh tra giáo dục, của phóng viên hàng trăm tờ báo giấy và báo “net” với nhưng tiêu đề giật gân câu khách. Nhiều khi “cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”.

ĐVK đã mệt mỏi sau bốn năm làm chàng Đonkiôtê. Con gái anh từng không muốn nhận là “con bố Khoa”, vợ từng muốn dắt con bỏ đi khỏi làng vì sự ghẻ lạnh của đồng nghiệp của chồng và cộng đồng. “Tôi không xin nghỉ thì họ cũng sẽ cho thôi việc”. Theo pháp lệnh công chức, hai năm liên tục không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị buộc thôi việc. Đằng này bốn năm liền ĐVK là giáo viên duy nhất không hoàn thành nhiệm vụ. BGH trường Vân Tảo chưa buộc anh thôi việc chắc còn vì “nể người anh hùng” của ngài cựu bộ trưởng NTN. ĐVK đã tự nhận mình thua cuộc, đã buông xuôi mọi thứ. Đối thủ của anh phủi tay, thở phào nhẹ nhõm. Người khôn ngoan rút được kinh nghiệm cho mình, rút sâu vào trong vỏ ốc. Kẻ “non gan” từng ngấm ngầm ủng hộ anh nay lại ngấm ngầm đau khổ. Giáo dục nước nhà như cỗ pháo tuột dây đang trôi xuống dốc. Thêm một Tô Vĩnh Diện nữa hy sinh.

Thưa thầy Văn Như Cương, thầy hoàn toàn có lý khi không ném ra một sợi dây cho ĐVK lúc anh sắp trôi vào vùng nước xoáy. Nhưng giá như không có bài trả lời phỏng vấn của thầy trên Vietnamnet ngày 23 tháng 5 vừa rồi, số người cho rằng anh “dại dột” sẽ cao hơn số người bị thuyết phục rằng anh “có vấn đề về tâm thần”. Độc giả tin tưởng vào “vị Phó giáo sư lẫy lừng VNC” là chuyện đương nhiên. Chỉ có em tự nhiên lẩn thẩn, thấy như kẻ vừa bị ngã ngựa đã bị vó ngựa hất thêm xuống vực. Buồn!

(Nguồn: Blog Thanh Chung)


CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

Da Vàng

Mấy ngày qua dư luận đang xôn xao về việc thầy Đỗ Việt Khoa xin nghỉ dạy học tại Trường THPT Vân Tảo (Thường Tín, Hà Nội). Thế là một lần nữa chuyệnvề thầy Đỗ Việt Khoa trở thành đề tài cho báo chí và các blogger bình luận.

Tôi đón nhận tin này bình thường như một sự thật hiển nhiên, như một quy luật tự nhiên vốn dĩ phải vậy.

Chuyện thầy Đỗ Việt Khoa xin nghỉ dạy là hệ quả của những điều tất yếu.

Tạm thời không bàn đến những lỗi cá nhân mà thầy Đỗ Việt Khoa mắc phải như quá đề cao bản thân khi có ý định trở thành đại biểu Quốc Hội. Dẫu biết rằng đó là quyền và suy nghĩ của cá nhân mỗi người, tuy nhiên để trở thành người đại biểu của dân thực sự thì cần có những điều kiện khác nữa chứ không chỉ có những hành động mang tính nhất thời.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, tôi chỉ bàn đến những lý do dẫn đến quyết định xin nghỉ dạy của thầy Đỗ Việt Khoa.

Trước hết, thầy là nạn nhân của sự tung hô quá trớn từ báo chí. Đỗ Việt Khoa từ một ông giáo làng bổng chốc trở thành người hùng, trở thành nổi tiếng, trở thành “người đương thời”, …

Trong một xã hội mà những tiêu cực trong thi cử tràn lan, mọi người ai cũng đều nhìn thấy thực trạng này như một cái ung nhọt của ngành giáo dục nói riêng, của xã hội nói chung thì việc làm của thầy Khoa được mọi người xem như người sáng mắt giữa thế giới người mù. Rất dễ bị những người xung quanh xem là “không bình thường” rồi xa lánh, cách ly, trù dập.

Sau khi những phát hiện và tố cáo của Thầy Khoa thì hàng loạt các phong trào được tạo ra như: Nói không với gian lận trong thi cử, phong trào hai không, ba không, … Các phong trào này có sức sống yếu ớt để rồi sau đó mọi chuyện lại trở về với cái thuở ban đầu ấy.

Nếu báo chí và các nhân vật có liên quan nhân cơ hội đó mà tạo được một tiếng nói mạnh, có những giải pháp đủ sâu và rộng để giải quyết vấn nạn gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy trường, … thì kết cục nghề giáo của Thầy Khoa đã khác.

Báo chí dựng lên “người đương thời” nhưng sau đó lại để “người đương thời” ấy lạc lõng một mình loay hoay chiến đấu giữa muôn trùng vây kẻ địch. Cuộc chiến đấu này quả là cuộc chiến không cân sức, để rồi Thầy Khoa giống như chàng hiệp sĩ Đôn-Ki-Hô-Tê chiến đấu một cách yếu ớt, vô hồn với những cối xay gió.

Người đương thời giờ đây trở thành người hết thời, nghiệp trồng người bị gián đoạn nữa chừng, bị mọi người xung quanh ghẻ lạnh, xa lánh.

Phải chăng việc thầy Khoa xin nghỉ dạy là hệ quả tất yếu của cuộc chiến không cân sức trong công cuộc đấu tranh cho một nền giáo dục trong sạch, phát triển, nhân văn.

Người đương thời rồi sẽ là ai? Ai sẽ là người dám nói lên tiếng nói lương tâm? Ai dám nói lên tiếng nói về một tương lai giáo dục sánh ngang tầm thời đại mới?

(Nguồn: Blog Da Vàng)


THI CỬ TẾ CA

Nguyễn Quang Lập


Hỡi ôi!
Thi cử An Nam; lòng dân trời tỏ.
Mười hai năm đèn sách, chưa chắc còn danh nổi tợ phao; một cuộc vượt vũ môn, tuy là rớt tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:
Cung cúc chấp hành; toan lo Sở, Bộ.
Chưa quen nói thật, đâu biết làm ngay; chỉ biết khai man, biến không thành có.
Việc dối, việc gian, việc bơm, việc nịnh, tay vốn quen làm; tập liêm, tập chính, tập kiệm, tập cần, mắt chưa từng ngó.
Ôn tập tủ phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi lộ đề vấy vá nửa trăm năm, ghét thi thật như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy sở về thăm trường lớp, muốn tới xun xoe; ngày xem trát Bộ nhắn nhe, muốn ra bợ đỡ.
Một núi sách ôn đồ sộ, há để trên thua lỗ được a; hai tốt Bộ phán chói lòa, hay là để treo dê, bán chó.
Muốn giật cờ, bằng, phần thưởng, phen này xin ra sức báo công; chẳng thèm ôn tập luyện thi, chuyến này dốc ra tay quan hệ.

Khá thương thay:
Vốn chẳng phải học hàm, học vị, theo dòng mua tước bán danh; chẳng qua là dân ấp, dân lân, giỏi chạy chọt nên ông này bà nọ.
Thanh tra đoàn to toán nhỏ, cưỡi ngựa xem hoa; giám sát tốp dưới tổ trên , nghe hơi nồi chõ.
Ngoài cật có một manh áo vải, phải lo che cho hết phao thi; trong tay cầm một ngọn bút bi, cần giấu kín mobile, ipod
Phao thi nhét trong nịt ngực, cố bôi cho hết sáu câu; công thức chép kín hai đùi, toan nuốt trọn mấy bài thi khó.
Chẳng quản thanh tra, giám sát, đạp rào lướt tới, có họ cũng như không; nào sợ bảo vệ, công an, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ câu phao, người người tin nhắn, làm cho giám thị thất kinh; bọn hè trước, lũ cửa sau, trối kệ hội đồng nhăn nhó.

Ôi !
Những lăm đổi mới trường thi; đâu biết ngọn tre đơm đó.
Một giấc ủy viên rằng chữ hạnh, nào hay kiếm mướt mồ hôi; trăm năm phó thủ tướng ấy chữ quy, vận hạn xem chừng cũng khó.
Đoái trông tốt nghiệp thí sinh mấy vạn sầu giăng; nhìn chốn học đường, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Chẳng phải học thật, dạy hay bốn cõi, mà chống bệnh thành tích cho cam tâm; vốn không tu nhân, tích đức lâu năm, mà hiệu lực bốn không cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:
Đã thi thì phải đỗ, tài bồi trường, sở bằng khen; phết phẩy cho vài điểm thêm, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến thầy trò khó nhọc, tốn kém quà cáp phông bao; vì ai xui gửi gắm cho nhau, mớm bài làm hộ.
Phải biết chi cho ban phúc khảo, thay bài thi thêm điểm dổm, mới gọi là khôn; Chớ nghe theo đám thật thà, không luồn dưới, chẳng đút trên, thế thì trượt cho chỏng vó.
Thà tốn mà được bằng tốt nghiệp, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ hỏng thi, năm sau lại thi rất khổ.

Ôi thôi thôi !
Dột từ nóc, quanh năm hô khẩu hiệu, tấm lòng son vứt xó chẳng ai dùng; chuyện thi đua nói thế để mà chơi , chỉ tội nghiệp đám trung thần tưởng bở.
Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, tiền ôn thi ba sào lúa chưa xong; não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, bầy thi hỏng vật vờ trước ngõ.

Ôi !
Hết một mùa thi, vạn người kêu khổ.
Trên dưới vẫn quen lề thói cũ, hèn chi bốn phía mây đen; ông cha ta nói lắm mỏi mồm, ai cứu đặng một phường con đỏ.
Học mà dối, nhà rồi còn khổ, bà con buồn chúng bạn cười chê; thi mà gian, nước sẽ u mê, nền giáo dục muôn đời khốn khó.
Học phải thật, thi càng phải thật, mới giúp cho đất nước chấn hưng, muôn kiếp nguyện giữ gìn xã tắc; sống vì dân, thác cũng vì dân, lời dụ dạy đã rành rành, chớ bán đứng sông này núi nọ.
Nước mắt trường thi lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thi đua; bằng tốt nghiệp mực chưa khô, cám bởi một câu thành tích.
Hỡi ôi thương thay !
Có linh xin hưởng.


Nguồn: Blog Quê Choa
http://quechoablog.wordpress.com/2010/05/25/gap-thoi-duong-thoi-va-het-thoi/

Người theo dõi