Lưu trữ Blog

12 tháng 5, 2014

Biển Đông vạn dặm dang tay giữ


VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững trị bình. Đó là hai câu thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tại bài thơ chữ Hán Cự Ngao Đới Sơn trong Bạch Vân Am Thi Tập. Bản dịch thơ của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai - Giám đốc trung tâm minh triết Hà Nội - viết thư pháp tặng những người dân Việt đang hành động vì chủ quyền biển đảo Việt Nam. Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra thông điệp ngoại giao của cụ Trạng Trình nhắn gửi con cháu về lý lẽ giữ nước: " Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình". Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là "kê cân - gân gà" mà bậc hiền minh cần sáng suốt. "Cổ lai nhân giả tri vô địch, Hà tất khu khu sự chiến tranh" Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh. "Quân vương như hữu quang minh chúc, ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân" Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo."Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả"; "Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, nên biết rằng muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân".Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !
Trung Hoa có câu chuyện phong thủy.  Núi Cảnh Sơn, Jǐngshān, 景山, "Núi Cảnh", địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô. Cảnh Sơn là Núi Xanh, Green Mount, ngọn núi nhân tạo linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn. Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu. Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) - là "vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa" một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc. Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á. Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc.  Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm,  bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.

Ngày xuân đọc Trạng Trình. Lạ lùng thay hơn 500 trước Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo điều này và  sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.



 CỰ NGAO ĐỚI SƠN
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực
Trước cước trào vô quyển địa thanh
Vạn lý Đông minh quy bá ác
Ức niên Nam cực điện long bình
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành

Dịch nghĩa:
CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI
Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đáy
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất
Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình
Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy
Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

  Dịch thơ:
CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI
Núi tiên biển biếc nước trong xanh
Rùa lớn đội lên non nước thành
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá
Dầm chân đất sóng vỗ an lành
Biển Đông vạn dặm dang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.Nguyễn Khắc Mai
dịch nghĩa và dịch thơ

Xem tiếp...


Tình hình biển Đông có gì mới ? (3)

Tình hình biển Đông có gì mới ? (2)


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Tình hình biển Đông có gì mới? là trang thu thập thông tin, nghiên cứu động thái quan hệ Quốc tế và Việt Nam về biển Đông. Số báo đầu tiên của chuyên mục này đăng trên trang www.hoangkimvietnam.wordpress.com ngày 6 tháng 7 năm 2011. Cho đến nay, trang tin đã thu thập chọn lọc 35 phản hồi. Tài liệu đáng chú ý mới nhất là bài báo “Sự trở lại Đông Nam Á của Liên Bang Nga và tác động đối với Việt Nam” do tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa đăng trên Văn Hóa Nghệ An ngày 9 tháng 2 năm 2014. Bài báo có đoạn viết: “Bước vào thế kỷ XXI, Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực địa – chính trị, địa – quân sự, địa – kinh tế quan trọng bậc nhất của thế giới với sự gia tăng ảnh hưởng chính trị, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ấn tượng vượt xa mức trung bình toàn cầu, với vai trò hàng đầu trong sự liên kết lực lượng mới đang nổi lên ở khu vực [1]. Những yếu tố đó khiến Đông Nam Á trở thành “vùng đệm” vô cùng quan trọng trong chiến lược kiềm chế lẫn nhau, lan tỏa ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương của hàng loạt nước lớn. Do vậy, sự trở lại Đông Nam Á của Liên Bang Nga là một tất yếu chiến lược, có tác động đa chiều và trực tiếp tới cục diện khu vực.”… “Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương và tiểu khu vực Đông Nam Á làm tăng vị thế địa – chính trị của Việt Nam. Án ngữ vị trí quan trọng ở Đông Nam Á, từ đó có thể kiểm soát các tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch đi qua khu vực biển Đông – nơi LB Nga có nhiều lợi ích thiết thân với yêu cầu bảo đảm các quyền lợi an ninh, kinh tế, hàng hải có ý nghĩa chiến lược, nên trong bước trở lại Đông Nam Á của nước  Nga, Việt Nam là một mặt xích quan trọng. Ngày tuyên thệ nhậm chức (7-5-2012), Tổng thống V.Putin đã ký Sắc lệnh “Về các biện pháp thực hiện chính sách đối ngoại“; trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia mà nước Nga đặt yêu cầu “củng cố và làm sâu sắc thêm đối tác tin cậy công bằng và sự hợp tác chiến lược” trong quan hệ  Nga – châu Á – Thái Bình Dương, nhằm “bảo đảm các lợi ích quốc gia Nga trên cơ sở các nguyên tắc thực dụng, cởi mở và đa phương trong bối cảnh đang hình thành hệ thống đa cực trong quan hệ quốc tế”[36]. Trên thực tế, Nga đã lập tức có những động thái cụ thể, dựa trên đó, có thể hoàn toàn tin vào “tính thực dụng” trong chính sách đối ngoại của nước Nga – đó là vấn đề biển Đông.” …”Vốn lâu nay giữ thái độ thận trọng và trung lập trong các tranh chấp biển Đông, gần đây nước Nga đã không đứng ngoài cuộc. Tháng 4-2012, Tập đoàn khí đốt Nga Gazprom và Vietsovpetro đã thỏa thuận về việc Gazprom sẽ tiến hành cùng khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam – nơi mà Bắc Kinh cho là “nằm bên trong hải giới truyền thống” của mình và công ty Anh BP (British Petroleum) đã phải rút lui dưới áp lực của Trung Quốc. Trong khi Mỹ đang lưỡng lự, chưa rút lui nhưng cũng không có dấu hiệu tiến tới thực hiện dự án Exxon Mobil khai thác dầu tại lô 119 ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, còn Ấn Độ cũng đang chần chừ xem có nên bước thêm bước nữa trong dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128, dù dự án được sự ủng hộ của Nhật Bản, thì động thái nói trên của Nga là một diễn biến quan trọng, thể hiện  bước chuyển trong lập trường của Nga đối với vấn đề biển Đông. Nếu Nga khai thác dầu khí thành công có nghĩa là Việt Nam có thêm đồng minh trong giải quyết tranh chấp trên biển Đông – nơi đang nóng lên từng ngày do các xung đột lãnh hải và việc khai thác tài nguyên diễn ra êm thấm là một hình thức xác định / khẳng định chủ quyền trên vùng biển đó.” (Hoàng Kim điểm tin)

Tình hình biển Đông có gì mới ? (1)




Biển Đông và  đường lưỡi  bò
vẫn là  chủ  đề  nóng và động thái còn diễn biến phức tạp. Đây chỉ mới là sự khởi đầu của cuộc chiến pháp lý về chủ quyền trên biển Đông. Phía Trung Quốc đã chuẩn bị dư luận trong nước trên 60 năm (1950- 2011) về đường lưỡi bò “chuỗi ngọc trai của đất mẹ Trung Quốc” và đã  thực hành “lấn dần từng bước”, “đặt trước việc đã rồi”, chọn thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề đang tranh chấp. Trung Quốc hiện đang hối thúc Việt Nam sớm đồng thuận theo cách “chủ quyền thuộc tôi, gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”.  Phía Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý; Quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam là hướng dư luận vào sự ứng xử phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát, không tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp. Bản tuyên cáo đặc biệt do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng về việc nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông ngày 25 tháng 6 hiện có 1164 người tham gia ký tên. Quan điểm của những người  ký tuyên cáo coi việc giải quyết vấn đề biển Đông trong hòa bình thuộc trách nhiệm của Chính phủ nhưng điều đó không có nghĩa người dân không được quyền tiếp tục thể hiện thái độ của mình; Tuyên cáo đề cao ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của toàn dân. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc. Vấn đề biển Đông đòi hỏi sự bản lĩnh và trí tuệ, sáng suốt và kiên trì, thế và lực của toàn dân tộc, sự ủng hộ quốc tế, sự minh bạch thông tin và phổ biến sâu rộng kịp thời cho dân chúng biết các vấn đề liên quan đến tranh chấp biển Đông.
TIN NỔI BẬT
Lần đầu tiên, một bản phân tích kỹ lưỡng về bức Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Huu Nguyen). Bài này được đăng trên Đại đoàn kết ngày 20 tháng 7 năm 2011.

Đại đoàn kết : Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)

Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
“Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
Bức Công hàm 1958
(Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”…
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.
Nhóm PV Biển Đông

Hồ Uy Liêm | Nguyễn Trọng Vĩnh | Trần Việt Phương | Hoàng Tụy
Trần Đức Nguyên | Nguyễn Huệ Chi | Nguyễn Trung | Phạm Chi Lan
Chu Hảo | Nguyễn Xuân Diện | Nguyễn Đình Đầu | LM Huỳnh Công Minh
Lê Hiếu Đằng | Tương Lai | Trần Quốc Thuận | Vũ Thành Tư Anh
Lê Mạnh Thát | Nguyên Ngọc | Nguyễn Hữu Châu Phan | Nguyễn Đình An
.Địa chỉ hộp thư tiếp nhận chữ ký
của đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài:

Email: kiennghi1007@gmail.com

Tiến sĩ Vũ Cao Phan, người rất được dư luận coi trọng sau bài trả lời phỏng vấn  của đài Truyền hình Phượng Hoàng Trung Quốc về biển Đông, đã chia sẻ với VnExpress:
- Để giải quyết tình hình căng thẳng ở biển Đông, theo ông chúng ta nên có hành động như thế nào?

- Tôi từng nói chúng ta không thể chống con sào xuống Thái Bình Dương để đẩy con thuyền Việt Nam ra xa khỏi Trung Quốc. Hai nước trở thành láng giềng đó là sự ấn định của của tạo hóa, lịch sử, không thể thay đổi được. Chúng ta không có cách nào khác là chấp nhận vị trí địa lý mà mình có, từ đó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nước bạn, có lợi cho hai bên. Vấn đề là chúng ta phải ở tư thế như thế nào, phải xử sự ra sao thì lại là câu chuyện tưởng dễ mà khó. Nhưng tôi là một người lạc quan, tôi rất tin mọi sự sẽ được giải quyết theo hướng tích cực.



Giáo sư Phan Huy Lê:

Những hành động của Trung Quốc đang làm cho tình hình Biển Đông nóng dần lên. Dĩ nhiên Việt Nam phải theo dõi sát sao, xây dựng chiến lược ứng phó lâu dài, đồng thời cần chủ động đối phó kịp thời với từng việc cụ thể. Tôi muốn nêu lên mấy suy nghĩ và đề xuất sau đây:
1. Lập trường bất biến của chúng ta là coi việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ toàn vẹn của đất nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trên lĩnh vực này, mọi quốc gia – dân tộc đều bình đẳng, không có phân biệt nước lớn – nước nhỏ và càng không có quyền nước lớn áp đặt cho nước nhỏ.
Lịch sử Việt Nam còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí các thế hệ con người Việt Nam như lời thề non nước. Đó là lời thơ thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thời chống Tống thế kỷ XI, lệnh của hoàng đế Lê Thánh Tông “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ… Kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di” năm 1473, lời kêu gọi “Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ (đánh cho biết rằng nước Nam anh hùng và có chủ)” của Quang Trung Nguyễn Huệ trong chống Thanh thế kỷ XVIII, lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.
Lịch sử Việt Nam cũng chứng tỏ rằng Việt Nam tuy là nước nhỏ (so với nhiều nước xâm lược, nhỏ hơn nhiều lần về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế, quân sự) nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược giữ nước “dĩ đoạn chế trường (lấy ngắn chế dài)” theo Trần Quốc Tuấn, “dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều)”, “dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo)” theo lời Nguyễn Trãi.
2. Hết sức coi trọng việc giữ gìn hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực, biết tự kiềm chế, kiên trì sử dụng các giải pháp ngoại giao, chính trị để giải quyết các vụ đụng độ, tranh chấp trên Biển Đông bằng công pháp quốc tế và bằng con đường đấu tranh ngoại giao, bằng đàm phán giữa các nước có quyền lợi liên quan. Cần triển khai mạnh mẽ, chủ động mặt trận đấu tranh ngoại giao, nhất là ngoại giao pháp lý, trên các diễn đàn và trong các tổ chức khu vực và quốc tế, làm cho dư luận thế giới thấy rõ lẽ phải và chính nghĩa của Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng ASEAN và các nước trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh này, không phải sức mạnh quân sự mà là sức mạnh của lẽ phải, của chính nghĩa và của trí tuệ có sức thuyết phục cao nhất.
3. Bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia không chỉ là trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhân dân, của mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Vì vậy cần thông tin kịp thời, công khai mọi diễn biến tình hình Biển Đông cho nhân dân biết để tạo nên sự đồng thuận và tham gia của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam.
4. Lịch sử hàng nghìn năm bảo vệ đất nước cho thấy sức mạnh tiềm tàng lớn lao nhất của dân tộc Việt Nam là sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy hay bị đe dọa, mọi người Việt Nam đều sẵn sàng gạt bỏ lợi ích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết để chung sức bảo vệ đất nước. Chúng ta không bao giờ được quên những tổng kết của tổ tiên như lời Trần Quốc Tuấn, muốn giữ nước phải lo “trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, “chúng chí thành thành (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)”, lời Nguyễn Trãi “sức dân như nước”, “thuyền bị lật mới thấy dân như nước”…
Sức mạnh quốc phòng rất quan trọng, sự liên kết quốc tế rất cần thiết nhưng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết dân tộc luôn luôn là nền tảng giữ vai trò định đoạt. Vì vậy, nâng cao hiểu biết của nhân dân về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông và cơ sở lịch sử – pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là rất cần thiết và quan trọng. Rất tiếc, cho đến nay, những ấn phẩm nghiên cứu và phổ cập về những vấn đề này còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của nhân dân.
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng nằm trong mong muốn đóng góp một phần giải quyết nhu cầu này.


 (Theo Tạp chí Xưa và Nay số 381, tháng 6/2011)
Hoàng Kim
(Bài tổng hợp)


Nói chuyện chuyên đề về chủ quyền biển đảo
Tư liệu biển Đông và đường lưỡi bò

Phản đối tạp chí khoa học của Ý in bản đồ sai sư thât về biển đảo Viêt Nam
Mr. Do  Blog: “Bức thư của người VN gửi tạp chí khoa học tại Ý (đã đăng bản đồ lưỡi bò của Trung Quốc). Anh Nguyễn Hùng, ở Úc, người chuyển cho tôi bức thư này, cũng là một trong những người đã thông báo cho tôi vụ Hội Địa lý Quốc gia Mỹ in bản đồ sai sự thật về Hoàng Sa trước đây.Nhiệt tâm của những người như anh Hùng khiến tôi vừa thán phục (vừa tự thấy xấu hổ vì không thường xuyên “phụ họa” được với họ).”

25 June, 2011
Professor Raffaello Cossu
IMAGE (Environmental Engineering) Department
Università degli Studi di Padova
Lungargine Rovetta 8, 35127Padova, Italy
Email: wmeditorinchief@gmail.com 
Dear Professor Cossu:
We are a group of Vietnamese academics and professionals currently living in various parts of the world. We would like to join Professors Van Tuan Nguyen (Garvan Institute of Medical Research, Australia) and Tuan Quang Pham (The University of New South Wales, Australia) in expressing our concern, if not outrage, about the bias shown in the map of China (i.e. deletion of neighboring countries such as Vietnam, Malaysia, Indonesia, The Philippines…and inclusion of the disputed waters and islands to the east of Vietnam) contained in the paper “Municipal solid waste source-separated collection in China: A comparative analysis” authored by Tai et al. recently appearing in your journal .In the interest of scientific integrity as well as the true facts of the East Sea of South East Asia, we would appreciate your putting out a correction as requested by the Professors or at least printing their letters in full so the readers of your journal can make up their minds about the bias in the paper written by Tai et al.

Yours sincerely,

Khoa Ba Ngo, M.B.A., USA
Mai Tran, Ph.D, , Australia
Tuyen Gia Do, B.E. Elect, Saudi Arabia
Phuong Minh Tran, M. Tech, Australia
Long Viet Bui, B.E. Mech, Vietnam
Ba Tuoc Tran, M. Com., Vietnam
Long Quang Le, B.E. Mech, New Zealand
Xa Van Nguyen, M.E. Civil, USA
Tu Van Nguyen, M.Com. (Econ.), New Zealand
Lap Q Nguyen, Ph.D.,USA
Han Huu Huynh, B.S. Tech (Food), USA
Tuyet Van Duong, M.Com. (Econ.), USA
Danh Cong Bien, M.E. Elect, New Zealand
Triet Minh Ngo, P.E. Civil, USA
Kho Huu Nguyen, Ph.D.(Chem Eng), P.E. (USA)
Nham Truong, Ph.D, Australia
Ngoc Bich Tran, Ph.D. (Econ.), CFP, E.A. (USA)
Hong Ba Le, M.Sc, Australia
Huynh Tung Ngo, B, Agr.Sc, Australia
Hung The Vu, B.S. Comp., USA
Ngon Danh Nguyen, P.E. Civil, USA
Mai Chi Thi Nguyen, B.Com., USA
Khanh Tuoc Trinh, Ph.D., New Zealand
Bich Lien Nguyen, B.A. Edu., USA
Mui Dinh, B.A. Edu., Australia
Tuan Sy Bui. Ph.D, MBA, MSCIS, USA
Duong Thanh Tran, B.A.Edu, New Zealand
Chau Bich Bui, M.A., USA
Nga Thien Nguyen, B.S. Comp., New Zealand
Thi Nhung Do, B.A. Edu., USA
The Hung Nguyen, Ph.D., Uni of Danang, Vietnam
Hung Nguyen, B.E. Chem., Australia
Tara T. VanToai, Ph.D., USA
Norman N. VanToai, Ph.D., USA
Ngoc Diep Vuong, M.Com.,Economics, USA
Thanh Truc Vuong, B.A.Edu, USA
Long Phan Pham, P.E, Viet Ecology Foundation, USA
Quyet Vu, M.A.Edu., USA
Marie Dung Burns, M.A. Edu., New Zealand
Lieu Thu Le, B.E. Chem, New Zealand
Ngoc Bich Becker, MTA. CANDMED, Germany
Van Hao Nguyen, M.E. Civil, Australia
Thi Tinh Tien Le, M.Com, Economics, Australia
Mong Trinh Thi Nguyen, B.A, New Zealand
Thomas Hung Ngoc Dang, M.B.A, CPEng, Australia Khanh
Nguyen-Do, Ph.D., Australia
Kim Ngoc Truong, B.E. Chem, USA

Disguised and fabricated map of China without the countries of South East Asia



True regional map of South East Asia

Phía tạp chí Ý đã trả lời:

Dear Hung Nguyen,
Thank you for your e-mail. The Editor in Chief is evaluating the matter as a priority and will publish a note on the next issue of our Journal.
Best regards,
Managing Editorial Office
Waste Management

Nguôn:  Mr. Do

Thế lưỡng nan của ASEAN ở Biển Đông

ASEAN’s dilemma in South China Sea

Michael Richardson Straits Times (Singapore) July 4, 2011 http://www.viet-studies.info/kinhte/ASEAN_Dilemma_trans.htm
Các đòi hỏi xung khắc nhau của Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á về việc kiểm soát các khu vực rộng lớn của biển Đông có thủy sản có giá trị và dầu mỏ, khí thiên nhiên và tài nguyên khoáng sản dưới đáy biển, đã thu hút Mỹ và các cường quốc bên ngoài khác vào cuộc tranh chấp này.
Nước nào trong các nước có can dự vào trường tranh đua này sẽ thắng thế, và bằng cách nào? Hay các tay chơi chính sẽ rụt lại sự đối đầu để tiếp tục nền hòa bình và thương mại đã thúc đẩy châu Á đi đầu trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu ?
Quyền lợi được hay thua là rất cao. Mối quan hệ Trung Quốc-Mỹ là một trụ cột của sự ổn định châu Á. Tranh chấp Biển Đông là một phép thử các quan hệ trong tương lai giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Sự gắn kết của ASEAN cũng đang được thử nghiệm trong cuộc đấu đá giữa siêu cường quân sự hàng đầu và gã khổng lồ khu vực đang trỗi dậy.
Trung Quốc đang phô trương sức mạnh cơ bắp của họ bởi vì nước này nói rằng họ có chủ quyền không thể tranh cãi trên các nhóm đảo chính ở Biển Đông và quyền tài phán trên các vùng biển xung quanh, và rằng các quốc gia Đông Nam Á dẫn đầu là Việt Nam và Philippines đang ăn cắp một lượng lớn khí đốt, dầu và thuỷ sản mà đúng lẽ là thuộc về Trung Quốc.
Bắc Kinh đã cảnh báo rằng việc này phải chấm dứt. Chủ nghĩa dân tộc trong số các bên tranh chấp chủ yếu đang cháy bùng cảm xúc.
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton vào ngày 23 tháng 6 xác định lại vị thế chính thức của Washington sau cuộc hội đàm với đối tác Albert del Rosario của Philippines . Ông này nói với bà rằng kể từ tháng Hai, đã có tới 9 lần “xâm nhập gây hấn” của Trung Quốc trong vùng biển thuộc biển Đông do Philippines tuyên bố chủ quyền. Việt Nam cũng đã có các khiếu nại tương tự.
Bà Clinton nói rằng Washington không đứng về bên nào trong các tranh chấp biên giới biển và lãnh hải ở biển Đông nhưng phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa vũ lực để thúc đẩy những đòi hỏi chủ quyền của bất kì bên nào.
Bà nói thêm rằng Hoa Kì có “một lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế, và giao thương hợp pháp không bị cản trở, trong vùng biển Đông. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích không chỉ với các thành viên ASEAN nhưng với các quốc gia hàng hải khác trong cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn “.
Đó là lập trường chính thức Mỹ. Tuy nhiên, cựu phụ tá ngoại trưởng Nicholas Burns gần đây đã đưa ra một cái nhìn bộc trực trong cách đánh giá thực sự của Washington khi Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào chuẩn bị trao đòn xeo quyền lực cho một thế hệ lãnh đạo trẻ hơn năm tới.
Ông Burns nói rằng Washington thấy sự rối rắm không phải từ thế hệ ông Hồ Cẩm Đào mà từ thế hệ dân tộc chủ nghĩa hơn sẽ sớm lên nắm quyền lực.
“Tôi nghĩ có một sự đồng thuận rằng Trung Quốc là một mối đe dọa tiềm năng …và rằng nếu Trung Quốc sẽ trỗi dậy với việc hiện đại hóa quân sự lớn một cách bất thường, và thấy có tình trạng hỗn loạn ở châu Á và một sự giảm sút hoặc rút lui của Mỹ và … một hệ thống liên minh tàn lụi, thì Trung Quốc có thể bị cám dỗ để tìm kiếm sự thống trị quân sự.”
Ông Burns nói rằng ông không có ý nói về sự thống trị thực dân, nhưng “khả năng đe dọa, thứ hành vi của Trung Quốc mà chúng ta đã thấy ở ASEAN (Diễn đàn khu vực về an ninh) mùa hè năm ngoái trên biển Động, một nước Trung Quốc đi quá trớn.”
Mặt khác, nếu Mỹ “có thể giữ nguyên vị thế của mình ở châu Á, vẫn duy trì sức mạnh quân sự chủ yếu của nó thông qua hệ thống đồng minh của mình, và cũng bao gồm luôn Ấn Độ trong một mối quan hệ đối tác chiến lược mới ở Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, có nhiều khả năng hơn nữa khi Trung Quốc trỗi dậy giữa một biển dân chủ đầy các cường quốc dân chủ, thì sẽ là hoà bình “.
Sự đồng thuận Washington do ông Burns nêu ra là nhất quán với các hành động của Mỹ. Trong tháng vừa qua, chính quyền Obama đã tái khẳng định một cách rõ ràng cam kết của mình với các đồng minh chủ chốt châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines. Họ cũng đã làm điều tương tự với Australia.
Bộ Tư lệnhThái Bình Dương Mỹ đã tổ chức các cưộc tập trận huấn luyện trong vùng biển Đông với Philippines và một số nước Đông Nam Á khác. Trong khi đó, Washington đã củng cố quan hệ chiến lược với Việt Nam.
Mỹ cũng đã đồng ý với Nhật Bản đưa Ấn Độ vào một cuộc đối thoại an ninh ba bên, trên cơ sở Ấn Độ có các lợi ích thương mại và hải quân đang tăng lên tại các tuyến đường biển bận rộn xuyên qua biển Đông và New Delhi quan tâm đến cách hành xử của Trung Quốc ở đây như là một dấu hiệu về cách mà Bắc Kinh sẽ hành xử như thế nào trong tranh chấp biên giới Trung-Ấn.
Tuy nhiên, có dấu hiệu đáng lo ngại rằng Trung Quốc tin rằng các động thái này của Mỹ, đồng minh và bạn bè chỉ là trò tháu cáy và rằng cán cân quyền lực trong vùng biển Đông sẽ nghiêng về phía Trung Quốc mà không gì ngăn cản được vì giao thương và các liên kết khác đang lớn mạnh của Trung Quốc với Đông Nam Á mang thêm đòn xeo.
Các quốc gia ASEAN có thể phải đối mặt với một sự lựa chọn đau đớn. Họ sẽ xuống nước nhân nhượng, và do đó làm táo tợn hơn một Trung Quốc ngày càng có thế lực, là một phần không thể tách rời của châu Á, hay họ sẽ dựa vào các đảm bảo ngoại giao và trợ giúp chiến lược tương đối yếu và bị phân tâm từ các cường quốc ngoài khu vực như Mỹ và Nhật Bản.

NGỌC PHƯƠNG NAM


7 tháng 5, 2014

Đọc lại Chất quan Trương Đình Tuyển


HỌC MỖI NGÀY. Tôi đã đọc Chất quan Trương Đình Tuyển của nhà văn Ngô Minh trước đây nhưng nay đọc lại bài này trên "Quà tặng xứ mưa" vẫn thấy thích. “Chất quan” của ông “WTO Trương Đình Tuyển” là chất ham học, ham đọc, chất  liêm sĩ  thể hiện rất đậm nét trong công việc và sinh hoạt hàng ngày của ông. Đúng vậy ! Thật ra tôi chẳng thích cái chi tiết tả thực : Khi bộ trưởng xuất hiện ở cửa máy bay, tôi thấy ông một tay xách cặp, một tay ôm vào ngực một chồng dày nào tài liệu, sách và báo xuống cầu thang máy bay. Hình như trên máy bay ông mãi đọc tài liệu, đọc báo, nên khi máy bay dừng, ông quên sắp xếp vào cặp. Thấy đoàn Huế ra sân bay đón,  ông quên mất là mình đang ôm chồng tài liệu, ông giơ tay chào, thế là tài liệu bay tung toé khắp nơi. Cậu Thìn lái xe và tôi phải chạy đuổi theo gió để nhặt lại. Thế mà lên xe ông lại tiếp tục đọc. Khi mở cửa xe để vào khách sạn, ông lại làm rơi chồng tài liệu một lần nữa...". Khi đọc đoạn này thật khác phong độ của một chính khách lịch lãm, từng trãi.  Dẫu vậy, tôi lại rất đồng tình với anh Ngô Minh: “chất quan” Trương Đình Tuyển cũng là chất thơ làm xúc động lòng người, làm dân tin yêu, cảm phục. Đó là con người trực diện, thẳng thắn không rào đón, nói năng rất hào hứng. Nắm và phân tích sâu sắc tình hình thương mại đất nước và quốc tế một cách vanh vách với các số liệu dẫn chứng thuyết phục. Chép và đọc lại Chất quan Trương Đình Tuyển để suy ngẫm. Bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển, ảnh báo Tuổi Trẻ.

"CHẤT QUAN" TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN

Ngô Minh

(QTXM): Bạn đọc thân mến. QTXM vừa in bài “Bộ trưởng nên như thế” của Tô Văn Trường viết về cựu Bộ trưởng thương mại Trương Đình Tuyển. Cách đây hơn 10 năm, khi ông Trường Đình Tuyển còn làm bộ trưởng, Ngô Minh cũng đã có bài viết “CHẤT QUAN TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN”, nay in lại để bạn đọc cùng chia sẻ. Ngô Minh cầu mong một chế độ tuyển chọn nào đó để các bộ trưởng chúng ta ai cũng “chất lượng cao” như ông Trương Đình Tuyển, thì lợi cho dân cho nước quá.

             Nhắc đến Bộ trưởng Trương Đình Tuyển , người dân ai cũng nhớ hình ảnh ông tại những phiên đàm phán gia nhập WTO, những phiên trả lời chất vấn trực tiếp tại các kỳ họp hàng năm của Quốc Hội khoá XI. Ông nói việc nước, việc đại sự mà  làu làu như việc nhà . Ông bao giờ cũng trực diện, thẳng thắn không rào đón, nói năng rất hào hứng. Nắm và phân tích sâu sắc tình hình thương mại đất nước và quốc tế một cách vanh vách với các số liệu dẫn chứng thuyết phục. Nhưng  ông lại nói vo, không chuẩn bị trước văn bản . Nhiều lần nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã  khen ngợi ông sau các phiên trả lời chất vấn. Còn cử tri cả nước khi xem truyền hình nghe ông nói ai cũng thích thú tán thưởng . Nhắc đến bộ trưởng Trương Đình Tuyển,  mọi người đều nhớ hình ảnh người chèo lái con thuyền Việt Nam trong các dịp ký kết Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, đàm phám để Mỹ giành cho Việt Nam quy chế  thương mại vĩnh viễn ( PNTR) ; đàm phán đa phương , song phương về WTO vô cùng căng thẳng, gay cấn và mưu mẹo. Ông đã nhiều lần bỏ ra khỏi phòng đàm phán. Ông đã tuyên bố với phái đoàn WTO rằng, Việt Nam không thể vào WTO với bất cứ giá nào. Nhiều người gọi ông là “ông WTO”. Việc kết thúc đàm phán vào đêm 26/10/2006, mở đường cho Việt Nam gia nhập WTO 7/11/2006, trước Hội nghị thuợng đỉnh APEC Hà Nội 2006, có lẽ là chiến công lớn nhất cuộc đời làm quan của ông. Nhìn vẻ mặt rạng rỡ của ông trong lễ kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 150 của WTO ở Giơnevơ Thuỵ Sĩ hôm 7/11, ta hiểu được ông đã sung sướng hạnh phúc như thế nào trước thắng lợi vang dội đó của đất nước.  Bộ trưởng Trương Đình Tuyển là “tư lệnh” Việt Nam trong 14 phiên trường kỳ đàm phán kéo dài 11 năm, trực tiếp là 8 năm 2 tháng và 26 ngày ròng rã . Công lao và tâm huyết đó nhất định  sẽ được lịch sử  ghi nhận.

          “Chất quan” của ông “WTO Trương Đình Tuyển” là chất ham học,ham đọc, chất  liêm sĩ  thể hiện rất đậm nét trong công việc và sinh hoạt hàng ngày của ông. Tôi là phóng viên báo Thương Mại, mấy lần theo đoàn  tháp tùng Bộ trưởng đi công cán ở miền Trung. Quê vợ tôi lại ở Nghệ An, mỗi lần tôi về thăm, bố vợ tôi, nguyên phó bí thư, chủ tịch một huyện đã nghỉ hưu từ thời bao cấp,  kể rất nhiều giai thoại về bí thư tỉnh uỷ Trương Đình Tuyển.  Nhờ thế mà tôi biết nhiều nét tính cách đặc biệt của ông Bộ trưởng lòng dạ  thẳng ngay này. Một lần Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đi máy bay từ TP Hồ Chí Minh ra Huế để họp với các doanh nghiệp trên địa bàn. Tôi thường trú ở Huế nên theo xe của Sở Thương mại về sân bay Phú Bài đón ông. Khi bộ trưởng xuất hiện ở cửa máy bay, tôi thấy ông một tay xách cặp, một tay ôm vào ngực một chồng dày nào tài liệu, sách và báo xuống cầu thang máy bay. Hình như trên máy bay ông mãi đọc tài liệu, đọc báo, nên khi máy bay dừng , ông quên sắp xếp vào cặp. Thấy đoàn  Huế ra sân bay đón,  ông quên mất là mình đang ôm chồng tài liệu, ông giơ tay chào, thế là tài liệu  bay tung toé khắp nơi. Cậu Thìn lái xe và tôi phải chạy đuổi theo gió để nhặt lại. Thế mà lên xe ông lại tiếp tục đọc. Khi mở cửa xe để vào khách sạn, ông lại làm rơi chồng tài liệu một lần nữa . Ông tranh thủ đọc và đọc chăm chú từng phút như thế, chả trách ai  hỏi gì ông cũng biết , nói năng , trả lời đâu ra đấy.

           Khi ngồi chủ trì cuộc họp, ông ít khi cà vạt, com lê,  Ở nhiều cuộc Hội nghị  Thương mại hàng năm, kể cả khi đón thủ tướng hay phó thủ tướng về làm việc với Bộ, tôi cũng ít thấy ông  com lê cà vạt. Hình như ông  không thích loại y phục lễ lạc gò bó này. Ngồi họp, tay ông chống má, mắt lim dim như ngủ. Mặt ông hốc hác, phong trần.  Nhưng  khi nào có đại biểu nào đó nói ý gì đó “có vấn đề”, ông  ngồi thẳng đậy, mở cuốn sổ trước mặt ghi ghi , rồi lại ngồi lim dim lắng nghe. Có lần tại cuộc họp với doanh nghiệp Thương mại Quảng Trị , anh Nguyễn Thế Phiệt, giám đốc Công ty Thương  mại huyện miền núi Hương Hoá đọc bản báo cáo viết sẵn cho Bộ trưởng nghe tình hình công ty  của mình.  Đang  nghe,  bỗng ông Tuyển rời vị trí đến  đứng cạnh anh Phiệt, vỗ vai xin ngắt lời . Ông Tuyển hỏi :
-  Anh là giám đốc hay cán bộ công ty?”.
Anh Phiệt mặt tái mét, run như cầy sấy:
- Dạ, báo cáo Bộ trưởng, em là giám đốc ạ !
- Giám đốc sao không nhớ việc công ty mà phải đọc báo cáo viết sẵn. Đưa bản này cho nhà báo Ngô Minh. Tôi hỏi gì anh trả lời nấy, được không ?  Anh xem, tôi là Bộ trưởng, công việc cả ngành mà họp với các anh tôi có đọc bài viết sẵn bao giờ đâu !    

            Sau đó giám đốc nào lên cũng mở sổ ra và nói, không đọc bài viết sẵn nữa. Bữa ấy tôi mừng thầm có được một lúc chục bản báo cáo, kiến nghị, lại khỏi phải ghi chép số liệu.  Thời kỳ này, khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang “ đấu tranh” chuyện “hai giá”. Tức là giá máy bay, giá tham quan du lịch, giá dịch vụ điện nước cho người nước  ngoài đều cao hơn giá cho người trong nước gấp gần chục lần. Trong cuộc toạ đàm với các doanh nghiệp ở Huế , ông giám đốc Công ty  xi măng Lucvaxi ở Huế,  người Hông Kông, đứng lên đỏ mặt nói rất căng thẳng về vấn đề “hai giá”, đòi Chính phủ  Việt Nam phải cùng một giá dịch vụ ngay tức khắc. Tôi thấy bộ trường Trương Đình Tuyển ghi chép mấy câu, rồi đến gần ông giám đốc người Hồng Kông , giải thích một cách thông minh bất ngờ và thú vị :

           - Thưa ngài giám đốc, là thành viên Chính phủ, tôi hiểu tâm trạng bức xúc của Ngài. Tôi cũng rất  bức xúc. Nhưng  theo tôi biết thì Chính phủ  Việt Nam đang cân nhắc giữa việc điều chỉnh “một giá” dịch vụ cho người nước ngoài  với việc điều chỉnh lại tiền lương khởi điểm cho lao động Việt Nam làm trong các công ty liên doanh, hay 100% vốn nước ngoài. Vì mức lương khởi điểm 50 “đô” là rất thấp so với các nước trong khu vực. Theo ngài thì điều chỉnh cùng một lúc ,hay cái gì trước cái gì sau ?

            Ông giám đốc liên doanh người Hông Kông sau khi nghe dịch đã chắp tay vái vái :” Tôi hiểu, tôi hiểu. Xin ngài xá cho!”. Đó là sự đối đáp thông minh, nhạy cảm rất cần thiết của nhà đàm phán trong đấu tranh với đối tác nước ngoài để giành giật từng  điểm có lợi cho đất nước về kinh tế.

            Ông Tuyển là người không thích quan cách. Tôi đến phòng  Bí thư tỉnh uỷ Nghệ An của ông, tôi thấy góc phòng có bếp ga, song nồi, chén bát. Tôi ngạc nhiên hỏi :” Thế không có ai phục vụ cho anh à ?”. Anh cười :” Làm sao phải có thêm một người phục vụ ! Mình ăn được thì  nấu được chứ” . Ông tự đạp xe đạp đi chợ Vinh mua thực phẩm về nấu lấy ăn. Nấu một bữa, ăn cả ngày.  Ngày nghỉ cuối tuần , không họp hành gì , ông nhảy tàu hoả ra Hà Nội với vợ con. Tôi nghe anh em cán bộ tỉnh uỷ Nghệ An  kể, văn phòng tỉnh uỷ trang bị cho ông cái tủ lạnh, nhưng ông không nhận. Ông chỉ đề nghị mua cái bình gas, hết bao nhiêu tiền ông trả.  Trong lúc bí thư, chủ tịch nhiều tỉnh , huyện, giám đốc các sở đi xem bóng đá phải là  xe con , dù nhà chỉ cách sân vận động cây số. Còn bí thư tỉnh  uỷ Trương Đình Tuyển vẫn đạp xe đạp ra sân vận động xem bóng đá .

             Ông Tuyển là người thẳng thắm và liêm khiết, rất tiết kiệm của công.  Khi ông được điều về  làm bí thư Nghệ An, lãnh đạo tỉnh bàn nhau định phân phối đám đất và xây nhà cho ông theo tiêu chuẩn chung. Khi hỏi ý  liến ông, ông gắt :” Tôi đã có nhà ở Hà Nội rồi”! Trong lúc đó nhiều ông quan tìm mọi cách để  biến nhà công vụ thành nhà riêng. Dịp Đại hội Đảng bộ các huyện, văn phòng tỉnh uỷ  Nghệ An bố trí xe con cho Bí thư, các phó bí thư, các Trương ban. Còn anh em chuyên viên thì đi chung xe 16 chỗ  ngồi. Đó là “tập tục” xưa nay, nên họ không cần hỏi ý kiến Bí thư mới.  Đến giờ xuất phát , thấy xe con, xe ca đỗ san sát trong sân, ông Tuyển ngạc nhiên hỏi :” Xe đi đâu mà nhiều thế này”. Một ông văn phòng thưa :” Thưa anh, xe đi Đại hội huyên…”. Ông  đỏ mặt phán :” Các xe con về. Còn tất cả lên xe ca. Tiền đâu mà xe cộ rầm rầm thế?”. Lần khác,  ông nhận được giấy mời dự Đại hội Đảng bộ huyện nọ. Đúng giờ ông nhờ một anh cán bộ chở xe máy xuống huyện. Toàn Ban chấp hành  huyện uỷ  vì không biết  mặt bí thư mới, nên cứ ra cổng để đón đoàn xe của tỉnh uỷ về dự Đại hội. Chờ mãi, đến khi thấy chiếc xe ca chở  quan chức tỉnh về, hỏi ra thì mọi người  mới chưng hửng : Bí thư tỉnh uỷ mới đang ngồi đọc tài liệu  trong hội trường đại hội từ lâu rồi! Lên dự Đại hội Đảng bộ một huyên miền núi, sau khi bầu báng xong, kết thúc hội nghị, huyện uỷ chiêu đãi rất thịnh soạn . Cuối bữa tiệc, Bí thư tỉnh uỷ hỏi Bí thư huyện uỷ mới :” Ông làm sao có nhiều tiền mà chiêu đãi nhiều người thịnh soạn thế này ?”. Ông bí thư huyện tái mặt :” Dạ thưa anh, bốn năm năm mới có một lần”. Ông Tuyển nghiêm sắc mặt :” Tiền là tiền thuế của dân, miền núi lại nghèo, dân đang đói, ông không xót sao ? Còn đi dự đại hội xã thì họp xong là ông chuồn, vì ngại xã phải mời cơm. Rủ anh em cùng đi về dọc đường ăn quán. Khi ăn quán ông thường giành “quyền” trả tiền vì “ Lương tôi cao hơn các cậu” . Bà con tiểu thương bán thực phẩm chợ Vinh do xem tivi nên biết mặt ông Tuyển. Khi mua rau, cá, ông hỏi bà con “có  bán đắt không đấy ?”.Bà con trả lời ngay :” Làm bí thư tỉnh uỷ mà tự đi chợ nấu ăn , là bà con biết “loại” người nào rồi. Bà con thương lắm, tin lắm, không bán đắt mô !”. Ông Tuyển về làm bí thư  Nghệ An chưa trọn nhiệm kỳ, mà có huyện miền núi như Tân Kỳ ông đến thị sát tới 3 lần.Ông đi  cơ sở không bao giờ báo trước. Không bao giờ để  huyện hay nông trường, nhà máy lo chỗ ngủ, đãi đằng cơm nước, mà tất cả đều do Văn phòng tỉnh uỷ chuẩn bị  theo sự chỉ đạo của ông.

            Người dân Nghệ An còn kể nhiều giai thoại nữa, như chuyện ông Tuyển  cứ sau mỗi cái Tết lại nộp vào ngân quỹ của tỉnh hàng tỷ đồng. Đó là tiền mà các quan chức Nghệ An mang ra Hà Nội “chúc Tết” gia đình Bí thư ông khi ông không ở nhà. Ông bắt vợ nhận và cho vào một cái hòm, như “hòm công đức”.v.v..
            Thời về làm Bí thư tỉnh uỷ Nghệ An, “chất quan” dân giã, bộc trực và  khí khái đó  rất kỵ rơ với một loạt ông quan liêu, tham nhũng, say xỉn, hạch sách nhân dân, tiêu tiền dân như nước…  ở các huyên  đã có tới  sáu bí thư , phó bí thư huyện uỷ đã bị ông Tuyển cách chức. Nghe tin này, dân Nghệ An ai cũng hởi lòng hởi dạ.

               Đó là những câu chuyện thật đã thành  giai thoại về Trương Đình Tuyển mà  bố vợ tôi và các lão thành  cách mạng Nghệ An rất hay kể.  Giai thoại là chuyện dân gian, được dân tin yêu thế nào, phải là “chất quan” thế nào mới  có nhiều giai thoại đọng lại trong  lòng dân như thế.  Về chuyện xe cộ , tôi cũng mục sở thị nhiều lần về “chất quan” Trương Đình Tuyển. Một lần Đoàn công tác bộ Thương mại từ Huế ra Quảng Trị. Sở thương mại tỉnh cho hai chiếc xe đến chở đoàn.  Một chiếc xe con  bốn chỗ  và một chiếc xe 22 chỗ ngồi. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển  ra khỏi khách sạn, lên thẳng chiếc xe ca ngồi vào vị trí thứ hai sau lưng lái xe. Lãnh đạo tỉnh thiết tha đề nghị Bộ trưởng xuống đi xe con . Ông cười bảo :” Các ông vẽ chuyện. Đây ra Đông Hà xe này chở đoàn còn rộng, đi thêm xe con làm gì cho tốn !”.  Từ Quảng Trị ra Quảng Bình cũng diễn ra cảnh tượng đó. Lần này thì Bộ trưởng nổi nóng đuổi  anh lái xe con :“ Em đưa xe về ngay!”. Những cử chỉ bình dân, thân tình  như vậy tôi chưa bao giờ thấy ở những ông quan tỉnh, quan bộ. Họ “một bước là ngựa xe đứng đi quân hầu chật”, nhậu nhẹt luôn có “em út” kề cạnh đến lúc say xỉn, còn lái xe con thì “đỗ bên ngoài chờ thủ trưởng”!  Đêm đó ra Đồng Hới, sáng hôm sau, anh Hải thư ký bộ trưởng đưa cho ông Tuyển hai cây thuốc “ba số” do lái xe Quảng Trị gửi lại, nói là “ Chi cục Quản lý thị trường Quảng Trị biếu”. Dù là người rất nghiện thuốc lá, nhưng nghe chuyện đó ông trợn mắt :” Ai lại đi bắt thuốc lá lậu rồi biếu Bộ trưởng bao giờ ! Nhưng xe họ đi  rồi nên chia  hết cho mọi người trong đoàn để biết mùi hàng lậu thơm tho thế nào“. Tôi  nói :” Em không hút thuốc, lấy làm gì”. Ông Tuyển cười :” Nhà thơ không hút cũng phải nhận để tặng  bạn thơ nghiện”.

                Ấn tượng nhất đối với tôi là bộ trưởng Trương Đình Tuyển rất yêu văn chương và quý mến các nhà văn. Ông thân thiết và hay đàm đạo  văn chương với các nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Trần Cương….Mỗi lần vô Huế ông đều gọi cho tôi.   Khi ông mới lên bộ trưởng,  cái tên Phùng Quán vẫn  gây sự sợ sệt đối với nhiều người. Thế mà ông dám mời nhà văn Phùng Quán đến cơ quan Bộ Thương Mại đọc thơ. Vào Huế , dù họp hành cấp tập, tối  đến ông vẫn bảo  tôi rủ mấy anh chị nhà thơ Huế như Nguyễn Khắc Thach, Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà…đến chỗ ông ở để gặp gỡ và đọc thơ cho vui. Trong những cuộc như thế, ông chăm chú nghe thơ anh em và say sưa đọc những bài thơ mới của mình cho đến tận khuya.

            Ông là thi sĩ đích thực. Thơ ông rất tâm trạng, rất  mới, chứ không như “thơ lãnh đạo” xưa nay. Trong tuyển thơ tạp chí Sông Hương 20 năm ông có bài thơ được chọn. Bài thơ in trên tạp chí này từ năm 1992 : Sáng mai rồi trở dậy, gió triều lên / Con thuyền cũ đưa em về bến cũ / Tôi một mình bên bờ hoang sóng vỗ / Hoàng hôn mờ phủ tím cánh buồm xa…( Cánh buồm xa…). Ông có hàng mấy trăm bài thơ chép trong sổ tay. Có lần ở Đông Hà, Quảng Trị, tỉnh uỷ, UBND tỉnh chiêu đãi. Sau mấy vại bia là tiết mục văn nghệ của các em xinh đẹp. Nghe  ba cô gái Quảng Trị hát, máu thơ nổi lên, không phân biệt quan hay dân, bộ trưởng  Tuyển đứng lên “xin đáp lễ” bằng thơ. Ông say sưa đọc một lúc đến  năm bài thơ của mình. Toàn những bài thơ tâm trạng rất hay. Thơ ông da diết, trí tuệ . Bài thơ  viết trong chuyến đi thăm  lăng mộ Taj Mahal, Di sản thế giới ở Ấn Độ  ông có bài thơ “ Viết ở lâu đài Batmahal”. Xin được chép nguyên văn :

                                          Tôi đến thăm lâu đài Batmahan
                                           Đọc những trang văn
                                           Trên nền đá trắng
                                           Tôi bồi hồi nghe bao chuyện buồn vui
                                           Đã truyền đi tiếng vọng
                                           Kiếp người !

                                            Bátmahan sừng sững giữa trời
                                           Pho sử đá ghi cảnh đời nghịch lý
                                            Vua khóc vợ xây đền đài kỳ vỹ
                                           Tôi khóc người thợ đá
                                            Đá ơi !

                                            Và sông Hằng nước mắt cứ đầy vơi

            Ông còn có nhiều câu thơ hay khác như Không đa mang cũng phong trần / Không đam mê cũng đôi lần liêu xiêu… Sang Nga, đi bên sông Nê Va gặp cô gái Hồi  choàng khăn che mặt, ông viết :”Mắt mồ côi anh gặp mắt em rồi”.  Có lần  một số Tết  báo Thương Mại có in một bài thơ ông viết tặng vợ nhưng ký một bút danh khác. Bài thơ ghi công vợ bao năm về quê chăm lo việc họ, việc nhà, “ Còn anh năm tháng hành nghề phiêu diêu”. Tôi hỏi :” Sao anh làm bộ trưởng lại gọi là  “hành nghề phiêu điêu ?”. Anh cười :” Luật pháp, chính sách mình chưa chặt, còn nhiều kẽ hở để bọn xấu lợi dụng, nên làm bộ trưởng bây giờ “chết” lúc nào không biết, không phiêu diêu là gì nữa !”. Ông Tuyển có  cả một tập thơ tình yêu. Toàn những bài không có đầu đề. Đó là những bài thơ “ khóc” một cuộc tình  thời trai trẻ. Hai người yêu nhau thời sinh viên, nhưng không ai dám thổ lộ. Khi ông đi bộ đội  trở về Hà Nội lấy vợ, trong nột chuyến tàu điện Hà Nội thì gặp nàng . Tình cảm lại dâng trào :
                                    Tuổi  hai mươi đôi môi đỏ mọng
                                    Em trao cho ai những chiếc hôn đầu
                                    Dẫu rất yêu em
                                    Anh chỉ được hôn lên mái tóc
                                    Cái e ấp này chẳng tại anh đâu…
                             Hay:
                                     Vụng về và chậm muộn
                                      Sao cứ nhiều đam mê
                                     Thu có còn đủ nắng
                                      Cho xôn xao mùa về…

           Gần đây nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có đọc cho tôi nghe mấy câu  thơ mới của Trương Đình Tuyển  phác hoạ rất đúng chân dung của ông :
                                              Tôi khảo cổ chính tôi và thấy
                                               Một xấp dày ngu ngơ…

            “Ngu ngơ” nghĩa là không biết những mánh lới để chạy chức chạy quyền ăn tiền ăn đất. Cái “chất ngu ngơ” đó là chất kẻ sĩ, chất thi sĩ không màng danh lợi.  Nghe nói vừa qua, có vị quan cấp trên  có gợi ý  ông Tuyển lên làm chức cao hơn, nhưng ông từ chối, không dám nhận. Ông mong mỏi sau đàm phán WTO xong , được nghỉ việc quan  để về viết hồi ký, làm thơ. Hồi ông đang bộ trưởng Thương  Mại lần thứ nhất , tôi hỏi ông :” Sao anh không xuất bản thơ mình? Thơ anh có chất  lắm”. Ông cười nheo mắt :” Mình in thơ bây giờ thiên hạ sẽ bảo  Bộ trưởng  lấy  “tiền chùa” in thơ à ! . Mặc dù mình không thèm làm việc hạ tiện đó, họ vẫn cho là như thế, đúng không?. In thơ thì vội gì. Nàng thơ bỏ mình mới sợ, Đúng không nhà thơ Ngô Minh ?“. Vâng, ông bảo không  xa nữa đâu, khi về hưu ông sẽ in một tập thơ dày gồm  ba phần : Thơ cho mọi người. Thơ cho một người . Và thơ cho mình…

            Vâng, cái “chất quan” Trương Đình Tuyển cũng là chất thơ làm xúc động lòng người, làm dân tin yêu, cảm phục. Ôi giá mà tất cả các “quan” của ta ai cũng có “chất quan”  giống như “ông  WTO” Trương đình Tuyển…

Đọc thêm:
Bắt chước Trung Quốc, Việt Nam không thể cạnh tranh (Trương Định Tuyển, theo VietNamNet)
Đề xuất xử lý Bộ trưởng Trương Đình Tuyển (Việt Báo theo Tiền Phong)


21 tháng 4, 2014

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi


image














HOCMOINGAY. Theo Hương Sen Xứ Nghệ. Hang động Ajanta  (Ấn Độ)  có thể coi là một trong những di sản lớn nhất về đạo Phật còn lưu giữ được đến ngày nay.
Nằm ẩn mình trong khu rừng rậm hoang vu của cao nguyên Deccan (Ấn Độ), hang động Ajanta đã bị lãng quên trong một thời gian dài. 
Vào năm 1819, một nhóm người Anh đi săn cọp trong khu vực này đã tình cờ phát hiện hệ thống hang động Ajanta. Quần thể hang động Ajanta là di tích quý giá đại diện cho thời kỳ Hưng thịnh của Phật giáo tại Ấn Độ. 
Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 1

Ajanta tọa lạc ở lưng chừng núi, bên dưới hang động là lòng vực cùng dòng sông Waghora uốn khúc. Hang động được bố trí theo dạng hình móng ngựa, khoét sâu vào bên trong vách núi đá thẳng đứng cao 76m.
Di tích hang động Ajanta có tất cả 30 hang, bao gồm Thánh đường Phật giáo và các khu phụ cận. Các nhà khảo cổ đã đánh dấu các hang theo số thứ tự.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 2

Quần thể hang động Ajanta không được tạo dựng trong một thời kỳ liên tục nên các nhà nghiên cứu phân chia các hang động theo từng thời kỳ xây dựng. 
Nó gồm hai phần: cụm hang được tạo dựng vào giai đoạn đầu vào thế kỷ II TCN gồm hang số 8, 9, 10, 12, 13, 15A mang màu sắc của Phật giáo nguyên thủy. 
Cụm hang sau được xây dựng vào thế kỷ V, mang màu sắc Phật giáo mới. Tuy nhiên, một số hang vẫn còn chưa được hoàn tất.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 3

Dù vẫn còn một số hang vẫn chưa được hoàn thành, Ajanta vẫn là quần thể chùa hang vô cùng lớn trên thế giới do bàn tay con người tạo ra.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 4

Một trong những điểm đặc biệt của quần thể hang động này chính là một số lượng khổng lồ các bức tượng điêu khắc về đạo Phật. Đây được coi là những tác phẩm hội họa đẹp nhất của nghệ thuật Phật giáo.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 5

Ngay những bước chân đầu tiên tham quan quần thể kiến trúc này, du khách có thể bắt gặp những khung cảnh hết sức vĩ đại. 

“Mặt tiền” của hang động, hàng dài tượng Phật được đục đẽo bằng tay vô cùng khéo léo ngay trên bề mặt của vách đá, hay cả một điện thờ với những cột trụ vô cùng chắc chắn được tạo nên bởi các nghệ nhân ngay trong lòng núi đá.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 6

Hang số 12 được đẽo trong thời kỳ đầu và được gọi là Tăng viện; đây là nơi sinh sống của những thầy tu ngày xưa. 

Họ sinh hoạt và tu hành trong không gian chật hẹp. Các thầy tu dùng bệ đá làm giường ngủ, họ luôn tuân thủ trong quá trình tu hành khổ hạnh theo cách như thế.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 7

Hang số 9 có tên gọi là Tháp viện, là một căn phòng dùng làm nơi cầu nguyện của các nhà tu hành. Tháp viện mang ý nghĩa rất linh thiêng, là nơi tôn thờ thánh tích của Đức Phật. 

Thời kỳ này hoàn toàn không có sự hiện diện của các tượng Phật. Vì vậy, Tháp Phật được xem là một biểu tượng linh thiêng để tôn thờ và phụng sự.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 8

Nhóm hang động thứ 2, tượng Phật hiện diện khắp nơi. Có tượng Phật ngồi thể hiện rằng, đã đạt được sự giác ngộ dưới cội bồ đề, xung quanh là sự cám dỗ của quỷ ma. 
Trước khi giác ngộ, Đức Phật đã trải qua nhiều giai đoạn tu luyện, tất cả đều được thể hiện qua hàng loạt tác phẩm điêu khắc trong hang. 

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 9

Có được các tác phẩm tượng Phật đạt đến vẻ đẹp đỉnh cao như thế là nhờ vào các họa sĩ và nhà điêu khắc đã thấm nhuần Phật pháp. Chính họ đã góp phần rất lớn tạo nên giá trị cho quần thể hang động Ajanta.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 10

Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ VII là giai đoạn phát triển của nghệ thuật Phật giáo tại hang động Ajanta. Đó là những bức bích họa được vẽ trên tường trong hang động.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 11

Cách mà những người thợ dùng để tạo ra những tác phẩm của mình cũng vô cùng độc đáo. Theo một số tài liệu, nguyên liệu chính để làm nên những bức vẽ chính là đá cuội và các loại rau quả. 

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 12

Rau quả được nghiền nát ra để tạo thành 1 chất keo, sau đó được nghiền tiếp với các viên sỏi đầy màu sắc để tạo ra một loại “sơn” cho những tác phẩm này. 

Minh chứng rõ nhất chính là những hình tượng Phật trên những bức tường ở hang số 10 dù đã trải qua nhiều thế kỷ nhưng vẫn không hề bị phai màu.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 13

Có thể nói, nghệ thuật hội họa của người Ấn Độ cổ đại đã đạt đến chất lượng hoàn hảo về màu sắc cũng như bố cục. Các tác phẩm này đã qua cuộc thử nghiệm thành công của thời gian.

Choáng ngợp hàng nghìn tượng Phật thiêng xuyên núi 14

Quần thể chùa hang Ajanta là di tích lịch sử lớn nhất thế giới đã được UNESCO công nhận vào năm 1983. Đây có thể coi là một trong những di sản lớn nhất về đạo Phật còn lưu giữ được đến ngày nay.
Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương Nam,  Chào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống,  Thơ cho con

Người theo dõi