Lưu trữ Blog

7 tháng 2, 2011

Chào mừng mạng doanh nhân trí thức NES

HỌC MỖI NGÀY. Chào mừng mạng doanh nhân trí thức NES kho tri thức giàu thông tin về phản biện xã hội, văn hoá, khoa học kỹ thuật  Trong chùm bài đầu xuân có bài của giáo sư Phan Huy Lê " Khách quan- Trung thực- Công bằng về chúa Nguyễn, triều Nguyễn"   và bài  của  giáo sư Joseph S. Nye, "Tính hiện thực của quyền lực ảo" .



Khách quan- Trung thực- Công bằng
về chúa Nguyễn, triều Nguyễn


GS. Phan Huy Lê

Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX:



1. Quá trình nhận thức và yêu cầu của hội thảo


Nhận thức lịch sử là một quá trình tiến tới tiếp cận lịch sử một cách càng ngày càng khách quan, trung thực, gần với sự thật lịch sử nhất trong khả năng của các nhà sử học. Tôi nói gần với sự thật lịch sử nhất trong hàm ý là giữa lịch sử khách quan và lịch sử được nhận thức bao giờ cũng có một khoảng cách mà mục tiêu và ước vọng của các nhà sử học là rút ngắn khoảng cách đó.


Khả năng này tùy thuộc vào rất nhiều nhân tố, trước hết năng lực của nhà sử học biểu thị ở trình độ lý thuyết và phương pháp luận, cách tập hợp và xử lý các nguồn thông tin, mặt khác là cách nhìn và động cơ của nhà sử học liên quan đến những tác động chi phối hay ảnh hưởng của bối cảnh chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta cùng nhau thảo luận để nhìn nhận, đánh giá lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử hay cả một giai doạn, một thời kỳ lịch sử.


Thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XIX là một trong những thời kỳ lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đáng giá hết sức khác nhau, có lúc gần như đảo ngược lại.


Vương triều Nguyễn để lại những bộ chính sử đồ sộ của vương triều biểu là bộĐại Nam thực lục[1]và Đại Nam liệt truyện[2]. Những bộ chính sử của vương triều bao giờ cũng chép theo quan điểm chính thống của vương triều đang trị vì và nhằm tôn vinh công lao, sự nghiệp của vương triều. Trên quan điểm chính thống đó, Sử quán triều Nguyễn phê phán những thế lực đối lập như chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, các lực lượng chống đối như coi Tây Sơn là "ngụy triều"...


Trong xu hướng canh tân phát triển mạnh thời Tự Đức, một số nhà trí thức cấp tiến đã dâng lên triều đình nhiều bản điều trần đầy tâm huyết. Trong số điều trần này, một số tác giả đã nêu lên trên tinh thần phê phán những mặt tiêu cực, lạc hậu của đất nước thời Nguyễn, nhất là về kinh tế, quốc phòng và giáo dục. Tiêu biểu nhất là Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ.


Như vậy là trong thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, bên cạnh quan điểm chính thống tôn vinh vương triều, cũng đã có những góc nhìn khác từ những đề nghị canh tân của những trí thức cấp tiến.


Trong thời Pháp thuộc, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của người Việt Nam, người Pháp, phần lớn theo xu hướng vận dụng phương pháp luận hiện đại của phương Tây. Các công trình nghiên cứu tập trung nhiều nhất vào việc khảo tả các di tích lịch sử, văn hóa, các nghi lễ, các công trình nghệ thuật và các nhân vật lịch sử cùng quan hệ giao thương với nước ngoài, các thương cảng, đô thị, nhất là kinh thành Huế. Những kết quả nghiên cứu này, ngoài những ấn phẩm in thành sách, thường là các luận văn đăng tải nhiều nhất trên Bulletin des Amis du Vieux Hue (BAVH), Bulletin de l’ Ecole française d’ Extrême-Orient (BEFEO) và trên tạp chí tiếng Việt như tạp chí Tri tân, Nam phong, Trung Bắc chủ nhật"[3]... .Một số bộ sử An Nam của người Pháp như Histoire moderne du pays d’ Annam của Charles Maybon[4], Lecture sur l’ histoirre d’ Annam của Ch. Maybon và H. Russier[5] cũng nhấn mạnh công thống nhất đất nước và những thành tựu của triều Nguyễn, đồng thời có xu hướng nêu cao vai trò trợ giúp của một số sĩ quan và kỹ thuật Pháp.


Trong những nghiên cứu cụ thể về từng phương diện như vây tuy không đưa những nhận xét đánh giá chung về các chúa Nguyễn hay vương triều Nguyễn, nhưng tạo ra cơ sở khoa học cho những khái quát về thời kỳ lịch sử này. Những nhận xét mang tính đánh giá thể hiện rõ hơn trong những một số công trình về thông sử Việt Nam.


Ví dụ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, trong đó một mặt tác giả biện giải triều Tây Sơn không phải là "ngụy triều" như cách nhìn nhận chính thống của sử triều Nguyễn, mặt khác nêu cao công cao thống nhất đất nước "đem giang sơn về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương nam vậy"[6] Tác giả đánh cao những thành tựu thời Gia Long, Minh Mệnh, nhưng cũng phê phán triều Tự Đức để cho đất nước suy yếu và lâm vào"sự nguy vong.


Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến năm 1975, trong thời kỳ chiến tranh, công việc nghiên cứu nói chung có bị hạn chế, số lượng các công trình nghiên cứu chuyên đề không nhiều. Nhưng chính trong bối cảnh này đã xuất hiện một khuynh hướng phê phán gay gắt các chúa Nguyễn cũng như các chúa Trịnh và đặc biệt là vương triều Nguyễn thế kỷ XIX. Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc trong thời gian từ 1954 phản ánh trên một số luận văn trên tạp chí Văn sử địa, Đại học sư phạm, Nghiên cứu lịch sử và biểu thị tập trong những bộ lịch sử, lịch sử văn học, lịch sử tư tưởng Việt Nam...


Mỗi tác giả và tác phẩm tuy có mức độ khác nhau, nhưng tựu trung đều chung khuynh hướng phê phán các chúa Nguyễn (cũng như các chúa Trịnh) đã chia cắt đất nước, vương triều Nguyễn mở đầu bằng hành động cần viện tư bản Pháp, phong kiến Xiêm để tiến hành cuộc chiến tranh chống Tây Sơn và kết thúc bằng sự đầu hàng quân xâm lược Pháp. Thời kỳ nhà Nguyễn bị kết án là thời kỳ chuyên chế phản động nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Khuynh hướng đó gần như trở thành quan điểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa đại học và phổ thông.


Thái độ phê phán gay gắt trên có nguyên do sâu xa trong bối cảnh chính trị của đất nước thời bấy giờ và trong cách vận dụng phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu.


Quan điểm trên nẩy sinh, xác lập trong những năm từ 1954-1956 và phát triển mạnh cho đến những năm 70 của thế kỷ XX. Đó là thời kỳ cả dân tộc đang tiến hành cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, thống nhất tổ quốc. Trong thời kỳ đó, độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia là mục tiêu cao cả, có ý nghĩa thiêng liêng của cuộc chiến đấu. Vì vậy khi nhìn lại lịch sử, bất cứ hành động nào xúc phạm hay đi ngược lại độc lập và thống nhất đều bị phê phán. Cuộc tranh luận về sự thống nhất đất nước thời Tây Sơn và nhà Nguyễn cũng tiến hành trong không khí chính trị đó và đã xuất hiện quan điểm cực đoan cho rằng Tây Sơn đã hoàn thành, thậm chí hoàn thành triệt để nhiệm vụ khôi phục quốc gia thống nhất. Bối cảnh lịch sử của cuộc chiến tranh đã tác động đến thái độ của nhiều nhà sử học trong nhìn nhận và đánh giá về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, nhất là các cơ quan khoa học trong hệ thống chính trị đương thời.


Nguyên nhân về vận dụng phương pháp luận là thuộc trách nhiệm của các nhà sử học. Đây là thời kỳ nền sử học hiện đại xây dựng trên hệ tư tưởng Mácxít đang hình thành và trong vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nhĩa duy vật lịch sử phạm những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức, máy móc. Theo lý thuyết về hình thái kinh tế xã hội, thời bấy giờ đang thịnh hình quan điểm cho rằng chế độ phong kiến Việt Nam hình thành trong thời Bắc thuộc, phát triển đạt đến độ cực thịnh ở thời Lê sơ thế kỷ XV và bắt đầu suy vong từ thế kỷ XVI, rồi lâm vào tính trạng khủng hoẳng trầm trọng vào thời cuối Lê và nhà Nguyễn.

Như vậy là thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn được đặt vào khung suy vong, khủng hoẳng của chế độ phong kiến và trong bối cảnh đó thì giai cấp phong kiến không còn vai trò tích cực, không còn đại diện cho lợi ích dân tộc. Áp dụng lý thuyết hình thái kinh tế xã hội và đấu tranh giai cấp một cách giáo điều đã dẫn đến những hệ quả đưa ra những phân tích và đánh giá lịch sử thiếu khách quan, không phù hợp với thực tế lịch sử. Không riêng các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn mà những nhân vật lịch sử liên quan, và rộng ra cả vương triều Mạc trước đó, đều bị đánh giá theo quan điểm chưa được khách quan, công bằng như vậy.


Công cuộc Đổi mới khởi đầu từ năm 1986, bắt đầu từ đổi mới tu duy kinh tế, sau đó dần dần được mở rộng sang các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Năm 1988 Hội Khoa học lịch sử Việt Nam được tổ chức lại trên phạm vi cả nước và một trong những hoạt động khoa học đầu tiên là tổ chức cuộc Hội thảo khoa học"Sử học trước yêu cầu Đổi mới của đất nước" tại Hà Nội năm 1989 và tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1990 với sự tham gia của nhiều nhà sử học và những ngành liên quan của khoa học lịch sử như khảo cổ học, dân tộc học, bảo tàng và bảo tồn học, văn hóa học. .


Hội thảo đã đạt được sự đồng thuận cao trong khẳng định những thành tựu của nền sử học hiện đại Việt Nam, vai trò và cống hiến của sử học trong thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, trong cuộc sống xã hội đồng thời nghiêm khắc nêu lên những mặt hạn chế, những yếu kém và khuyết tật để khắc phục. Về mặt này, hội thảo đã nêu lên ba mặt yếu kém quan trọng nhất về tư duy sử học là: - Khuynh hướng giáo điều, công thức trong vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, - Khuynh hương "chính trị hóa lịch sử", dùng lịch sử để minh họa một số quan điểm chính trị có sẵn, tự hạ thấp tính độc lập, vai trò sáng tạo của khoa học lịch sử, - Khuynh hướng "hiện đại hóa lịch sử" theo ý nghĩa là trình bày lịch sử quá khứ như hiện đại, không tôn trọng tính đặc trưng của từng thời kỳ lịch sử[7]


Trong hội thảo, nhiều tham luận và phát biểu cũng đã nêu lên yêu cầu đổi mới tu duy sử học theo hướng tiếp cận và nhận thức đối tượng một cách khách quan, trung thực nhất trong khả năng cao nhất của sử học. Một loạt vấn đề, trong đó có những giai đoạn lịch sử như triều Hồ, triều Mạc, các chúa Nguyễn, triều Nguyễn được đưa ra phân tích để minh chứng cho những nhận định phiến diện, thiếu tính khách quan, khoa học trước đây.

Từ cuối những năm 80, nhất là từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, công việc nghiên cứu về thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã được triển khai và đạt nhiều thành tựu mới theo xu hướng tư duy khách quan, trung thực. Ngoài các công trình nghiên cứu của cá nhân, một đề tài Khoa học cấp nhà nước mang tiêu đê " Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay", mã số KX-ĐL: 94-16 do PGS Đỗ Bang làm chủ nhiệm đã được thực hiện năm 1995-1996 với sự tham gia gần như của giới sử học cả nước. Phạm vi nghiên cứu dần dần được mở rộng trên tất cả lĩnh vực của thời kỳ lịch sử này, từ kinh tế, xã hội đến chính trị, văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật...Nhiều công trình khoa học được xuất bản hay đăng tải trên các tạp chí khoa học, gần hai chục cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức ở thành phố Huế, thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội[8]. Một số luận án Tiến sĩ đã chọn đề tài trong thời kỳ lịch sử các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn. Một số học giả nước ngoài cũng quan tâm nghiên cứu thời kỳ này và khá nhiều công trình đã được công bố, trong đó có một số công trình đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam[9].


Trong nhận định và đánh giá về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX dĩ nhiên còn có những khác biệt giữa các tác giả và còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, thảo luận. Nhưng mẫu số chung của những công trình nghiên cứu trong vài thập kỷ trở lại đây ở trong nước cũng như nước ngoài là thống nhất cần phải khai thác những nguồn tư liệu phong phú, phân tích và xử lý một cách khoa học để nâng cao nhận thức về thời kỳ này một cách khách quan, trả lại các giá trị đích thực cho các triều vua chúa, các nhân vật lich sử, nêu cao những cống hiến tích cực, đồng thời phân tích cả những mặt hạn chế, tiêu cực.


Về cơ sở tư liệu thì trong lịch sử Việt Nam cho đến cuối thế kỷ XIX, chưa có thời kỳ nào có những nguồn tư liệu phong phú, đa dạng như thời kỳ các chúa Nguyễn, nhất là thời kỳ vương triều Nguyễn. Ngoài các bộ chính sử và địa chí của vương triều, còn có nhiều nguồn tư liệu gốc mang giá trị thông tin rất cao như Châu bản[10] , địa bạ[11], văn bia[12], gia phả và các tư liệu do người nước ngoài ghi chép. Các nguồn tư liệu trên đang được sưu tầm và khai thác có hiệu quả cung cấp những dữ liệu mới cực kỳ phong phú để nghiên cứu sâu các vấn đề của thời kỳ lịch sử các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.


Các nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu cho đến nay đã tạo lập một cơ sở khoa học vững chắc để giới sử học và các nhà khoa học trên các lĩnh vực liên quan cùng nhau nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng đối với vai trò và cống hiến của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, phân tích một cách khách quan mặt tích cực và cả mặt hạn chế, mặt mạnh và cả mặt yếu. Đó chính là lý do và yêu cầu của cuộc Hội thảo khoa học tầm cỡ quốc gia của chúng ta tổ chức nhân dịp 450 năm chúa Nguyễn Hoàng rời quê hương xứ Thanh vào mở cõi phương Nam.


2. Phạm vi và nội dung chủ yếu của hội thảo


2.1. Về khung thời gian


Thời kỳ các chúa Nguyễn bắt đầu từ năm 1558 khi chúa Nguyễn Hoàng rời quê hương xứ Thanh vào nhậm chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa rồi năm 1570 kiêm Trấn thủ xứ Quảng Nam. Vương triều Nguyễn khởi đầu từ khi chúa Nguyễn Ánh sáng lập vương triều năm 1802. Giữa thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn có thời kỳ Tây Sơn tính từ khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm 1771 cho đến khi chính quyền Tây Sơn cuối cùng là triều vua Nguyễn Quang Toản thất bại năm 1802. Rõ ràng thời Tây Sơn nằm giữa liên quan đến sự thất bại của chúa Nguyễn cuối cùng là Nguyễn Phúc Thuần năm 1776, Nguyễn Phúc Dương năm 1777 và sự thắng lợi của Nguyễn Ánh năm 1802. Tuy nhiên, vừa rồi nhân dịp kỷ niệm 320 năm lễ đăng quang Hoàng đế của Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-2008), Ủy ban nhân dân và Hội khoa học lịch sử tỉnh Thừa Thiên-Huế đã tổ chức Hội thảo khoa học tại thành phố Huế ngày 06-06-2008 nên trong Hội thảo này chúng ta không bàn về thời Tây Sơn để tập trung vào nội dung chủ yếu của Hội thảo. Nhưng dĩ nhiên trong những mối quan hệ như sự thất bại của chúa Nguyễn, kháng chiến chống Xiêm, thắng lợi của Nguyễn Ánh, chúng ta vẫn đề cập đến thời Tây Sơn trong mức độ cần thiết.


Vương triều Nguyễn còn kéo dài cho đến năm 1945, kết thúc với thắng lợi của Cách mạng tháng 8 và sự thóai vị của vua Bảo Đại năm 1945. Nhưng từ khi đất nước đã bị chủ nghĩa thực dân Pháp thống trị thì vai trò và tính chất của triều Nguyễn đã thay đổi hoàn toàn. Vì vậy trong Hội thảo này, vương triều Nguyễn chỉ giới hạn trong thời kỳ độc lập của vương triều cho đến khi bị thất bại trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp năm 1858-1884. Tuy nhiên trong Hội thảo chúng ta cũng không đi sâu vào cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mà chỉ làm sáng tỏ nguyên nhân và trách nhiệm của triều Nguyễn trong thất bại của cuộc kháng chiến.


Như vậy về thời gian, chúng tôi đề nghị giới hạn từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, trong phạm vi thời kỳ trị vì của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vương triều Nguyễn trên cương vị quốc gia Việt Nam rồi Đại Nam độc lập, có chủ quyền. Thời gian trước và sau ranh giới thời gian này cũng như thời Tây Sơn ở giữa chỉ đề cập trong mức độ liên quan cần thiết.


Trong giới hạn thời gian như trên, dĩ nhiên cũng cần đặt Việt Nam trong mối quan hệ với các nước trong khu vực và thế giới. Thế kỷ XVI-XIX là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của hệ thống thương mại châu Á và cũng là thời kỳ bành trướng dữ dội của chủ nghĩa tư bản phương Tây sang phương Đông. Bối cảnh lịch sử đó tác động đến mọi nước Đông Nam Á và Đông Á, nhưng mỗi nước lại có cách ứng phó khác nhau và dẫn đến hệ quả khác nhau, ảnh hưởng đến sự tồn vong của mỗi quốc gia-dân tộc.


2.2. Về thời kỳ các chúa Nguyễn


Những kết quả nghiên cứu đã cho phép khẳng định công lao mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa, Quảng Nam vào đến vùng đồng bằng sông Cửu Long của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong trong thời gian từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII. Công cuộc khai phá với những chính sách và biện pháp tích cực của chính quyền chúa Nguyễn, đã biến vùng Thuận Quảng còn hoang sơ vào giữ thế kỷ XVI, trở thành một vùng kinh tế phát triển làm bàn đạp cho công cuộc mở mang bờ cõi về phía nam. Vào thế kỷ XVII-XVIII, vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúa của Đàng Trong với năng xuất đạt tới 100, 200, 300 lần như Lê Quý Đôn đã ghi chép. Các nghề thủ công, quan hệ hàng hóa tiền tệ trong nước và quan hệ mậu dịch với nước ngoài đều phát triển nhanh chóng.


Một loạt đô thị, thương cảng ra đời thu hút nhiều thuyền buôn và thương gia nước ngoài, kể cả các công ty tư bản phương Tây như Hà Lan, Anh, Pháp...trong đó nổi lên các cảng thị Phú Xuân-Thanh Hà (Thừa Thiên-Huế), Hội An (Quảng Nam), Nước Mặn (Bình Định), Vũng Lấm (Phú Yên), Gia Định (thành phố Hồ Chí Minh), Cù Lao Phố (Đồng Nai), Mỹ Tho, Hà Tiên... Các chúa Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên, Đoan Quận công: 1558-1613), Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi, Thụy Quận công:1613-1635), Nguyễn Phú Lan (Chúa Thượng, Nhân Quận công: 1635-1648), Nguyễn Phú Tần (Chúa Hiền, Dũng Quận công: 1648-1687)...có công lớn trong sự nghiệp khai phá và phát triển vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ phía nam bao gồm cả các hải đảo ven bờ và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông.


Vấn đề cần đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ là phương thức khai phá có hiệu quả kinh tế cao kết hợp với việc xây dựng và củng cố chủ quyền quốc gia trên vùng đất mới của các chúa Nguyễn. Đối với vùng đất Nam Bộ, cần chú trọng vai trò của các lớp lưu dân người Việt, sự tham gia của một số người Hoa và các cộng đồng cư dân tại chỗ như người Khmer, người Mạ, Xtiêng, Chơ Ro...cùng quá trình cộng cư và giao thoa văn hóa tạo nên sắc thái đặc trưng của vùng đất phương nam này.


2.3. Về vương triều Nguyễn


Từ khoảng giữa thế kỷ XVIII, chính quyền chúa Nguyễn thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (Định vương: 1765-1776) trở nên suy yếu và bị phong trào Tây Sơn lật đổ. Nhưng cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn với người kế tục chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục và cuối cùng kết thúc bằng thắng lợi của Nguyễn Ánh năm 1802. Hội thảo không đi sâu vào lịch sử Tây Sơn, nhưng không thể không đề cập và xem xét một số vấn đề liên quan với Tây Sơn, cụ thể là ba vấn đề sau đây:


- Cắt nghĩa sự thành bại của mỗi bên trong cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn. Từ năm 1771 khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ và cho đến năm 1777 đã đánh bại toàn bộ hệ thống chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong mà đại diện cuối cùng là chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương. Đây là cuộc chiến tranh giữa một bên là phong trào Tây Sơn tiêu biểu cho sức mạnh quật khởi của nhân dân Đàng Trong và bên kia là thế lực suy đồi của một chính quyền phong kiến đã bị nhân dân óan ghét, bất bình. Thắng lợi của Tây Sơn trong thời gian này là thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa nông dân, một phong trào đấu tranh mang tính nhân dân rộng lớn, đang tập hợp được các lực lượng của mọi tầng lớp xã hội bất bình với chế độ chúa Nguyễn thời suy vong.


Trên cơ sở thắng lợi của phong trào Tây Sơn, một vương triều phong kiến mới được thiết lập gồm chính quyền Đông Định vương Nguyễn Lữ ở Gia Định, Trung Ương Hoang đế Nguyễn Nhạc ở Qui Nhơn và Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Trong ba chính quyền Tây Sơn, chỉ có chính quyền Nguyễn Huệ tồn tại vững vàng nhưng sau khi vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất năm 1792, vương triều Nguyễn Quang Toản cũng suy yếu rất nhanh. Cuộc chiến tranh Nguyễn Ánh - Tây Sơn đã thay đổi tính chất và chuyển hóa thành cuộc đấu tranh giữa hai thế lực phong kiến mà thất bại của Nguyễn Lữ, rồi Nguyễn Nhạc và Quang Toản là thất bại của những chính quyền phong kiến đã suy yếu và mất lòng dân.


- Trong cuộc đấu tranh chống Tây Sơn, thời gian bị thất bại nặng nề ở trong nước, Nguyễn Ánh phải nhờ vào sự cứu viện của nước ngoài biểu thị tập trung trong Hiệp ước Versailles ký kết năm 1787 với Pháp và việc cầu cứu vua Xiêm đưa 5 vạn quân Xiêm vào Gia Định năm 1784. Dù cho Hiệp ước Versailles không được thực thi và lực lượng viện trợ do Bá Đa Lộc vận động không bao nhiêu, quân xâm lược Xiệm cũng bị quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, đánh tan trong trận Rạch Gầm-Xoài Mút đầu năm 1785, nhưng hành động của Nguyễn Ánh cần được đặt trong bối cảnh cụ thể lúc bấy giờ và phân tích, đánh giá một cách công minh.


- Giữa năm 1786 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra bắc, đánh bại quân Trịnh và phong trào Tây Sơn đã làm chủ cả nước. Tiếc rằng sau đó, do bất hòa và mâu thuẫn giữa các thủ lĩnh Tây Sơn dẫn đến việc thành lập ba chính quyền Tây Sơn. Vấn đề đặt ra và đã từng gây cuộc tranh luận trong năm 1960, 1963 là công lao thống nhất đất nước của Tây Sơn và Nguyễn Ánh[13]. Lúc bấy giờ xuất hiện hai quan điểm hoàn toàn đối lập, phủ định hay khẳng định công lao thống nhất thuộc về Tây Sơn hay Nguyễn Ánh. Hai quan điểm đối lập theo lối cực đoan đó không có sức thuyết phục cao và gần đây xu hướng chung là không ai có thể phủ nhận được công lao thống nhất đất nước của vương triều Nguyễn mà người sáng lập là vua Gia Long Nguyễn Ánh, nhưng từ đó phủ nhận luôn cả những cống hiến của Tây Sơn thì cũng cần trao đổi thêm.


Phong trào Tây Sơn đã đánh bại chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chính quyền vua Lê- chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và đã xóa bỏ tình trạng phân chia đất nước kéo dài trên hai thế kỷ, đánh tan quân xâm lược Xiêm ở phía nam và quân xâm lược Thanh ở phía bắc, đó là những thành tựu của Tây Sơn đã đặt cơ sở cho công cuộc khôi phục quốc gia thống nhất mà sau này Nguyễn Ánh và triều Nguyễn đã kế thừa. Như vậy là hai kẻ thù không đội trời chung lại góp phần tạo lập nên sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc, bề ngoài như một nghịch lý nhưng lại nằm trong xu thế phát triển khách quan của lịch sử và yêu cầu bức thiết của dân tộc.


Vương triều Nguyễn trong thời gian tồn tại độc lập từ khi thành lập cho đến khi bị thất bại trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đã có nhiều cống hiến tích cực trên nhiều phương diện. Thời phát triển của vương triều bao gồm các đời vua Gia Long (1802-1820), Minh Mệnh (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847), tức khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, thời thịnh đạt nhất là dưới triều vua Minh Mệnh.


Nước Việt Nam, quốc hiệu đặt năm 1804, và Đại Nam năm 1838, là một quốc gia thống nhất trên lãnh thổ rộng lớn gần như tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện nay, bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ. Trên lãnh thổ thống nhất đó, triều Nguyễn đã xây dựng một cơ chế quân chủ tập quyền mạnh mẽ với một bộ máy hành chính và một thiết chế vận hành qui củ, chặt chẽ, nhất là sau cải cách hành chính của Minh Mệnh năm 1831-1832. Các công trình nghiên cứu gần đây đều đánh giá cao công lao thống nhất đất nước của triều Nguyễn và hệ thống tổ chức chính quyền với qui chế hoạt động có hiệu lực của nhà Nguyễn. Trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, cải cách của vua Minh Mệnh năm 1831-1832 và vua Lê Thánh Tông năm 1471 là hai cải cách hành chính có qui mô toàn quốc và đạt hiệu quả cao nhất.
Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận một số thành tựu khai hoang, thủy lợi, phát triển nông nghiệp thời Nguyễn, nhất là vùng đồng bằng Nam Bộ và vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ. Hệ thống giao thông thủy bộ phát triển mạnh, nhất là hệ thống kênh đào ở Nam Bộ và hệ thống đường dịch trạm nối liền kinh đô Huế với các trấn/tỉnh thành trên cả nước. Các trạm dịch được tổ chức rất chặt chẽ với những qui định về thời hạn chuyển văn thư phân làm ba loại: tối khẩn, khẩn, thường. Ví dụ loại "tối khẩn", từ kinh đô Huế vào đến Gia Định là 9 ngày, ra đến Hà Nội là 4 ngày 6 giờ.


Về phương diện văn hóa, giáo dục, triều Nguyễn cũng lập Quốc tử giám, mở khoa thi Hương và thi Hội để đào tạo nhân tài. Từ khoa thi Hội đầu tiên năm 1822 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, triều Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đỗ 292 Tiến sĩ và 266 Phó bảng, cộng 558 người. Khu Văn Miếu tại kinh đô Huế còn lưu giữ 32 tấm bia Tiến sĩ thời Nguyễn. Cùng với các kỳ thi tuyển chọn Tiến sĩ Văn, nhà Nguyễn còn nâng cấp đào tạo võ quan từ Cử nhân lên Tiến sĩ Võ. Tại khu Võ Miếu còn bảo tồn hai tấm bia Tiến sĩ Võ. Công việc biên soạn quốc sử, các bộ chính sử của vương triều, các bộ tùng thư và địa chí được đặc biệt quan tâm và để lại một di sản rất đồ sộ. Có thể nói, trong thời quân chủ, chưa có Quốc sử quán của vương triều nào hoạt động có hiệu quả và để lại nhiều công trình biên soạn đến như thế.


Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phương Tây đang đe dọa chủ quyền của các nước trong khu vực, vua Gia Long và Minh Mệnh ý thức sâu sắc về nguy cơ đó và đã tiến hành những hoạt động điều tra, thăm dò, đồng thời lo củng cố quốc phòng, cố gắng tiếp thu thành tựu kỹ thuật phương Tây. Từ thời chiến tranh với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã học tập được khá nhiều kỹ thuật phương tây, nhất là kỹ thuật xây thành kiểu Vauban, đóng tàu, đúc vũ khí, phát triển thủy quân. Vua Minh Mệnh là người có tầm nhìn xa và hướng biển khá cao. Nhà vua đã cử nhiều phái đoàn vượt biển đến các căn cứ phương Tây ở Đông Nam Á như Batavia (Jakarta, Indonesia), Singapore, Pinang (Malaysia), Semarang (Java), Luçon (Philippines), Tiểu Tây Dương; ở Ấn Độ như Bengale, Calcutta; ở Trung Hoa như Macao...Những chuyến vượt biển đó, bề ngoài là mua hàng hóa cho triều đình nhưng chủ yếu nhằm thăm dò tình hình.


Cầm đầu các phái đoàn thường là những quan chức cao cấp, những trí thức có tầm hiểu biết rộng như Lý Văn Phức, Hà Tông Quyền, Phan Thanh Giản, Phan Huy Chú, Cao Bá Quát...Vua Minh Mệnh cho đo đạc độ sâu các cảng biển, lập hệ thống phòng thủ ven biển, chế tạo vũ khí, đóng thử tàu hơi nước kiểu phương Tây, phát triển thủy quân, cho dịch một số sách kỹ thuật phương Tây sang chữ Hán, đo đạc, vẽ bản đồ và cắm cột mốc trên quần đảo Hoàng Sa, tăng cường quản lý các hải đảo...Hình như vua Minh Mệnh đang nuôi dưỡng một ý tưởng canh tân nào đó, nhưng đang ở trong tình trạng hình thành, chưa thực hiện được bao nhiêu.


Những cống hiến tích cực của vương triều Nguyễn đã được nhìn nhận và đánh giá lại một cách khách quan, công bằng. Nhưng bên cạnh đó, còn tồn tại một số vấn đề cần nghiên cứu và thảo luận để đi đến những nhận xét toàn diện:

- Nhà Nguyễn chủ trương phục hội và củng cố hệ tư tưởng Nho giáo. Không ai phủ nhận trong học thuyết Nho giáo chứa đựng nhiều nội dung tích cực, nhất là về mặt giáo dục và xử thế, coi trọng học vấn, đề cao nhân cách, nhưng đứng về phương diện tư duy triết học, vào thế kỷ XIX có còn khả năng giúp con người nhận thức và giải thích thế giới trong bối cảnh mới của thời đại hay không? Về vấn đề này còn những quan điểm khác nhau. Có người cho đến thế kỷ XIX hệ tư tưởng Nho giáo đã trở nên bảo thù và chủ trương phục hồi Nho giáo của triều Nguyễn đã cản trở sự tiếp nhận những tư tưởng và thành tựu mới của thế giới. Nhưng cũng có người cho rằng vấn đề không phải là bản thân Nho giáo mà là người vận dụng hệ tư tưong đó.


- Một thực trạng cần lưu ý khi nghiên cứu về vương triều Nguyễn là dù ban hành nhiều chính sách khẩn hoang tích cực, kể cả một số chính sách giảm nhẹ tô thuế, nhưng xã hội thời Nguyễn không ổn định. Trong gần như suốt thòi Nguyễn, khởi nghĩa nông dân nổ ra triền miên và triều Nguyễn không thể nào giải quyết nổi. Tại sao và đánh giá thực trạng đó như thế nào cho thỏa đáng.


- Từ triều Tự Đức (1848-1883), vương triều Nguyễn càng ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, làm cho thế nước càng ngày càng suy yếu và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Ở đây có hai vấn đề quan trọng đặt ra là thái độ của triều Nguyễn đối với xu hướng canh tân phát triển khá mạnh dưới triều Tự Đức và trách nhiệm của triều Nguyễn trong kết quả bi thảm của cuộc kháng chiến thất bại. Canh tân đất nước và chống chủ nghĩa thực dân là hai yêu cầu bức xúc, quan hệ mật thiết với nhau. Vấn đề đặt ra không chỉ ở Việt Nam mà gần như cả phương Đông và khi phân tích cũng cần nhìn rộng ra trong góc nhìn so sánh với một số nước tương tự trên phạm vi phương Đông, nhất là khu vực gần gụi của Đông Nam Á và Đông Á.


Làm sáng rõ những vấn đề trên sẽ đưa đến một cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện, cả mặt tích cực lẫn mặt hạn chế đối với vương triều Nguyễn trong tiến trình lịch sử Việt Nam.


2.4. Về di sản văn hóa


Trong thời gian trên 3 thế kỷ từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn đã để lại cho dân tộc một di sản lớn lao nhất là một giang sơn đất nước thống nhất bao gồm cả đất liền và hải đảo về cơ bản tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại. Lãnh thổ đó vừa kế thừa công lao xây dựng và bảo vệ của các thế hệ tổ tiên từ khi dựng nước Văn Lang - Âu Lạc cho đến giữ thế kỷ XVI, vừa tiếp tục mở mang, khai phá về phía nam cho đến tận đồng bằng sông Cửu Long. Trên lãnh thổ quốc gia đó, thời kỳ lịch sử này còn để lại một di sản văn hóa đồ sộ bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Di sản đó một phần đang hiện hữu trên đất nước Việt Nam với những di tích kiến trúc, thành lũy, lăng mộ... và tất cả đã hòa đồng với toàn bộ di sản dân tộc cùng đồng hành với nhân dân, với dân tộc trong cuộc sống hôm nay và mãi mãi về sau, góp phần tạo nên bản sắc và bản lĩnh dân tộc, sức sống và sự phát triển bền vững của đất nước.


Cố đô Huế là nơi hội tụ và kết tinh các giá trị văn hóa dân tộc trong một thời kỳ lịch sử khi mà kinh đô này lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc trở thành trung tâm chính trị, văn hóa của một quốc gia với lãnh thổ thống nhất trải dài từ bắc chí nam, từ đất liền đến hải đảo. Quần thể di tích cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới ngày 11-12-1993 và ngày 7-11-2003 Nhã nhạc cung đình lại được công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.


Trong số các đô thị hình thành và phát đạt trong thời kỳ này, Hội An là cảng thị tiêu biểu nhất và Khu di tích phố cổ Hội An cũng đã được UNESCO công nhận làDi sản Văn hóa Thế giới ngày 4-12-1999.


Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hóa được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy.


Trong di sản văn hóa phi vật thể, có thể nói rất nhiều đình, đền, miếu, nhà thờ họ trong tín ngưỡng dân gian, chùa tháp của Phật giáo, đạo quán của Đạo giáo..., còn lại đến nay phần lớn đều được xây dựng hay ít ra là trung tu trong thời nhà Nguyễn. Nhiều nhà thờ của Kitô giáo, trong đó có Nhà thờ Phát Diệm nổi tiếng cũng được xây dựng trong thời kỳ này. Tất cả di sản này rải ra trên phạm vi cả nước từ bắc chí nam.


Về di sản chữ viết, thời kỳ các chúa Nguyễn, nhất là thời kỳ vương triều Nguyễn, để lại một kho tàng rất lớn với những bộ chính sử, những công trình biên khảo trên nhiều lĩnh vực, những sáng tác thơ văn của nhiều nhà văn hóa lớn, những tư liệu về Châu bản triều nguyễn, văn bia, địa bạ, gia phả, hương ước, những sắc phong, câu đối trong các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, những văn khắc trên hang núi, vách đá...


Văn học truyền khẩu của thời kỳ này cũng vô cùng phong phú, gắn liền với ký ức của các thế hệ và hòa quyễn vào các lễ hội dân gian, các phong tục tập quán của các dân tộc mà gần đây công việc sưu tầm đã đạt nhiều kết quả khả quan.


Bàn về chúa Nguyễn và triều Nguyễn, không thể không trở về Thanh Hóa, nơi có Quý Hương (Hà Trung), có Gia Miêu Ngọai trang là quê hương của chúa Nguyễn Hoàng, gốc tích của dòng họ Nguyễn Gia Miêu và xứ Thanh cũng là quê hương của nhiều bề tôi trung thành, nhiều người dân lao động đã theo chúa Nguyễn vào mở cõi ở phương Nam trong những năm tháng khởi nghiệp gian truân nhất. Vì vậy trên đất Thanh Hóa còn để lại nhiều dấu tích về chúa Nguyễn.

Nguồn:
http://11111.vef.vn/topblog/article/20/81

Tính hiện thực của quyền lực ảo




GS. Joseph S. Nye


Khi mà các chính quyền của thế giới Ả-rập đang phải đấu tranh với các cuộc “biểu tình” tràn ngập trên trang web Twitter và kênh truyền hình Al Jazeera, và các nhà ngoại giao Mỹ đang cố gắng tìm hiểu tác động của Wikileaks, thì rõ ràng chúng ta cần có một cách hiểu sâu sắc hơn về cách thức vận hành của quyền lực trong nền chính trị thế giới, khi nhân loại bước sang kỷ nguyên thông tin toàn cầu.


Đó là nội dung vắn tắt của cuốn sách mới của tôi, Tương lai của Quyền lực. Có hai cách thức của sự dịch chuyển quyền lực đang diễn ra trong thế kỷ này – chuyển dịch quyền lực (power transition) và phân tán quyền lực (power diffusion). Chuyển dịch quyền lực từ một nhà nước thống trị sang một nhà nước khác là một mô thức lịch sử quen thuộc, nhưng phân tán quyền lực thì lại là một hiện tượng mới lạ và thú vị hơn nhiều. Vấn đề đặt ra cho tất cả các nhà nước hiện nay là ngày càng nhiều sự kiện diễn ra ngoài tầm kiểm soát của thậm chí các nhà nước mạnh nhất.


Đối với hiện tượng chuyển dịch quyền lực, thế giới ngày nay đang tập trung thái quá vào một vấn đề mang tính giả thuyết – sự suy tàn của Quyền lực Hoa Kỳ. Hiện tượng này thường được so sánh với sự suy tàn của Đế quốc Anh và Đế chế La Mã. Nhưng La Mã vẫn duy trì ảnh hưởng trong suốt ba thế kỷ đối với thậm chí các thuộc địa xa trung tâm nhất của nó. Và La Mã không phải bị sụp đổ bởi một nhà nước khác, mà bởi sự trỗi dậy của hàng loạt các “bộ lạc nguyên thủy” khác nhau trong thuộc địa của nó.


Quả thật là có nhiều dự đoán hợp thời rằng Trung Quốc, Ấn Độ hay Brazil sẽ vượt qua Mỹ trong những thập niên tới. Tuy vậy, những đe dọa lớn nhất lại tới từ các “bộ lạc nguyên thủy” của thời hiện đại, và các nhân tố phi nhà nước. Trong một thế giới thông tin được xây dựng trên cơ sở nền an ninh mạng máy tính chưa chắc chắn, thì hiện tượng “phân tán quyền lực” có thể sẽ là mối đe dọa lớn hơn so với hiện tượng “chuyển dịch quyền lực”.


Làm thế nào để nắm được quyền lực trong kỷ nguyên thông tin toàn cầu của thế kỷ XXI? Những nguồn lực nào sẽ sản sinh ra quyền lực?


Mỗi thời đại đều tạo ra câu trả lời riêng cho mình. Vào thế kỷ XVI, sự kiểm soát các thuộc địa và các mỏ vàng đã đưa Tây Ban Nha lên vị trí siêu cường. Sang thế kỷ XVII, Hà Lan đã kiếm lợi được từ thương mại và tài chính. Đến thế kỷ XVIII, nước Pháp đã trỗi dậy bằng dân số đông đúc và lực lượng quân đội hùng hậu. Tiếp đến thế kỷ XIX, quyền lực của nước Anh dựa trên sự thống trị về công nghiệp và hải quân.


Nhận thức truyền thống về quyền lực thống trị của một quốc gia thường quy về một nhà nước với những ưu thế tuyệt đối về quân sự. Tuy vậy, trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, khi các yếu tố nhà nước và phi nhà nước đang cùng vận hành và ảnh hưởng lẫn nhau, thì sẽ rất khó để xác định được sự cân bằng quyền lực, và càng khó khăn hơn để phát triển các chiến lược sinh tồn thành công trong một thế giới mới.


Phần lớn các dự báo hiện nay về sự dịch chuyển trong cân bằng quyền lực toàn cầu đều dựa chủ yếu vào một yếu tố: tăng trưởng GDP của quốc gia. Do đó, những dự báo này đã bỏ qua các bình diện khác của quyền lực, bao gồm cả quyền lực “cứng” về quân sự và quyền lực “mềm” về đối thoại, đồng thời không tính đến những khó khăn về mặt chính sách để kết hợp hai thứ quyền lực “cứng” và “mềm” này vào các chiến lược nhằm đạt tới thành công.


Nhà nước sẽ vẫn là nhân tố chi phối trên sâu khấu chính trị thế giới, nhưng các nhà nước sẽ nhận ra rằng sân khấu này đã đông “người chơi” hơn xưa, và sẽ khó khăn hơn để kiểm soát. Tỷ lệ dân số có khả năng tiếp cận với quyền lực thông qua sự tiếp cận thông tin ngày càng tăng. Các chính phủ luôn lo lắng về sự chuyển dịch và năng lực kiểm soát các luồng thông tin. Sự chuyển dịch các luồng thông tin đang ngày càng tăng và năng lực kiểm soát của các chính phủ đang suy giảm vì những thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin. Và yếu tố mới – như những gì đang diễn ra tại Trung Đông trong thời gian qua – chính là tốc độ truyền thông và năng lực tiếp cận công nghệ của rất nhiều các thành viên khác trong nền chính trị toàn cầu.


Kỷ nguyên thông tin đương đại, thỉnh thoảng vẫn được gọi là “Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ ba”, dựa trên những tiến bộ ngày một nhanh chóng của công nghệ máy tính, truyền thông và phần mềm. Những tiến bộ công nghệ này đang làm giảm mạnh chi phí khởi tạo, xử lý, truyền dẫn và tìm kiếm thông tin về tất cả các chủ đề và lĩnh vực. Và điều này có nghĩa là nền chính trị thế giới không còn là nơi độc diễn của các chính phủ.


Một khi chi phí điện toán và truyền thông giảm đi, thì các hàng rào ngăn cản sự gia nhập nền chính trị thế giới cũng suy tàn. Các cá nhân và các tổ chức tư nhân, với nhiều loại hình đa dạng từ các công ty, tổ chức phi chính phủ tới các tổ chức khủng bố, đều đang được tăng cường năng lực để tham gia trực tiếp và nền chính trị thế giới.


Tộc độ truyền tin ngày một tăng đồng nghĩa với một thực tế là quyền lực đang được phân bổ rộng rãi hơn, và các mạng lưới chính trị-xã hội “phi chính thống” sẽ làm suy giảm tính độc quyền của các tổ chức chính trị quan liêu truyền thống. Tốc độ truy cập mạng Internet gia tăng đồng nghĩa với việc tất cả các chính phủ sẽ ít có khả năng kiểm soát hơn đối với các chương trình nghị sự của họ. Các nhà lãnh đạo chính trị sẽ được hưởng ít tự do hơn trong việc phản ứng với các sự kiện, và họ phải cạnh tranh với các nhân tố mới đang xuất hiện ngày một nhiều hơn trên sân khấu chính trị.


Chúng ta có thể quan sát thấy điều này thông qua những nỗ lực của giới lập định chính sách tại Mỹ nhằm đối phó với những biến động tại Trung Đông trong những ngày này. Sự sụp đổ của chế độ độc tài Tunisia có nguồn gốc sâu sa từ trong nội bộ quốc gia này, nhưng trong những nhân tố tác động đến việc đẩy nhanh sự sụp đổ đó, có nhiều nhân tố đến từ bên ngoài. Một số nhà quan sát đã đánh giá rằng chính Twitter và WikiLeaks đã góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng dân chủ tại Tunisia.


Trong kỷ nguyên thông tin, một chính sách thông minh phải kết hợp được cả quyền lực “cứng” lẫn quyền lực “mềm”. Các chính phủ không thể cứ mãi phớt lờ quyền lực “mềm” của những đối thoại về dân chủ, tự do và sự minh bạch. Tôn trọng và thúc đẩy quyền tự do tiếp cận thông tin sẽ trở thành một phần quan trọng của quá trình vận hành quyền lực thông minh của các chính phủ trong thế kỷ này.


Joseph S. Nye, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, hiện là Giáo sư tại Đại học Harvard, và là tác giả của cuốn sách Tương lai của quyền lực.


Nguồn: http://11111.vef.vn/topblog/article/20/81

31 tháng 1, 2011

Hoàng Ngọc Hiến, người truyền cảm hứng minh triết Việt


HỌC MỖI NGÀY. Dành một khoảng lặng khi thời khắc xuân đang đến gần, tôi thu thập thông tin về Hoàng Ngọc Hiến người truyền cảm hứng minh triết Việt. Trước đó ít hôm, giới Khoa học Nông nghiệp vừa đưa tiễn nhà trí thức lỗi lạc Đào Thế Tuấn về chốn vĩnh hằng. Kế đến giới Văn học tiễn đưa nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến, người sáng lập Trường viết văn Nguyễn Du, người luôn đề cao “chủ nghĩa cổ điển mới" “trí tuệ của trái tim” với quan niệm “phê bình là làm sáng giá cho tác giả và tác phẩm”. Đồng cảm với nhạc sỹ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, tôi lặng lẽ chọn tìm nhà giáo Hoàng Ngọc Hiến trong hàng ngàn trang sách mà ông để lại, tìm bóng hình ông trong định luận của một số người đương thời  (xem tiếp)

Cảo thơm lần giở trước đèn (11): Hoàng Ngọc Hiến luận bàn về những vấn đề minh triết; Hoàng Ngọc Hiến nhà phê bình triết luận; Hoàng Ngọc Hiến như tôi đã biết; Hoàng Ngọc Hiến ra đi: Sự khởi đầu của một cuộc sống mới; Hoàng Ngọc Hiến- triết học ẩn dật trong văn học; Lại một người đi gây thảng thốt (Nghĩ bâng khuâng về Hoàng Ngọc Hiến); Nhớ thầy Hoàng Ngọc Hiến; Nỗi đau (đáu) của trực giác (Viết về Hoàng Ngọc Hiến) ; Thầy Hoàng Ngọc Hiến trước thử thách của số phận ; Tưởng nhớ anh Hoàng Ngọc Hiến ; Vĩnh biệt thầy Hoàng Ngọc Hiến; Sư phụ Hoàng Ngọc Hiến.

27 tháng 1, 2011

Lão Hâm: Câu chuyện bên bàn cờ


HỌC MỖI NGÀY. Lão Hâm vừa kể chuyện ông dạy cháu "Câu chuyện bên bàn cờ " . Thời buổi này lão dạy trẻ con mà chẳng dạy chuyện ăn, chuyện chơi, chuyện phấn đấu mà lại dạy: "Mọi con người trong xã hội cũng đều có giá trị và đều được tôn trọng như nhau." Và "chẳng thà làm con tốt mà gỗ cứng còn hơn làm con tướng mà gỗ mọt!". Thật chẳng đúng bài bản tý nào cả. Dạy thế  thì thật hỏng. Đúng là Hâm thật. Hâm nặng!

CÂU CHUYỆN BÊN BÀN CỜ

Phan Chí Thắng

Cu Bi ngày một mê cờ tướng. Hở ra một chút là cu cậu gạ gẫm ông đánh cờ. Bi đang nhăn trán suy nghĩ vì gặp nước bí thì cu em mới hai tuổi rưỡi chạy đến xin chơi chung: - Anh cho em một miếng! Cu Tý chỉ biết nói câu xin ăn, chưa biết xin cái khác nên hễ xin gì nó cũng “Cho em một miếng” như thế. Cy Bi đang tập trung vào việc gỡ bí, gạt em sang một bên. Cu Tý bèn nổi máu côn đồ, chộp lấy một quân cờ, chạy vụt đi, ném quân cờ qua cửa sổ. Cu Bi tức lắm nhưng không dám đánh em, ngồi khóc rưng rức. Cu Tý liếc mắt không thấy ông ngoại bênh mình, biết lỗi, sợ sẽ bị người lớn đánh, cũng khóc oà lên, gào to hơn cả cu Bi. Lão Hâm thấy hai cháu khóc, buồn cười quá, ngồi cười. Bà chạy vào quát: - Ông làm gì để các cháu khóc rồi ngồi cười một mình? Bà ngoại ôm Tý vào lòng, dỗ nó nín. Lão Hâm cũng chạy đến nựng cu Tý. Cu Tý giận ông không bênh mình, bèn vẫy vẫy tay: “Bai bai ông ngoại!”. Đó là cách nó đuổi ông đi chỗ khác. Lão Hâm vẫn cứ bám theo hai bà cháu, bảo có ai làm gì đâu mà con khóc. Cu Tý: “Chúc ông ngoại ngủ ngon!”, ý là ông im đi, đừng nói nữa! Lão Hâm quay lại ôm Bi vỗ về: - Thằng Tý nó ném có mỗi mẩu gỗ thôi mà, con tiếc làm gì, để ông chạy ra sân tìm cái mẩu gỗ ấy cho. Nín đi nào, cháu yêu! Cu Bi làu làu: - Quân cờ của người ta mà ông bảo chỉ là mẩu gỗ. Để con đập vỡ đèn xe máy của ông rồi bảo đó chỉ là miếng nhựa xem ông có tức không? Lão Hâm ra sân, một lúc sau tìm thấy con cờ mang vào cho Bi: - Thôi con đừng đập vỡ đèn xe của ông nữa nhé! Thằng bé bật cười. Đúng là trẻ con, khóc đó cười đó. Lão Hâm nhường cho cu Bi thắng ván cờ, coi như đền bù phần nước mắt nó đã bỏ ra. Thắng trận, cu Bi chia sẻ quan điểm với ông ngoại: - Đúng là mỗi quân cờ chỉ là một mẩu gỗ, ông nhỉ? Lão Hâm tranh thủ dạy cháu: - Cháu có thấy là 32 quân, quân nào cũng to và nặng bằng nhau? Quân này được vẽ lên chữ “Tướng” thì nó là tướng, quân kia bị bôi lên chữ “Tốt” thì nó là tốt. Khác nhau ở cái chức vụ, còn thì đều là mẩu gỗ như nhau hết? Cu Bi trầm ngâm suy nghĩ, so sánh ông tổ trưởng dân phố và bố nó. Tạm coi là họ như nhau, nhưng nó vẫn nghĩ là bố nó giỏi hơn và đẹp trai hơn ông tổ trưởng dân phố. Ở phòng bên cạnh, bà ngoại nghe hai ông cháu nói chuyện, vội chạy sang, lại quát: - Ơ hay nhỉ? Ông không dạy cháu chịu khó học hành tu dưỡng phấn đấu, có bằng cấp cao, có vị trí xứng đáng để đóng góp cho đời, vinh hạnh cho gia đình mà lại dạy cháu “tướng” với “tốt” đều là cá mè một lứa?! Lão Hâm cãi: - Tôi chưa kịp nói đến phần sau thì bà đã vội chen ngang. Tôi định nói là mọi quân cờ đều như nhau, mọi con người trong xã hội cũng đều có giá trị và đều được tôn trọng như nhau. Và tôi còn định nói tiếp nữa là ta chẳng thà làm con tốt mà gỗ cứng còn hơn làm con tướng mà gỗ mọt! Việc đầu tiên con người phải làm là phấn đấu để mình luôn là một mẩu gỗ cứng chứ không phải cố bôi lên mình chữ “Tướng” hay chữ “Sỹ”. Mụ vợ suỵt một cái rõ to: - Thế thì được, tôi nhất trí là làm con gì cũng được, chỉ xin không hâm.

25 tháng 1, 2011

Hoàng Hạc Lâu thắng cảnh, huyền thoại, thơ và ảnh

                                                                   HOÀNG HẠC LÂU

HỌC MỖI NGÀY. Hoàng Hạc Lâu là thắng cảnh nổi tiếng ở Vũ Hán gắn liền với sông Trường Giang, trận Xích Bích, huyền thoại hạc vàng, Thôi Hiệu đề thơ, Lý Bạch gác bút, Khổng Minh mượn gió đông, Tôn Quyền xem trận thế, Khuất Nguyên viết Ly tao, Nhạc Phi trần tình biểu, Nguyễn Du viết tuyệt phẩm trong bắc hành tạp lục, Tô Thức, Mạnh Hạo Nhiên, Mao Trạch Đông ... đề thơ. Biết bao danh hoạ và ảnh đẹp về Hoàng Hạc Lâu làm say đắm lòng người.


Thắng cảnh 



Lầu Hoàng Hạc vốn là đài quan sát quân sự được xây từ thời Tam Quốc, ở bờ nam sông Trường Giang, thuộc địa phận nước Ngô (thành phố Vũ Xương, Vũ Hán ngày nay). Đài quan sát này liên quan với trận Xích Bích nổi tiếng trong lịch sử và huyền thoại cầu gió đông của Khổng Minh. Sau này, khi nước Ngô bị diệt vong thì đài không còn ý nghĩa quân sự quan trọng nữa. Nhưng, do được xây ở nơi phong cảnh hùng vĩ nên lầu Hoàng Hạc dần trở thành điểm đến của tao nhân, mặc khách và ngày càng nổi tiếng, là biểu tượng, niềm tự hào của người dân Vũ Hán.



           Sa bàn HOÀNG HẠC LÂU (Ngày xưa )


        
                                          Huang He Lou (Tower of Yellow Crane): Hoàng Hạc Lâu
                                          Photo in 1870s.(Ảnh khoảng năm 1870) Nguồn: Wikipedia tiếng Việt

Lầu Hoàng Hạc nguyên thuỷ là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Trải qua nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc, chịu biết bao cuộc chiến tranh huỷ diệt; rồi lại được dựng lên, sau nhiều lần trùng tu cho đến nay lầu Hoàng Hạc được tái sinh trở lại với sự kết tinh nhuần nhuyễn những phong cách độc đáo của Hoàng Hạc Lâu qua các đời Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh ... được trưng bày để mọi người thưởng ngoạn. Hoàng Hạc Lâu hiện tại lộng lẫy hơn nhiều với năm tầng có chiều cao 51,4 mét, ngói vàng, trụ đỏ, các mái hiên được uốn cong lên như đôi cánh hạc.

Tầng một cao hơn 10m với trang trí bên trong giúp người xem hiểu ngay được về sự tích của Hoàng Hạc Lâu. Tầng hai đến tầng bốn lưu giữ lại những bài thơ từ và danh hoạ về  các sự kiện lịch sử từ thời Tam Quốc đến nay, những danh nhân như Khuất Nguyên, Nhạc Phi, thi tài Lý Bạch, Thôi Hiệu, Tô Đông Pha, Mạnh Hạo Tầng năm là tầng cao nhất của lầu, đứng ở đây, người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, nhìn dòng Trường Giang và Hán Thủy hợp lưu lại thành hình chữ “Nhân” trong Hán tự .

Huyền thoạiTheo sách “Liệt tiên toàn truyện” của Vương Thế Trinh đời Minh, có chuyện kể rằng: Xưa có một người họ Tân, bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc kiếm sống qua ngày. Một hôm có có đạo sĩ già ăn mặc rách rưới đến xin rượu uống. Anh bán rượu nghèo tốt bụng, thấy ông lão đáng thương, bèn cho rượu uống. Từ đấy, ngày nào đạo sĩ cũng đến xin rượu. Một hôm, đạo sĩ từ biệt anh bán rượu, nói: “Một năm qua, ngày nào anh cũng cho rượu uống, chẳng có gì đền đáp. Lão có con hạc quí, tặng anh để tỏ lòng biết ơn”. Nói rồi ông lấy vỏ cam vẽ lên tường một con hạc, dặn: “Chỉ cần anh vỗ tay là hạc sẽ bay ra nhảy múa, mua vui cho khách”. Dứt lời, đạo sĩ biến mất.


Anh bán rượu làm theo, quả nhiên có hạc vàng bay ra nhảy múa. Từ đấy, khách uống rượu hiếu kì kéo đến rất đông, chẳng bao lâu, anh trở nên giàu có. Bỗng một hôm đạo sĩ quay lại nói: “Mười năm qua, tiền anh kiếm được chắc đã đủ trả chỗ rượu anh cho lão uống?”. Rồi, ông rút cây sáo thần thổi lên một khúc, gọi hạc vàng bay ra, cưỡi hạc bay đi mất. Vì thế, về sau, căn lầu xây ở nơi này được mang tên Hoàng Hạc.



Theo Vương Tượng Chi của đời Bắc Tống viết trong “Dự Ðịa kỷ thắng” thì sở dĩ tháp quan sát được gọi là Hoàng Hạc Lâu vì tháp này nằm trên Hoàng Hộc Sơn, phía tây nam của Từ Thành ngày xưa. Thời cổ, chữ Hộc (ngỗng trời: thiên nga) cũng có nghĩa là Hạc, nên về sau người ta dùng chữ Hạc cho rõ nghĩa hơn. Từ đó, Hoàng Hộc Sơn được gọi là Hoàng Hạc Sơn. Đời sau Hoàng Hạc Sơn cũng được gọi là Xà Sơn vì dáng núi ngoàn ngoèo giống rắn.

Thơ và Ảnh
 


Theo tài liệu văn học Trung Quốc thì có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng bài thơ Thôi Hiệu đời Đường là xuất sắc nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.






Tương truyền, khi “Thánh thi” Lý Bạch đến lầu Hoàng Hạc du ngoạn, định đề thơ, nhưng đọc xong thơ Thôi Hiệu đã đề trước đó, ông đành nghiêng mình gác bút, ngửa mặt lên trời mà than rằng :“Nhãn tiền hữu cảnh đạo vô tắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Cảnh đẹp nhường kia sao khó viết, Trên đầu Thôi Hiệu đã đề thơ). Để ghi nhớ giai thoại văn học “Thôi Hiệu đề thơ, Lý Bạch gác bút” thú vị này, ngày nay ở phía Nam lầu Hoàng Hạc, người ta xây dựng “Đình gác bút”, làm điểm tham quan, dừng chân cho du khách.


Nguyễn Du khi đi sứ nhà Thanh qua lầu Hoàng Hạc, trong Bắc hành tạp lục đã viết bài thơ:

黃鶴樓 Hoàng Hạc lâu

阮攸 Nguyễn Du

何處神仙經紀時 Hà xứ thần tiên kinh kỉ thì
猶留仙跡此江楣 Do lưu tiên tích thử giang mi
今來古往盧生夢 Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
鶴去樓空崔顥詩 Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi
軒外煙波空渺渺 Hiên ngoại yên ba không diểu diểu
眼中草樹尚依依 Nhãn trung thảo thụ thượng y y
衷情無限凴誰訴 Trung tình vô hạn bằng thùy tố
明月清風也不知 Minh nguyệt thanh phong dã bất tri

Lầu Hoàng Hạc

Nào thuở tiên đi mãi đến giờ,
Dấu tiên bên bến đứng trơ vơ.
Xưa qua nay lại Lư dồn mộng,
Hạc khuất lầu không Hạo để thơ.
Thăm thẳm nước mây ngoài vạn dặm,
Dờn dờn cây cỏ vẫn nghìn xưa.
Nỗi lòng ấp ủ cùng ai tỏ?
Gió mát trăng trong luống hững hờ

(Quách Tấn dịch)

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng cảm khái viết bài thơ cùng tên Hoàng Hạc Lâu:



Hoàng Hạc Lâu

Vũ Hoàng Chương

Đã bao giờ có hạc vàng đâu
Mà có người tiên để có lầu!
Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau.
Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
Trăng gió hão huyền như khói sóng
Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.

Quang cảnh thành phố Vũ Hán nhìn từ lầu Hoàng Hạc


                   
Hoàng Hạc


Hoàng Hạc Lâu trên đồi Rắn , Vũ Hán, Trung Quốc
(Yellow Crane Tower on Snake Hill, Wuhan, China
Photo by Mike Martin, uploaded by User Leonard G. on en.wikipedia)


Ảnh và danh hoạ về Hoàng Hạc Lâu có rất nhiều. Anh Hà Hữu Tiến gửi cho tôi các tư liệu mà anh thu thập được, tôi hiệu đính và thêm vào các thông tin mới. Cháu Tố Nguyên và Hoàng Long chụp được khá nhiều ảnh đẹp về Hoàng Hạc Lâu. Tôi lưu lại bài này để sau này bổ sung thêm những bài thơ tuyệt hay khác của Mạnh Hạo Nhiên, Tô Đông Pha, Mao Trạch Đông ... và những ảnh chụp, danh hoạ, cảm nhận.

Hà Hữu Tiến, Hoàng Kim
Dựa trên những nguồn trích dẫn chính:
http://www.mediafire.com/?2xe9tid2gdh Người SG
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_H%E1%BA%A1c_l%C3%A2u

Xem thêm:
Một bài thơ dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương
Hy Tuệ

Bài thơ lừng danh Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓 của nhà thơ Trung Quốc đời Đường Thôi Hiệu 崔顥 thì ai mà chẳng biết:



黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,

此地空餘黃鶴樓。

黃鶴一去不復返,

白雲千載空悠悠。

晴川歷歷漢陽樹,

芳草萋萋鸚鵡洲。

日暮鄉關何處是,

煙波江上使人愁。

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Bản dịch nổi tiếng của Tản Đà có dễ còn được người Việt biết nhiều hơn:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Trước Tản Đà, hình như Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục mới là người dịch đầu tiên bài thơ này trên Nam phong tạp chí năm 1923, nhưng có lẽ cái cách hạ một chữ trắc ngang ngược của ông ngay cuối câu đầu vẫn không sao địch nổi giọng tài hoa của “Túy Ông” Nguyễn Khắc Hiếu, nên dần dà người ta đã quên mất bản dịch đi đầu:

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng cút,
Ở đây chỉ những lầu hạc trơ.
Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.
Sông bọc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ!1

Sau tiếng vang của bài thơ Tản Đà, tưởng ai cũng đành phải nhường bước, ngờ đâu lại như một kích thích cho nhiều thế hệ kế tục đua tài với ông. Họ không nghe theo Lý Bạch nhắc nhở: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc / Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”; dầu người nào cũng đã một lần đến chiêm ngưỡng và tấm tắc trước lâu đài thơ của sông Đà núi Tản, kẻ trước người sau vẫn cứ muốn thử thách bút lực của mình.

Ngô Tất Tố:

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.

Trần Trọng Kim:

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

Trần Trọng San:

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời, mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy,
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

Nguyễn Khuê:

Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ?
Khói sóng trên sông giục khách sầu.

Khương Hữu Dụng:

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi !
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?
Khói sóng trên sông não dạ người.

Vân vân...

Đặc biệt, trong số người không ngại “vận bút” để làm cái chuyện “dịch là diệt” có cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Bài thơ dịch của họ Hoàng cũng đã nhiều người biết, tuy chưa phổ biến thật rộng. Một cách dịch thoát sáo, tưởng xa nghĩa nhưng lại lắng đọng được thi vị, và nhất là có những ẩn ngữ đầy “tâm trạng” không kém gì tiếng lòng của nhà thơ họ Thôi:

Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Sao lại cô đơn đến mức “Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi”? Và ai là “cánh hạc vàng” trong con mắt thi nhân mà “Vàng tung cánh hạc đi đi mất”? Ai khiến cho thi nhân sầu nhớ như chực vỡ òa nước mắt trong câu thơ cuối cùng? Tôi cứ thắc mắc mãi mà không giải đáp được cho mình. May mắn gần đây được bạn Đặng Tiến ở Pháp gửi cho một tấm hình chụp lại nguyên thủ bút của Vũ Hoàng Chương:

Thì ra, không biết bài thơ được dịch từ bao giờ nhưng đích thân họ Vũ đã chép nó vào ngày 6 tháng 12 năm 1975, tặng người bạn vong niên đang ở quá xa là nhà bình thơ Đặng Tiến. Gần sát cái Tết dương lịch năm 1976, người thơ da diết nhớ bạn và đặt mình vào hoàn cảnh bạn khi ngồi trên bờ một con sông xứ người nào đấy chắc cũng rất đơn chiếc mà nhớ thương về cố quốc: “Gần xa chiều xuống đâu quê quán / Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!”. Ngôn từ bài thơ dịch quả gợi cảm hứng tuyết lạnh một buổi chiều hửng nắng ở Tây Âu. Tuy nhiên... chợt đọc lại ngày tháng chép thơ. Ôi, ngày 6 tháng 12 năm 1975. Tôi cũng ở Sài Gòn đúng trong những ngày đó. Một mùa đông lạnh hơn hẳn những mùa đông khác của phương Nam nắng ấm. Còn nhớ đêm nằm trong nhà người bà con ở 362 đường Hòa Hảo, đắp một chiếc chăn dạ mà vẫn rét run không ngủ nổi. Không chỉ thế. Tôi đã đến chơi nhà nữ sĩ Mộng Tuyết trên đường Nguyễn Minh Chiếu, nơi cách đó ít lâu gia đình Vũ Hoàng Chương tạm cư ngụ. Tôi biết lắm, ngày này, thi nhân và dịch giả Vũ Hoàng Chương cùng khá nhiều trí thức Sài Gòn cũ đang sống trong tột cùng thấp thỏm, chưa rõ trắng đen về thân phận của mình. Cái tết năm đó - năm Bính thìn 1976 - ông có bài Vịnh bức tranh gà lợn:

Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn, om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có họa,
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

Đã từng sống trong không khí cải cách ruộng đất đợt V hồi 1955 ở Khu IV, tôi thấu hiểu nỗi sợ đến khủng khiếp về một cái gì không ra ngô ra khoai, “Sáng chưa sáng hẳn tối không đành”, về sự chờ đợi trong nặng nề khắc khoải, phải đếm từng giây phút một cho bớt cô đơn lạnh lẽo mà Vũ Hoàng Chương từng sống. Tôi cũng đã chứng sống cái nỗi niềm rất khó bộc bạch: “Lòng lợn âm dương một tấc thành” của gia đình mình. Một tấc thành mà không biết tỏ cùng ai, vì chẳng biết “lòng ai đỏ mắt ai xanh” (một tấm lòng đỏ và một con mắt xanh đối với người nghệ sĩ mới cần thiết làm sao!) nên nhìn đâu cũng lấm lét, làm gì cũng ngó trước ngó sau: “Rằng vách có tai, thơ có họa/tai họa”. Đúng là những ngày ấy Vũ Hoàng Chương đang như Từ Thức ngay chính trên quê hương xứ sở của mình. Phải: “Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu / Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi”. Chỉ có ông với một mình ông.

Cảm thán cho Vũ Hoàng Chương thì cũng chỉ là vô ích vì ông đã là một cánh hạc vàng đi mất đến ba mươi năm có lẻ rồi. Chi bằng hãy bắt chước ông, vắt óc trước bài thơ của chàng Thôi Hiệu để “thôi xao” ra những vần dịch mới. Tôi đã gắng làm như thế, cũng xin coi là một bài thơ tặng những người bạn xa - rất xa ở Mỹ ở Âu - trong đó có Đặng Tiến:

Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi,
Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi.
Một thuở hạc vàng không trở lại,
Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi.
Hán Dương cây đứng soi sông sáng,
Anh Vũ cỏ non biếc bãi bồi.
Chiều tối quê hương nhìn chẳng thấy,
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.

Hà Nội 21-1-2007

1 Tác giả có lời Cảm ơn TS Nguyễn Văn Hiệu đã đọc giúp cho bài thơ khó nhớ này.

Nguồn: Văn hoá Nghệ An

22 tháng 1, 2011

Đọc và suy ngẫm câu chuyện về Bác Hồ

HỌC MỖI NGÀY. Nhà thơ Việt Phương đọc thơ của mình cho Bác Hồ nghe, trong đó có những ý so sánh sự ác độc của người đời với loài cầm thú, kiểu như "nhăn nhở như đười ươi", "rình mò như cú vọ", "nham hiểm như cáo già", "độc ác như báo hổ". Nghe xong, Bác lắc đầu và bảo: "- Không phải thế đâu chú ạ! Loài vật không xấu xa thế đâu. Đó là định kiến sai lầm của con người gán cho loài vật. Loài vật không xấu xa thế đâu. Loài vật không có như chú viết: nhăn nhở, rình mò, nham hiểm, độc ác. Không phải thế đâu." Nhà thơ Việt Phương sau này qua trãi nghiệm đã rất thấm thía bài học trên từ Bác. Sự sống rộng hơn sự người nhiều lắm, chứa đựng nhiều thành tố khác mà con người cần tương kính, tương thân, tương ái…”.


Nhà thơ Việt Phương kể chuyện Bác Hồ góp ý sửa thơ


Kiều Mai Sơn


Trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ở tuổi ngoài 80, nhà thơ Việt Phương đã hoàn thành tâm nguyện của mình là muốn kế thừa người anh ruột - nhà văn Từ Bích Hoàng, một trong những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Khi mới 19 tuổi, Việt Phương đã được đồng chí Phạm Văn Đồng - bấy giờ là Đặc phái viên của Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ - chọn về làm thư ký riêng. Từ đó, ông đã giúp việc cho đồng chí Phạm Văn Đồng suốt 53 năm trên các cương vị Phó Thủ tướng, Thủ tướng Chính phủ, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng… cho đến khi đồng chí mất năm 2000.

Nhà thơ Việt Phương cho tôi biết, là thư ký riêng giúp việc vị Thủ tướng lâu năm nhất của nước Việt Nam, ông phải "tự kiềm chế" và mất đi rất nhiều điều. Ông vốn lắm cá tính, có kiểu riêng, điệu riêng, cách riêng, thích thú riêng, và thậm chí cả ngang tàng riêng. Vì vậy, nếu ngay đến trong thơ cũng lại đưa cho thủ trưởng duyệt nữa, thì ông không còn gì, ông không còn là mình nữa. Nàng thơ là lĩnh vực của riêng Việt Phương.

Máu văn nghệ sĩ có sẵn trong căn cốt của mình, từ năm 1964, ông đã tham gia một nhóm thơ. Các thành viên trong nhóm đều làm thơ chuyên nghiệp, riêng có mình Việt Phương làm thơ nghiệp dư. Họ là Vũ Quần Phương, Bằng Việt, về sau thêm Phạm Tiến Duật ở trong miền Nam ra. Phái nữ có Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi...

Năm 1970, tập thơ "Cửa mở" của Việt Phương ra đời thu hút ngay được sự chú ý của dư luận, không phải chỉ riêng văn đàn mà cả chính giới.

Sau những dích dắc liên quan tới tập thơ "Cửa mở", Việt Phương vẫn là cán bộ giúp việc Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng thời tham gia nhóm cán bộ giúp việc Tổng Bí thư Lê Duẩn, và là một thành viên cốt cán của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Nghỉ hưu ở tuổi 65, ông được Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định cử làm Ủy viên Thường trực của Tổ chuyên gia tư vấn của Thủ tướng. Khi Tổ chuyên gia tư vấn mở rộng ra thành Ban Nghiên cứu đổi mới của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, Việt Phương vẫn tiếp tục là Ủy viên Thường trực của Ban. Vừa làm kinh tế ông vừa làm thơ. Để rồi, sau "Cửa mở" là "Cửa đã mở" (2008), "Bơ vơ đông đảo" (2009) và "Cỏ dọc đường trần" (2010) ra đời.
Tôi ngồi hỏi chuyện một Việt Phương nhà thơ. Ông kể, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có một tâm hồn thơ nhưng không làm một câu thơ nào. Như đã thỏa thuận từ trước, nàng thơ là của riêng ông. Tuy không đưa thơ cho Thủ tướng xem, nhưng Việt Phương lại thỉnh thoảng được đọc thơ mình vừa làm để Bác Hồ nghe và cho ý kiến. Cuối những năm năm mươi (của thế kỷ trước) cho đến năm 1969, khi Bác qua đời, nhà thơ Tố Hữu làm thơ thường đọc cho Bác nghe trước khi công bố. Nhiều hôm đọc như thế, Việt Phương được dự.

Sau ngày Bác mất, Việt Phương đã công bố ngay bài thơ "Muôn vàn tình thương yêu trùm lên trên khắp quê hương" (1969) với những câu thơ ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả: "Bác thường để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn mấy quả cà xứ Nghệ". Đầu năm 1970, ông có bài nói chuyện tại Hà Nội với cán bộ, đoàn viên Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh, sau này được in thành sách "Một số mẩu chuyện về đời sống hàng ngày của Bác Hồ" (Lưu hành nội bộ - nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000).

Bằng chất giọng hào sảng, nhà thơ Việt Phương kể cho tôi nghe một kỷ niệm về thơ với Bác cách nay vừa đúng nửa thế kỷ.

Năm 1961, nhà thơ Tố Hữu viết một bài thơ xuân mang vào đọc cho Bác nghe. Khổ đầu của bài thơ như sau:

Tôi viết bài thơ xuân
Nghìn chín trăm sáu mốt
Lá bàng đỏ rụng ngoài sân
Cành dâu xanh rờn ngõ trước

Những câu thơ tả thực khuôn viên nhà riêng của nhà thơ Tố Hữu ở 76 Phan Đình Phùng: Sân sau có mấy cây bàng, vào mùa xuân lá bàng đỏ rụng, còn phía trước có cây dâu mùa đông ra lá xanh.

Nghe đọc xong Bác nói ngay:
- Chú viết sái lắm. Mới vào năm 1961 cái mà lá bàng đỏ rụng ngoài sân thế này, không được. Cành dâu mà có xanh rờn ngõ trước thì cũng không bù lại được.

Nhà thơ Tố Hữu tiếp thu. Trở về, ông chữa lại:

Tôi viết bài thơ xuân
Nghìn chín trăm sáu mốt
Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt
Nắng soi sương giọt long lanh…
Rét nhiều nên ấm nắng hanh
Đắng cay lắm mới ngọt lành đó chăng?
Giã từ năm cũ bâng khuâng
Đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường…

Những năm tháng ấy, Văn phòng Chủ tịch nước và Văn phòng Chính phủ ở chung với nhau. Vì vậy, nhiều lần nhà thơ Việt Phương sang giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi thì ông đọc cho Bác nghe những tài liệu trong nước và nước ngoài gửi đến để Bác duyệt; hoặc ông đọc những tài liệu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng muốn xin ý kiến Bác. Sau những lúc làm việc xong, trong tình thân Bác - cháu, nhà thơ lại đọc Bác nghe một bài thơ ông mới viết.

Nhìn vào cuộc sống thấy cả mặt sáng và mặt tối. Dù trong thâm tâm mình vẫn luôn hướng về ánh sáng nhưng ông không thể làm ngơ trước cái xấu. Ông làm bài thơ dài hai trang về đời sống xã hội. Làm việc xong với Bác, ông đề nghị:

- Hôm nay cháu có bài thơ mới viết, xin đọc Bác nghe.

Bác Hồ hưởng ứng: "Ừ, chú đọc đi".

Nhà thơ Việt Phương liền đọc khổ thơ mở đầu, trong đó có những ý so sánh sự ác độc của người đời với loài cầm thú, kiểu như "nhăn nhở như đười ươi", "rình mò như cú vọ", "nham hiểm như cáo già", "độc ác như báo hổ".

Nghe xong, Bác lắc đầu và bảo:

- Không phải thế đâu chú ạ! Loài vật không xấu xa thế đâu. Đó là định kiến sai lầm của con người gán cho loài vật. Loài vật không xấu xa thế đâu. Loài vật không có như chú viết: nhăn nhở, rình mò, nham hiểm, độc ác. Không phải thế đâu.

Kể xong câu chuyện, nhà thơ Việt Phương nói với tôi: "Ngay mở đầu đã hỏng, tôi bỏ cả bài ấy đi. Từ đó tôi rất là thấm thía học được bài học từ Bác. Sau này dần dần cho đến lúc lớn thêm nữa, trải nghiệm, tôi hiểu ra được sự sống: Sự sống rộng hơn sự người nhiều lắm. Sự người là từng người và cả loài người. Còn sự sống rộng hơn sự người nhiều. Trong sự sống còn nhiều những thành tố khác, những thành tố bình đẳng với con người mà con người cần tương kính, tương thân, tương ái…”.

Nhấp một chén trà ấm, nhà thơ Việt Phương trầm ngâm suy tư. Lát sau, ông lấy từng ví dụ để chứng minh cho tôi rõ.

Giáo sư Việt kiều Cao Huy Thuần đến chơi đã kể cho ông nghe câu chuyện có những nhà khoa học ở phương Tây dành cả một đời để nghe tiếng nói của từng loài cây. Trên một mảnh đất độ phì nhiêu như nhau, khí hậu như nhau, người ta trồng một loại cây cùng một lúc, ra cùng một thứ hoa, cùng một thứ quả. Người ta tưới bón chăm sóc giống y như nhau, chỉ có một điều khác duy nhất: Một cây họ cứ lặng yên chăm sóc, còn một cây trong khi chăm sóc thì họ nói chuyện với cây, tâm sự với cây vào lúc trời nắng, vào lúc trời mưa, vào lúc ra mầm mới, vào lúc rụng lá… Có điều gì trong cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn họ cùng tâm sự với cây. Kết quả là cây đó ra hoa sớm hơn hẳn và có quả ngọt hơn hẳn cây kia.

Vợ chồng giáo sư toán học Phan Đình Diệu lại kể cho ông nghe câu chuyện về hai cây cau vua cao to trong khoảnh vườn của mình: "Cây cau vua nhà tôi, hai vợ chồng tôi đếm đã 200 lần rơi lá, không có lần nào lá cây cau rơi xuống mà gây tổn thương hay làm hại, gây khó khăn gì cho cây ở dưới, cứ như là nó lựa chọn ấy. Nó chọn lúc nào thì rơi, theo chiều gió như thế nào, lá rơi xuống cách ra làm sao, đi theo những đường lượn thế nào, không bao giờ gây tổn hại cho ở dưới cả. Mà đến 200 lần. Có lẽ nào lại không có một tý ý thức nào? Tôi phải khấn và tôi phải khâm phục cây ấy. Nó tôn trọng các cây khác đến như thế".

Còn vợ nhà thơ Việt Phương, bà Trần Tú Lan, con gái đầu của hai nhà cách mạng lão thành Vũ Văn Tân và Nguyễn Thị Phương Hoa, có một con chó và một con mèo. Dường như có sự giao lưu giữa bà chủ với hai con vật nuôi đó rất rõ rệt. Bà nói cái gì hầu như nó hiểu cả.

Cho nên dần dần tôi thấm thía được câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không phải thế đâu chú ạ. Đó là định kiến sai lầm của con người. Loài vật không xấu xa như thế" - Nhà thơ Việt Phương kết thúc câu chuyện với tôi bằng một câu đúc kết đầy tâm đắc

Kiều Mai Sơn - VNCA Xuân 2011

30 tháng 12, 2010

Sự im lặng của núi


HỌC MỖI NGÀY
. "
Sự im lặng của núi" là bài viết của tác giả Nguyễn Đình Chú đối với học giả Cao Xuân Huy: "Một bi kịch đã diễn ra đối với phương Đông là nhiều giá trị tinh thần, trong đó có truyền thống triết học rất mực cao siêu (dĩ nhiên cao siêu nhưng vẫn có hạn chế) đã từng có vị trí, có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội phương Đông nay bị hạ bệ, bị mai một. Sự thật đau xót là chính không ít người phương Đông đã tham gia tích cực vào sự hạ bệ này, mặc dù cũng chính họ là người rất mực yêu quý phương Đông. Và quả thật tôi đã từ những suy nghĩ đó, mà đến với cuốn sách Tư tướng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của học giả Cao Xuân Huy."

Sự im lặng của núi
(Bài viết về học giả Cao Xuân Huy
Giáo sư Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội từ 1951 - 1960 - Giải thưởng Hồ Chí Minh )
Nguyễn Đình Chú
Tôi có cái may mắn được sinh ra trên đất Nghệ cùng quê với học giả Cao Xuân Huy. Cụ người Diễn Châu, tôi người Nghi Lộc, hai huyện liền nhau và 2 nhà cách nhau chỉ chưa đầy hai chục cây số. Tôi lại con một nhà Nho có dính bảng tú tài vào khoa Giáp Ngọ (1894), cùng khoa với Tú Xương) nên ngay từ lúc bắt đầu học chữ Hán, lập tô in ấy chữ "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng" trên bảng gỗ, tôi đã được nghe cha kể về gia thế cụ Thượng Cao (tức là Cao Xuân Dục, ông nội của học giả Cao Xuân Huy) quê Diễn Châu, với tất cả sự kính nể, tôn sùng. Điều này dĩ nhiên đã chi phối cách nghĩ của tôi sau này về học giả Cao Xuân Huy và con trai cụ, anh bạn Cao Xuân Hạo. Riêng về cụ Huy, thì ngay khi bắt đầu đi học trường Pháp - Việt, tôi cũng đã được nghe các thầy giáo cũng với thái độ sùng kính kể cho nghe nhiều chuyện. Nào là: cụ Huy cùng với Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Bính... là mấy nhà văn hoá, khoa học giỏi nhất tỉnh Nghệ thời Tây. Cụ Huy đã từng tranh luận và thắng cuộc về triết học với một người Pháp hồi ở Huế. Cụ Huy am hiểu, say mê và đặc biệt là sống theo triết lý Lão Trang là "vô vi" đã bị hiểu theo kiểu nôm na, dung tục và dĩ nhiên là không đúng, tức là: không làm gì cả, cái gì cũng chẳng coi là gì cả. Ví như: đi đường gặp mưa, người ta thì mau chân rảo bước, tìm nơi ẩn náu, còn cụ thì cứ từng bước mà đi. Đang ngồi đọc sách, kẻ trộm vào lấy quần áo phơi ở sân, trông thấy, cũng mặc. Hôm sau kẻ trộm lại đến lấy, lại trông thấy, thì chỉ hỏi nhẹ: mấy thứ hôm qua lấy chưa đủ mặc à. Nhiều chuyện được kể về cụ Huy như vậy, chẳng hay chính xác tới đâu, nhưng đã để lại trong tuổi thơ của tôi, ấn tượng về một bậc siêu nhân, khác lạ giữa trần gian là Cao Xuân Huy.
Năm 1951, trường Dự bị đại học mở ở hai địa điểm là Nghệ An và Thanh Hoá sau đó mới quy về một nơi là Thanh Hoá. Nhân dịp giáo sư Trần Văn Giàu mà bấy giờ dư luận coi là người có tài hùng biện, có tài diễn thuyết hay nhất nước Nam, vừa từ Việt Bắc vào Thanh Hoá dạy dự bị đại học và có sang dạy cho phân hiệu Nghệ An. Tôi đi nghe và đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy bậc siêu nhân Cao Xuân Huy với gương mặt thanh tú, có cặp mắt tinh anh hiền từ, trên miệng như lúc nào cũng đang sắp cười mà không cười, tay cầm đèn dầu hoả (vì lớp học phải học ban đêm), tay cầm chiếc ghế xếp, đến ngồi ngoài sân đình nghe Giáo sư Giàu giảng về triết học.
Kế đó, từ năm 1954 đến 1957 là sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi chính thức được làm học trò giáo sư Cao Xuân Huy về hai môn là Tâm lý học và Logíc học. Phải nói là lúc này, Giáo sư Cao Xuân Huy đối với số đông thuộc thế hệ sinh viên chúng tôi chưa phải là vị thầy có tiếng tăm lừng lẫy. Lý do là vì Giáo sư Cao Xuân Huy viết quá ít. Vả chăng lại chưa được dạy đúng vào chỗ giỏi nhất, cao siêu nhất của mình. Bấy giờ triết học phương Đông cổ truyền đâu đã có chỗ đứng trong nền giáo dục, kể cả giáo dục đại học.
Từ năm 1957 đến 1960, với tư cách trợ lý, tôi lại được trường đại học sắp xếp chỗ ở chung nhà với Giáo sư Cao Xuân Huy và cả với các giáo sư khác: Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Nhị tại ngôi nhà 16 Đ ngõ Hai, Hàng Chuối. Do đó tôi lại biết thêm về cụ. Biết cụ, té ra ở thời thanh niên cũng từng tham gia phong trào ái quốc sôi nổi bị chính quyền thực dân bắt giam và sau đó đuổi không cho dạy học ở trường công phải ra dạy trường tư và đọc trên Đông Pháp thời báo xuất bản ở Sài Gòn tôi thấy đăng một bức thư của một số trí thức trong đó có Trần Phú (sau đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương) và Cao  Xuân Huy gửi vào Huế bày tỏ niềm ngưỡng mộ cụ Phan Bội Châu, lúc này vừa mới bị đưa về giam lỏng tại Bến Ngự ở gần cụ Huy suốt ba năm, tôi thấy cụ rất ít nói mặc dù cặp mắt lúc nào cũng vui và miệng lúc nào cũng như sắp cười mà không cười như ngày đầu tôi đã thấy. Ngày ấy có dư luận cụ Huy là người mê Lão - Trang không nhập thân được vào chủ nghĩa Mác trong khi mọi trí thức Hà Nội hầu như đã hướng hẳn vào con đường độc đạo là chủ nghĩa Mác.
Từ năm 1961 trở đi, tôi chuyển chỗ ở. Cụ Huy cũng chuyển công tác từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội về Viện Văn học. Tuy vậy thỉnh thoảng tôi vẫn được gặp cụ ở Viện Văn học, ở nhà người con rể, anh bạn Văn Tâm. Cứ mỗi lần gặp là mỗi lần vui sướng vì được gần gũi một nhân cách cao thượng, một hình ảnh hấp dẫn về trí tuệ, về học vấn mặc dù trước sau cụ vẫn là người ít nói. Tôi gặp cụ Huy theo kiểu "đối diện đàm tâm" không như gặp cụ Mai thì trò chuyện hết điều này điều khác và thường phải sợ thầy hỏi lục vấn như là kiểm tra chuyện đọc sách vở của mình. Giáo sư Cao Xuân Huy sau 1975 vào Sài Gòn sống với con trai là anh Cao Xuân Hạo. Mấy lần vào Sài Gòn tôi có đến thăm cụ và vẫn là theo kiểu "đối diện đàm tâm" nhưng trong lòng tôi thì vẫn vui vô cùng. Ngày cụ qua đời có người mách với tôi: Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho người đến tìm con gái cụ là chị Cao Thị Cam (vợ anh Văn Tâm) sống ở Hà Nội hỏi địa chỉ trong Sài Gòn để gửi vòng hoa tới viếng. Kế đó lại có tin tại Thành phố Hồ Chi Minh có đường đặt tên Cao Xuân Huy. Tôi thầm nghĩ: đáng khen cho ai đó đã có con mắt xanh trong khi làm mưu sĩ cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh. Ở Sài Gòn, có đường phố Cao Xuân Huy là đẹp thêm thành phố rất nhiều.
Học giả Cao Xuân Huy đã sống, đã đi qua giữa cõi đời như thế và người đời đã đối xử với cụ như thế, thiết tưởng cũng đã là thoả đáng rồi, nhưng chuyện lại không chỉ dừng ở đây. Sau 13 năm cụ đã hoá thân vào Đạo, vào vũ trụ, hôm nay trước mắt chúng ta lại bỗng nhiên có cuốn sách: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu mà tác giả là Cao Xuân Huy. Thú thật, đối với tôi đây là một hiện tượng gây xúc động lớn. Tôi biết sức mình chưa thể hiểu hết, càng chưa dám nói là hiểu đúng, để nhận xét đúng giá trị của cuốn sách dày 790 trang in này. Nhưng trong sự cảm nhận bồng bột ban đầu, tôi vẫn muốn coi nó là một hiện tượng đột khởi trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tính từ xa xưa tới nay, với một số ý nghĩ cũng là ban đầu về nó như sau:
 1. Trước hết nó là sản phẩm của một đời im lặng mà là một thứ im lặng đặc biệt. Ở đây cần nói thêm về cái im lặng này. Bởi nó là sự im lặng không chỉ là do cá tính thông thường ta đã quen gặp, mà còn là có liên quan đến cả một truyền thống triết học xưa cũ của phương Đông. Tôi muốn cho rằng truyền thống triết học mang tính hướng nội nhiều hơn là hướng ngoại của phương Đông, trong đó có quan niệm "thuật nhi bất tác", "dư dục vô ngôn, tứ thời hành yên, vạn vật dục yên, thiên hà ngôn tai" (ta không muốn nói đâu, bốn mùa đi lại, vạn vật sinh trưởng, trời có nói gì đâu) của Khổng Tử, chủ trương “vô ngôn thông", "bất lập văn tự”, “ngôn ngữ loạn đảo” của Phật giáo và cả lý thuyết "bất ngôn chi giáo", "Tri giả bất ngôn, Ngôn giá bất trí" của Lão Tử... chắc chắn là có ảnh hưởng sâu sắc đến sự ít nói, ít viết của học giả Cao Xuân Huy. Và tôi muốn nói đây là sự im lặng của núi. Núi của tri thức. Núi của trí tuệ. Núi của sự suy tư, của sự nghiền ngẫm. Cuốn sách Tư tưởng phương Đông... của học giả Cao Xuân Huy trong cảm nghĩ ban đầu của tôi hiện tại trước hết là như thế. Tôi nói điều này là ít nhiều có sự so sánh với người này, người khác từng có nhiều công trình về triết học phương Đông mà tôi cũng ít nhiều đã và vẫn kính phục. Nhân dây xin được nhắc lại câu chuyện được nghe kể về một nhà Đông phương học nổi tiếng, cỡ lớn của Liên Xô cũ đầu những năm 70 đến Hà Nội sau khi gặp cụ Huy đã bái phục tôn lên bậc thầy và cho là người hiếm hoi của thế giới hiện thời. Nếu chuyện kể này là đúng sự thật thì hẳn là hỗ trợ cho cái điều tôi vừa nói.
2. Sức hấp dẫn của cuốn sách với tôi cũng là sức hấp dẫn của một tư thế và một khả năng tư duy triết học. Vốn là một người từng được phân công làm trợ lý lịch sử triết học cho Giáo sư Trần Đức Thảo nhưng rồi sự bất thành, phải quay lại nghiệp văn chương song tôi vẫn tìm đọc được ít nhiều các sách triết học thì thấy một tình trạng là: có tác giả chuyên sâu, thậm chí là rất sâu kiến thức triết học phương Tây nhưng với triết học phương Đông cổ đại thì hầu như không biết gì. Ngược lại có những người chuyên viết về triết học phương Đông trung đại thì với triết học phương Tây cũng chỉ là lảo thảo. Riêng với công trình Tư tưởng phương Đông của cụ Huy tuy nội dung chính là nói về triết học phương Đông nhưng tầm nhìn, thế nhìn lại là bao trùm cả Đông Tây, lại là mang tính vĩ mô nhân loại lịch sử, vĩ mô toàn thế giới. Đúng là thế! Học giả Cao Xuân Huy đã tỏ ra là người cùng một lúc, am hiểu khá sâu, khá kỹ lịch sử triết học phương Đông lẫn lịch sử triết học phương Tây theo tinh thần phán đoán, nhận xét một cách có chủ kiến và bằng một năng lực tư duy triết học vốn mang đặc trưng trừu tượng cao siêu để từ đó tạo ra hệ thống tư tưởng triết học riêng của mình.
Đọc cuốn sách Tư tưởng phương Đông tôi có cảm tưởng nó là tư tưởng phương Đông nhưng cũng là tư tưởng Cao Xuân Huy, nhất là xét ở cấp độ hệ thống, ở phương diện tổng kết và đề xuất. Từ lâu, dư luận vẫn cho rằng cụ Huy là nhà Đạo học, nghĩa là theo triết học Lão - Trang nhưng đọc vào công trình này dễ thường có cảm tưởng nói như thế chưa chắc đã đúng hẳn, bởi học giả Cao Xuân Huy là hiện tượng còn rộng hơn cả Đạo học. Trong Tư tưởng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy, cái phần để được người đọc chú ý nhiều nhất và cũng là phần tác giả có nhiều trí tuệ nhất có lẽ là phần đầu nói về chủ toàn và chủ biệt hai ngả rẽ trong triết học Đông Tây. Trong đó cái chủ toàn quả thật là nét đặc trưng bản chất nhất của triết học phương Đông cổ đại mà học giả Cao Xuân Huy đã giúp người đọc hiểu rõ hơn đâu hết. Nhưng ở đây rõ ràng cũng không chỉ là một sự tường thuật, một sự miêu tả đơn thuần mà còn là một sự phân tích, một sự đánh giá, một hệ thống lý giải mới trên cơ sở so sánh vĩ mô mang đậm dấu ấn sáng tạo của bản thân học giả họ Cao.
 Để thấy rõ hơn nữa bản lĩnh triết học của học giả Cao Xuân Huy, tôi muốn trở lại với tình hình giao lưu văn hoá – tư tưởng Đông - Tây trong khoảng hai thế kỷ qua trên xứ sở phương Đông. Như mọi người đã biết, trong thời cổ đại, nhân loại có ba nền văn minh lớn thì trong đó hai là thuộc phương Đông. Đó là văn minh cổ đại Ấn Độ và văn minh cổ đại Trung Hoa. Trong khi phương Tây chỉ có một là nền văn minh Cổ đại Hy-La. Nhưng qua thời trung đại thì do những điều kiện khác nhau, phương Tây đã bứt lên, tạo ra một nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần phong phú, bề thế, trong khi đó thì phương Đông đã tỏ ra là chậm phát triển. Bởi thế mà từ giữa thế kỷ XIX đã phải chịu sự tấn công, áp đảo toàn diện của phương Tây. Ở đây quy luật của sự áp đảo là quy luật giữa cái mạnh và cái yếu: do mạnh mà áp đảo được; do yếu mà bị áp đảo Nhưng chuyện không chỉ thế. Bởi kẻ mạnh không phải cái gì cũng hay. Ngược lại kẻ yếu không phải cái gì cũng dở. Có điều một khi đã có sự áp đảo thì cái dở của kẻ mạnh cũng thành chiến thắng và cái hay của kẻ yếu cũng thành chiến bại.. Quy luật vừa nói đây đã thể hiện khá rõ trong tình hình giao lưu văn hoá, tinh thần Đông - Tây tại nhiều nước phương Đông trong hai thế kỷ qua. Trong cuộc giao lưu văn hoá này, sự.nâng đỡ của văn hoá tinh thần phương Tây đối với phương Đông quả là rất lớn nhưng sự áp đảo của nó đối với phương Đông cũng không nhỏ.
Một bi kịch đã diễn ra đối với phương Đông là nhiều giá trị tinh thần, trong đó có truyền thống triết học rất mực cao siêu (dĩ nhiên cao siêu nhưng vẫn có hạn chế) đã từng có vị trí, có tác dụng to lớn trong đời sống xã hội phương Đông nay bị hạ bệ, bị mai một. Sự thật đau xót là chính không ít người phương Đông đã tham gia tích cực vào sự hạ bệ này, mặc dù cũng chính họ là người rất mực yêu quý phương Đông. Và quả thật tôi đã từ những suy nghĩ đó, mà đến với cuốn sách Tư tướng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy, và có thể nói tôi đã không thể giấu nổi sự thần phục cái tư thế triết học, cái tư thế học thuật của học giả siêu nhân họ Cao. Tôi muốn nói như thế này được chăng: Cụ Huy đã không chịu bất cứ sự áp đảo nào mà đứng vững, đứng trên, đứng ngoài tất cả để suy nghiệm, để tìm tòi, để tạo ra ít ra là một giả thuyết khoa học có tầm vóc nhân loại, để nhân loại tuỳ ý mà phán xét mà đồng tình hay không đồng tình nhưng hẳn là không dễ gì bác bỏ với ai đó là người biết rõ thế nào là sự tìm tòi vất vả đối với chân lý khoa học ở tầm cỡ lớn.
4. Cuốn sách Tư tưởng phương Đông của học giả Cao Xuân Huy thực ra chưa phải đã bao gồm hết mọi vấn đề của lịch sử tư tưởng đã có ở phương Đông. Ngay phần nói về tư tưởng Việt Nam trong cái gọi là tư tưởng phương Đông này thì quả thật là còn ít ỏi chưa đủ độ bề thế so với phần nói về tư tưởng Trung Hoa. Nhưng những gì cụ Huy đã phát biểu về tư tưởng Việt Nam vẫn là thể hiện cách nghĩ hết sức độc đáo của cụ, một học giả lớn. Luận điểm của cụ về cá tính Việt Nam là "nước" đành là có dấu vết của tư tưởng triết học Lão Tử nhưng vẫn là một luận điểm đáng cho chúng ta suy ngẫm mặc dù tác giả chỉ mới nói qua. Rồi quan điểm của cụ về tư tưởng triết học và văn hoá của Tự Đức nói riêng, của Triều Nguyễn nói chung rõ ràng cũng để lộ bản lĩnh riêng của cụ mà có thể có người đồng tình, có người không hẳn đã đồng tình. Riêng tôi thì đồng tình bởi từ lâu tôi đã không muốn nghĩ về triều Nguyễn, về Tự Đức một cách quá đơn giản như đó đây từng bắt gặp.
Trong một bài viết về Giáo sư Trần Đức Thảo trong dịp qua đời, Giáo sư Trần Văn Giàu có nói: Nếu Việt Nam có một người đáng gọi là triết gia thì đó là Giáo sư Trần Đức Thảo, Giàu này chỉ là giáo sư triết học. Tôi rất mong rằng hôm nay đọc xong Tư tưởng phương Đông của Giáo sư Cao Xuân Huy, Giáo sư Trần Văn Giàu sẽ nói bổ sung cho, mặc dù tự tôi cũng có thể làm việc bổ sung đó.
 
                                                                        Nguyễn Đình Chú

Nguồn: http://www.viet-studies.info/NguyenDinhChu_ImLangCuaNui.htm

Đọc thêm:

GS Cao Xuân Huy với "Tư tưởng phương Đông" (1950 - 1960 - 1979)

Công trình “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” của giáo sư Cao Xuân Huy, được nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1995, dày 446 trang gồm 3 phần:
- Phần I: Chủ toàn và chủ biệt, hai ngã rẽ trong triết học Đông Tây, nêu 7 vấn đề lớn: các bi kịch của sự đồng nhất hoá, phương thgức chủ toàn và phương thức chủ biệt của tư tưởng; Thiết vấn pháp của bản thể luận; bản thể và nguyên lý đồng nhất tính; vận động, phát triển về không gian và thời gian; tri giác về thế giới, do lai của ý thức
- Phần II: Tư tưởng Việt Nam từ truyền thống tới canh tân, nêu 4 nội dung: Lê Quý Đôn và học thuyết lý khí; Tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức; chủ thuyết canh tân của Nguyễn Trường Tộ; một giả thuyết làm việc trong quá trình nghiền ngẫm lịch trình tư tưởng dân tộc.
- Phần III: Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc, gồm 11 vấn đề: Xã hội và tư tưởng cổ đại Trung Quốc; Khổng Tử; Lão Tử; Mặc Tử; Mạnh Tử; Trang Tử; Tuân Tử; Pháp gia và Hàn Phi; sơ lược về sách Liệt Tử và học thuyết Dương Chu; Tổng luận Chu Dịch; Tư tưởng triết học Phật giáo Lục Triều, Tuỳ, Đường

Đây là kết quả thể hiện công phu và quá trình nghiền ngẫm lâu dài của tác giả về tư tưởng phương ĐỒng có những kiến giải minh triết và sâu sắc. Nhà nước đã đánh giá cao công trình này, truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996
Giáo sư Cao Xuân Huy sinh ngày 28/5/1900 tại Diễn Châu, Nghệ An, mất năm 1983

GS. Cao Xuân Huy với các cán bộ Viện Văn học
GS. Cao Xuân Huy (thứ 3 từ trái sang, hàng đầu) cùng các học trò
admin [Trang Tin tức Sự kiện] 

Người theo dõi