Lưu trữ Blog

14 tháng 6, 2019

ĐBSCL, 44 năm chuyển đổi kinh tế, xã hội và môi trường

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, 44 NĂM CHUYỂN ĐỔI
KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
Nguyễn Ngọc Trân [1]       

Tóm tắt.
Sau năm 1975 đồng bằng sông Cửu Long cùng cả nước bắt tay ngay vào công cuộc tái thiết đất nước, lúc đó đang bị bao vây cấm vận, hòa bình vẫn chưa được trọn vẹn ở hai đầu biên giới phía Bắc và Tây Nam. Đồng bằng còn phải đối diện với biến đổi khí hậu và hệ quả của việc sử dụng nguồn nước trên thượng nguồn.

Chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh kế dẫn đến những chuyển đổi về môi trường. Sự phát triển của ĐBSCL trong 44 năm qua ra sao và làm gì để có được sự tăng trưởng kinh tế ổn định, môi trường được bảo vệ, và cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện về vật chất và về tinh thần, đặc biệt sau khi có Nghị quyết 120 của Chính phủ, là nội dung của bài viết.

Một vùng đất trẻ đang bị uy hiếp nghiêm trọng
Châu thổ sông Mekong là vùng đất nằm ở tận cùng của lưu vực sông Mekong, giáp với Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần của châu thổ trên lãnh thổ Việt Nam. Châu thổ được hình thành vào khoảng 6000 năm trước hiện tại (BP) từ quá trình biển lùi và từ trầm tích thượng nguồn theo sông Mekong đổ ra biển, dưới tác động tổng hợp của sông, sóng và triều. Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long đã phân ĐBSCL thành 5 đơn vị môi trường vật lý [2], Hình 1. Sự giao thoa giữa sông và triều hình thành nên tại ĐBSCL ba tiểu vùng: (I) sông chi phối, (II) tranh chấp sông – biển, và (III) biển chi phối. Ranh giữa ba tiểu vùng không cố định. Hình 2.



Hình 1.  Năm đơn vị môi trường vật lý của ĐBSCL   Hình 2. Ba tiểu vùng từ giao thoa sông-biển

ĐBSCL bằng phẳng, thấp trũng, cao trình mặt đất so với mực nước biển phổ biến từ 0,5 đến 1,5 mét. Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đánh giá ĐBSCL là một trong ba châu thổ lớn trên thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi sự nóng lên của khí hậu toàn cầu.

Mặt khác đồng bằng đứng trước nguy cơ bị xâm thực từ biển và bị sạt lở ngày càng nghiêm trọng do đói trầm tích bị các đập thủy điện trên dòng chính ở thượng nguồn giữ lại và do khai thác sỏi, cuội, cát của các quốc gia trong lưu vực, kể cả Việt Nam.

Thành tựu ấn tượng về kinh tế, thay đổi sâu sắc về môi trường

Sau năm 1975, Việt Nam bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước. Sản xuất lương thực là một nhiệm vụ kinh tế xã hội bức bách hàng đầu đặc biệt của ĐBSCL vốn được xem là vựa lúa của cả nước.

Ba vấn đề cần giải quyết là phèn, chuamặn để khai thác ba tiểu vùng đất rộng người thưa lúc bấy giờ là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long XuyênBán đảo Cà Mau.

Khó khăn khi đó đối với đồng bằng, đặc biệt trong hai đồng lũ Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, là vào mùa mưa thì thừa nước, đồng ruộng bị ngập trắng, nhưng vào mùa khô thì lại thiếu nước trầm trọng, đất nứt nẻ, phèn xì lên từ những lớp đất phèn bên dưới bị oxy hóa. Vào mùa khô nước mặn theo triều xâm nhập sâu vào đồng bằng. Đầu mùa mưa, phèn được rửa, chảy vào kênh rạch kéo độ pH xuống thấp. Phải chờ cho bớt phèn mới bắt đầu canh tác được.

Việt Nam đã vượt qua khá thành công các thách thức này bằng sự thay đổi khá sâu sắc môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái.



Hình 3a,b

Một nỗ lực phi thường: hàng chục ngàn kilomet kênh các cấp đã được đào để tiếp ngọt, ém phèn, thao chua, rửa mặn. Nhiều trạm bơm để tiếp ngọt, tiêu úng, nhiều cống ngăn mặn, giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiểm mặn đã được xây [3]. Kênh “Trung ương” Hồng Ngự - Long An đã mang nước ngọt từ sông Tiền sang đến tận sông Vàm Cở Tây, làm nhòa ranh giới lưu vực sông Mekong trên địa bàn đồng bằng sông Cửu Long. Để mở rộng diện tích canh tác lúa, rừng tràm trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, ở rừng U Minh bị thu hẹp dần (Hình 3a,b), các vùng trũng được “chắt cạn” nước. Nhiều vùng trũng đã phơi đáy trong đợt hạn năm 2016.

Ban đầu các bờ bao, các cống dọc theo sông kênh tại An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Long An được đắp tạm để ngăn lũ cho đến khi thu hoạch xong vụ lúa Hè Thu. Từ hai vụ Đông Xuân và Hè Thu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [4] và các tỉnh tìm cách làm thêm vụ lúa Thu Đông, nâng lên làm ba vụ một năm, bằng cách nâng cao các bờ bao làm chậm lũ thành đê bao ngăn lũ triệt để. Hình 4.



Hình 4

Tổng sản lượng lúa của đồng bằng năm 1976 khoảng 4,5 triệu tấn, năm 1986 khoảng 7 triệu tấn. Hiện nay, xấp xỉ 25 triệu tấn. Xuất khẩu gạo từ ĐBSCL chiếm khoảng 90% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước mặt hàng này.

Cái giá phải trả về môi trường là tài nguyên đất bị khai thác kiệt quệ, đồng ruộng không được hứng phù sa và làm vệ sinh hàng năm vào mùa lũ như trước đây. Sâu bệnh ngày càng nhiều. Phân bón hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng liên tục, suốt năm. Tài nguyên nước bị lãng phí vì một lượng nước vào mùa mưa trước đây tràn đồng thì nay bị dồn vào trong lòng dẫn các sông kênh, chảy siết để thoát lũ, gây nên tình trạng sạt lở bờ sông ngày càng tăng về số lượng và về mức độ nghiêm trọng. Đa dạng sinh học, đặc biệt các loài cá đen, rùa, rắn, các loài chim, trong các hệ sinh thái ngập nước trong Đồng Tháp mười, Tứ giác Long Xuyên, Rừng tràm U Minh biến mất dần. 

Thủy sản là một thế mạnh khác, sau lúa gạo, của ĐBSCL. Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, kể cả thủy sản biển hãy còn khiêm tốn trong thập niên 1980. Hiện nay tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản ĐBSCL chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước mặt hàng này.

Diện tích nuôi tôm lớn lên nhanh chóng. Trong tiểu vùng (III) quy hoạch diện tích nuôi tôm cho 5 năm đã được các tỉnh ven biển từ Bến Tre qua Cà Mau đến Kiên Giang hoàn thành trong 2 đến 3 năm, thậm chí có nơi còn nhanh hơn. Một động lực của chuyển đổi là cánh kéo giữa giá lúa và giá tôm (lúc đó giá 1 ký tôm bằng 12 ký lúa).

Có cả những cống ngăn mặn giữ ngọt trước đây được xây để canh tác lúa, (như ở Đầm Dơi, Gành Hào, tỉnh Cà Mau) bị đập phá bởi chính những người dân đã xây nên để lấy nước mặn vào nuôi tôm. Có nhiều cống ngăn mặn trong vùng ngọt hóa ở Bán đảo Cà Mau được mở thường xuyên để cho nước mặn vào các vuông tôm trong vùng. Cái giá phải trả là mất rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn ở bán đảo Cà Mau, đã không bị chất độc màu da cam hũy diệt trong chiến tranh, lại mất đi nhanh chóng nhường chỗ cho các vuông nuôi tôm. Hình 5.


Hình 5. Ảnh vệ tinh rừng ngập mặn ở Mũi Cà Mau vào các năm 1973, 1983 và 2010

Thiếu nước ngọt, để giữ cho độ mặn trong ao phù hợp cho nuôi tôm, nước ngầm đã được bơm bổ sung. Ở một số nơi trong vùng đã ngọt hóa, người dân lại khai thác nước ngầm mặn khi cần để đảm bảo độ mặn trong vuông cho tôm phát triển. Việc khai thác quá mức và khó quản lý nước ngầm dẫn đến mực nước ngầm tụt giảm nhanh và mặt đất bị sụt lún ở nhiều nơi.


Sản xuất tăng nhanh, liên tục, nhưng đồng bằng đang tụt hậu so với cả nước
Mặc dù sản xuất và đóng góp của ĐBSCL vào nền kinh tế chung cả nước liên tục tăng, từ năm 2000 thu nhập bình quân đầu người ở ĐBSCL liên tục giảm và thấp hơn bình quân chung cả nước [5]. Hình 6,7.



Sự tụt hậu của ĐBSCL so với cả nước còn được xác nhận qua số liệu một số biến đổi xã hội được trích ra từ Báo cáo quốc gia15 năm thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của Việt NamHình 8.
Nguyên nhân của tình trạng này cần được phân tích một cách khách quan và khoa học, cân nhắc đầy đủ các khía cạnh. Bài viết này chỉ đề cập đến ba vấn đề: mô hình tăng trưởng kinh tế, đầu tư trở lại cho đồng bằngmặt bằng văn hóa, giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long.

Có thể nói mô hình tăng trưởng kinh tế ở đồng bằng là một điển hình của cuộc chạy đua tốc độ không ngưng nghỉ suốt 44 năm theo số lượng, chủ yếu bằng khai thác tài nguyên, hiệu quả chưa phải là ưu tiên hàng đầu. Chuỗi giá trị từ đầu vào đến đầu ra có nhiều đứt khoản thì các mặt hàng nông sản không thể có giá trị cao được. Sản phẩm xuất khẩu thì nhiều nhưng bao nhiêu có thương hiệu, chỉ dẫn địa lý?


Mặt bằng văn hóa, giáo dục là bệ phóng cho phát triển của bất kỳ một quốc gia, của một vùng lãnh thổ nào. Trong 44 năm qua, hầu như tất cả các cuộc họp về đồng bằng đều đánh giá đồng bằng sông Cửu Long là một vùng trũng về giáo dục. Bảng đánh giá việc thực hiện MDG trên đây là một xác nhận. Cấp bách phải thoát ra vùng trũng bởi lẽ nếu không hành động quyết liệt, nó sẽ càng trũng hơn nữa ở thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Lũy kết ODA và FDI tại ĐBSCL trong 22 năm (1993-2014) thuộc loại thấp nhất trong các vùng trong cả nước. Cụ thể, về ODA ĐBSCL đã nhận được 5,7 tỷ USD bằng 8,2% tổng ODA mà Việt Nam nhận được. Cũng trong khoảng thời gian này, ĐBSCL nhận được 4,9% tổng FDI mà Việt Nam đã nhận được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ngoài mặt bằng dân trí và lao động đã qua đào tạo, cả hai đều là điểm yếu của đồng bằng, thì hạ tầng cơ sở giao thông là một nguyên nhân quan trọng của sự tụt hậu của đồng bằng.

Hạ tầng cơ sở về giao thông bất cập, một điểm nghẽn chính cho phát triển 
Những công trình quan trọng về hạ tầng cơ sở giao thông được xây dựng từ năm 1975 ở đồng bằng gồm có 4 cây cầu bắt qua sông Tiền (Mỹ Thuận 2000, Cao Lãnh 2018), và sông Hậu (Cần Thơ 2010, Vàm Cống 2019), đường cao tốc Tp. Hồ Chí Minh – Trung Luong (40 km, 2010). Đường N2 kết nối Tp Hồ Chí Minh với Cà Mau với hai cầu Cao Lãnh và Vàm Cống vừa hoàn thành giai đoạn 1.

Tuy vậy Hình 9 cho thấy tình trạng nghèo nàn, bất cập về hạ tầng có sở giao thông ở ĐBSCL so với cả nước.

Năm 2009, mật độ đường bộ tất cả các loại là 1343 mét/km2; 3132 mét/1000 dân. Riêng cho Quốc lộ và đường cao tốc các mật độ là 44 mét/km2 và 103 mét/1000 dân. Cho tới nay, vẫn chưa có một luồng cho tàu biển trọng tải 20000 tấn vào tới Cần Thơ.

Tình trạng này khiến cho giá cả vật tư đầu vào thì cao, giá bán sản phẩm lại thấp, rất bất lợi cho người sản xuất. Thu nhập của người dân bị ảnh hưởng rất nhiều.

Đường sá đi lại khó khăn nhất là vào mùa ngập nước cũng đã ảnh hưởng đến việc học hành của các cháu, đến phát triển giáo dục, nâng cao dân trí nói chung và về lâu dài đến sự phát triển của ĐBSCL. Điều này đã được đề cập trên đây.

Vốn đã ít, đầu tư càng phải có hiệu quả. Dự án Luồng vào sông Hậu cho tàu biển có trọng tải lớn qua kênh Quan Chánh Bố và Kênh Tắt (đào mới) cần sớm có giải pháp và rút kinh nghiệm. Trong hơn mười năm qua đã chi cho Dự án gần mười ngàn tỷ đồng mà mục tiêu đề ra còn rất xa vời, thậm chí tính khả thi và bền vững vẫn còn là dấu hỏi [7].

Định hình lại mô hình phát triển. Nghị quyết 120/NQ-CP
Giai đoạn tăng trưởng thiên về số lượngphát triển theo chiều rộng đã hoàn thành nhiệm vụ của nó. Sự chuyển đổi của ĐBSCL trong 44 năm qua mặt khác cho thấy đầu tư nói chung, đầu tư về hạ tầng cơ sở giao thông ở ĐBSCL còn nhiều bất cập. Định hình lại sự phát triển của ĐBSCL là cần thiết.

Cần thiết và còn là tất yếu vì ĐBSCL đang đối diện hai thách thức nghiêm trọng ảnh hưởng đến bản thân sự tồn tại của nó. Một, toàn cầu, là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và một, khu vực, là việc sử dụng nguồn nước sông Mekong trên thượng nguồn, mà trước tiên là xây dựng các nhà máy thủy điện trên dòng chính sông Mekong [8]. Hai thách thức này đang đặt ĐBSCL trước nguy cơ bị xâm thực và bị lún chìm. Phải chăng ĐBSCL đang bước vào chặng đường đầu của một quá trình ngược lại với quá trình đã sinh ra nó?  

Những ai chia sẻ ý kiến về sự cần thiết này đều trông đợi ở Hội nghị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, được tổ chức ngày 26 – 27/09/2017 tại Cần Thơ, do Thủ tướng Chính phủ trực tiêp chủ trì.

Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ mang tên của Hội nghị đã được ban hành ngày 17/11/2017 với bốn quan điểm chỉ đạo rõ ràng:

(a) Kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng, trên cơ sở chủ động thích ứng, phát huy tiềm năng, thế mạnh, chuyển hóa những thách thức thành cơ hội để phát triển, (…); chú trọng bảo vệ đất, nước và con người.

(b) Thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng; (…)  phát triển mạnh mẽ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch gắn với chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu;

(c) Tôn trọng quy luật tự nhiên, phù hợp với điều kiện thực tế, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên; chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững với phương châm chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn; (…) Phát triển kinh tế gắn liền với phát triển xã hội, giảm nghèo, tạo việc làm, giải quyết an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới.

(d) Phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long vì lợi ích chung của đất nước, Tiểu vùng sông Mê Công và quốc tế và là sự nghiệp của toàn dân, khuyến khích, huy động tất cả các tầng lớp, thành phần xã hội, các đối tác quốc tế và doanh nghiệp tham gia vào quá trình phát triển.

Làm gì để ĐBSCL phát triển bền vững từ thực tế đã trải nghiệm?

(1) Phải phát triển hài hòa ba trụ cột

Để sự phát triển được bền vững, phải tác động một cách hài hòa lên ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường. thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Trải nghiệm này là một khẳng định một kết luận của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 [9].
Hài hòa có nghĩa là mọi tác động (bằng quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư, công trình, hay bằng cơ chế chính sách) đều phải có tác động tích cực cho cả ba cột trụ, hay nói cách khác, phải dẫn đến phần giao chung giữa ba vòng. Hình 10.
Sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước “Không đánh đổi môi trường với tăng trưởng kinh tế”; “Không thể vì nghèo mà hy sinh môi trường và sức khỏe người dân” cũng phải áp dụng cho ĐBSCL.

(2) Vai trò của Nhà nước là quyết định

Có vai trò quyết định bởi lẽ Nhà nước kiến tạo mô hình tăng trưởng của đất nước, của các vùng kinh tế-sinh thái trong đó có ĐBSCL, trong hoạch định các quy hoạch phát triển với tầm nhìn trung và dài hạn, các kế hoạch 5 năm, trong quyết định những dự án đầu tư công và cả với tổng mức đầu tư cao, tác động quan trọng đến môi trường và số cư dân phải di dời, tái định cư.
Hệ thống hành chính của Việt Nam hiện nay có 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện và xã. Các quy hoạch, kế hoạch, dưới cấp quốc gia, vì những lý do hiễn nhiên, phải kết nối nhiều tỉnh. Việc xây dựng và triển khai các quy hoạch ở cấp này cần được Nhà nước quy định trong những thể chế và cơ chế phù hợp.

Việc xây dựng và triển khai các quy hoạch, kế hoạch cần đến sự phối hợp liên ngành thực chất và hữu hiệu trong Chính phủ. Cần phải vượt qua tình trạng chia cắt giữa các ngành, khép kín trong ngành để khách quan phân tích đánh giá Được/Mất của từng phương án trước khi quyết định, trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, có tính đến những thay đổi sâu sắc, nhanh chóng từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trách nhiệm của Nhà nước là đầu tư trở lại cho đồng bằng sông Cửu Long, như là một vùng kinh tế - sinh thái, đúng với môi trường, sinh thái, có hiệu quảtương xứng với những gì đã khai thác các dịch vụ hệ sinh thái từ ĐBSCL.

Vai trò của Nhà nước còn là xây dựng các chính sách nhằm huy động, phát huy các nguồn lực của xã hội trong việc triển khai, và cập nhật mô hình tăng trưởng theo các thành tựu khoa học và công nghệ trên thế giới. Các chính sách còn phản ánh chiến lược về nhân tài và tài năng mà Nhà nước cần sớm xây dựng, sao cho cán cân giữa “ra đi” và “trở về” hay “đến Việt Nam” trước mắt, trong trung và dài hạn có lợi nhất cho đất nước.

Theo dõi, tổng kết, rút kinh nghiệm
các công tác trên đây, đặc biệt các chương trình, dự án đầu tư tác động mạnh đến môi trường đồng bằng là không thể thiếu.
Cuối cùng, Nhà nước, đặc biệt Quốc hội, cần giám sát việc triển khai các công việc nêu lên trên đây và thông qua giám sát để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước.

(3) Vai trò của cộng đồng xã hội là không thể thiếu

Vai trò của cộng đồng xã hội là không thể thiếu vì con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của mọi chuyển đổi kinh tế, xã hội và môi trường. Có phát triển bền vững một quốc gia, một vùng lãnh thổ được hay không, vai trò của cộng đồng xã hội, từ nhận thức đến hành động, có ý nghĩa quyết định. Những tác động của Nhà nước và của cộng đồng xã hội phải đi cùng hướng thì mới dẫn đến phần giao chung của ba trụ cột. Muốn vậy, trước khi ra những quyết định quan trọng Nhà nước cần thông báo và lắng nghe ý kiến của cộng đồng xã hội. Ngược lại cộng đồng xã hội cần xem việc đi tìm sự hài hòa của ba trụ cột là lợi ích của chính mình. Thông báo cho nhau, trao đổi với nhau, đi đến tích hợp những ý kiến đúng vào quy hoạch, kế hoạch tổng thể và ngành vì sự phát triển bền vững là cần thiết. Hình 11.



Hình 10. Ba trụ cột và phần giao PTBV    Hình 11. Vai trò của quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng xã hội phải đi cùng hướng

Trong cộng đồng xã hội, ở ĐBSCL, đóng góp của các nhà khoa học, các viện trường, ngoài nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, là nâng cao năng suất và hiệu quả của các khâu trong chuỗi các mặt hàng nông thủy sản bằng những tiến bộ khoa học công nghệ, và được hưởng thành quả lao động của mình; các doanh nghiệpdoanh nhân gắn kết các khâu của chuỗi sản phầm từ đầu vảo đến đầu ra và bằng cách này nâng cao giá trị và thương hiệu các mặt hàng nông thủy sản. Nhà nông, mỗi nông hộ, từ chỗ nhạy bén học, bắt chước nhau sản xuất, phải trở thành những doanh nghiệp “siêu vi mô” liên kết với nhau để cùng nhau đi xa và đi vững chắc trong thời buổi các nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh khốc liệt.

(4) Triển khai nghiêm túc NQ 120/NQ-CP

NQ 120 đã đúc kết ý kiến của các Bộ ngành, của các chuyên gia trong và ngoài nước tại một hội nghị do Thủ tướng Chính phủ chủ trì cách đây 18 tháng. Triển khai nghiêm túc nghị quyết sẽ hướng chuyển đổi kinh tế, xã hội và môi trường ở ĐBSCL theo hướng phát triển bền vững.

Từ những gì đã trình bày trong (1)(2)(3) trên đây, và từ tìm hiểu, trong chừng mực có thể, việc triển khai Nghị quyết của các Bộ ngành trong 18 tháng qua, tác giả có mấy nhận xét và kiến nghị với Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ dưới đây.

(1) Cần quán triệt các quan điểm chỉ đạo của NQ. “Nói theo NQ 120” mà làm vẫn như cũ là trường hợp loại trừ để triển khai thành công Nghị quyết.

(2) Triển khai NQ 120, Chính phủ cần có lộ trình để giải quyết nạn thừa chồng chéo và thiếu phối hợp kinh niên. Đề nghị chọn lĩnh vực thí điểmtài nguyên nướcthủy lợi rất thiết thân với ĐBSCL.

(3) Sớm ban hành “Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới” (do Bộ NNvPTNT phụ trách) và “Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 thích ứng với biến đổi khí hậu” (do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phụ trách).
Làm rõ tác động của hai thách thức (biến đổi khí hậu nước biển dâng và nguồn nước từ thượng nguồn) đối với đồng bằng lên sản xuất, sinh kế, và khả năng thích ứng của cộng đồng trong các tiểu vùng (I), (II) và (III) trên nền môi trường vật lý (Hình 1,2) là một căn cứ cần thiết cho hai tài liệu.
Kiên quyết không để các dự án theo tư duy củ đặt Chương trình tổng thể và Quy hoạch tổng thể vào thế bị động, trước “sự việc đã rồi”.

(4) Mọi nhiệm vụ mang tính tổng hợp phải làm rõ phương pháp luận tổng hợp. Yêu cầu này là cần thiết để có thể áp dụng các thành tựu của cuộc “cách mạng số” vào công tác tổng hợp.

(5) Triển khai liên kết các tiểu vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Duyên hải phía Đông, và Bán đảo Cà mau có cơ sở khoa học, cùng một phương pháp luận. Thiết chế và cơ chế cần cho liên kết, phối hợp cần được ban hành.

(6) Bộ Khoa học và Công nghệ và Chương trình Tây Nam Bộ, các Chương trình KC và KX có những nhiệm vụ liên quan đến ĐBSCL triển khai theo quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết. Không thể tách biệt hai mảng khoa học công nghệ và khoa học xã hội và nhân văn.

(7) Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các địa phương ở ĐBSCL có kế hoạch giải quyết cho bằng được tình trạng mãn tính “đồng bằng là vùng trũng về GD ĐT”, và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực ở đây.

 (8) Bộ Giao thông vận tải giải quyết tình trạng hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, đường hàng hải hết sức bất cập kinh niên ở đồng bằng, Giao thông vận tải phải thực sự là một điểm đột phá cho phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long.

(9) Không chỉ đánh giá tác động môi trường của các dự án triển khai trên địa bàn ĐBSCL mà còn cả các dự án ngoài đồng bằng nhưng khai thác tài nguyên của đồng bằng. Cụ thể Dự án khu (đô thị) du lịch biển Cần Giờ có kế hoạch khai thác gần 90 trệu m3 cát ở đồng bằng để san lấp cho dự án. Quyết định phê duyệt ĐTM của dự án này có nên xét đến hay không với trách nhiệm quản lý ngành của Bộ TNvMT trên phạm vi cả nước?

(10) Các Bộ ngành sẽ báo cáo các nhiệm vụ trong chương trình hành động của mình. Đó là những nhiệm vụ chuyên ngành. Còn có những nhiệm vụ cần giải quyết để đạt các mục tiêu đa ngành hay liên ngành thì ai đề xuất, ai thực hiện?

(11) Để huy động sự đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, và các chuyên gia quốc tế trong việc triển khai NQ 120, nên giới thiệu các quy hoạch, kế hoạch, dự án, công trình có tác động quan trọng đến môi trường, ngay từ giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi và khả thi trên cổng thông tin điện tử của các Bộ chủ quản đầu tư.
Tác giả tin rằng với nhận thức đúng, cách tiếp cận đúng, những chuyển đổi kinh tế, xã hội và môi trường tại đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới sẽ thúc đẩy đồng bằng phát triển bền vững./.

Chú thích:

[1] Giáo sư Tiến sĩ khoa học, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI  (1992-2007), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (1997-2007)
[2] , Báo cáo tổng hợp của Chương trình khoa học nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long”, Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, tháng 3.1991.
[3] Theo một báo cáo của Tổng Cục Thủy lợi, tháng 5.2019, các dự án Ngọt hóa Gò Công (Tiền Giang), Thủy lợi Bắc Bến Tre, Nam Măng Thít, Tiếp Nhật – Long Mỹ (Sóc Trăng). Hệ thống Tầm Phương (tỉnh Trà Vinh), Quản Lộ-Phụng Hiệp, Ô Môn  - Xà No, “Đề án điều khiển lũ Bắc Vàm Nao”, …  đã được triển khai tại ĐBSCL.
[4] Quyết định số 101/QĐ-BNN-TT của Bộ NNvPTNT ngày 15.01.2015.
[5] Tính toán của TS.Hồ Long Phi từ số liệu của NGTK trung ương và của các tỉnh ĐBSCL. Thông báo tại cuộc họp của Mekong Delta Plan Focus Group, Tp Hồ Chí Minh, 14.01.2015.
[6] Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kết quả 15 năm thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam, Báo cáo quốc gia, tháng 9 năm 2015 (Bản tiếng Anh).
[7] Nguyễn Ngọc Trân, Luồng kênh Quan Chánh Bố, Bài học và kiến nghị, http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/luong-kenh-quan-chanh-bo-bai-hoc-va-kien-nghi-3378412/
[8] Nguyễn Ngọc Trân, Định hình phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long, tham luận gửi Hội nghị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ, ngày 26 - 27 tháng 9 năm 2017. Xem nội dung tại http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/dinh-hinh-phat-trien-ben-vung-dbscl-3343352/
[9] Global Summit on Sustainable Development (WSSD), Report N0263694, Johannesburg 2002.

Ngày 09 tháng 06 năm 2019
Nguyễn Ngọc Trân



Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày

Video yêu thích

KimYouTube


Đối thoại với Thiền sư

ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ
Từ một chữ Thích
Như Nhiên Thích Tánh Tuệ
Cũng là chữ Thích đi đầu
Mà đằng sau có muôn màu khổ vui

Thích tiền đời mãi ngược xuôi
Hạnh phúc quanh quẩn lui hui với tiền
Chán rồi thì lại thích Tiên
Gặp Tiên bảo bỏ dấu huyền mới thương

Thích Danh lồng lộng bốn phương
Đời còn đánh đổi phong sương kiếp trần
Thích phiêu bồng cuộc ái ân
Tử sinh lũy kiếp bội phần xuống lên.

Thích nhớ mà chẳng thích quên
Tự mình giam ngục triền miên sống sầu
Thích ngũ dục thích truy cầu
Tìm vui trong khổ nghiệp sâu chất chồng

Thích hưởng thụ thích đèo bồng
Một ngày phước tận, đời trong úa tàn
Thích làm ác thích làm càn
Lưới trời bủa xuống oán than giận mình

Thích vơ vét tận tâm tình
Trắng tay đối diện vạn nghìn khổ đau
Cũng là chữ Thích đi đầu
Thích bao đạo lý nhiệm mầu xa xưa.

Thích hành thiện thích đi chùa
Thích san sẻ thích ngăn ngừa ác nhân
Thích cười hơn thích giận sân
Đời bao bất thiện dần dần nhạt phai

Thích giúp người lúc chẳng may
Về sau khổ nạn bỗng tay ai chìa
Thích đơn giản thích quay về
Cõi lòng thanh tịnh Bồ Đề không xa.

Chuyện gì cũng thích cho qua
Ngàn hoa chẳng đẹp bằng hoa nụ cười.
Mỗi ngày biết “Tạ ơn đời “
Sống tùy duyên hạnh thảnh thơi khoan từ

Bỏ dấu cộng thích dấu trừ
Thuyền tâm một sớm tạ từ bến mê
Nẻo luân hồi dứt lê thê
Thích và không thích đưa về một phương

Sống không hỷ xả vui buồn
Mê thay áo Ngộ cội nguồn bao la

Thung dung
Hoàng Kim

Người rất muốn đi về trong tịch lặng
Quẳng lại sau lưng nhân thế muộn phiền
Ta đến chốn thung dung tìm hoa lúa
Rong chơi đường trần sống giữa thiên nhiên.

Tâm thanh thản buồn vui cùng nhân thế
Đời Đạo thịnh suy sương sớm đầu cành
Lòng hiền dịu và trái tim nhẹ nhõm
Kho báu chính mình phúc hậu an nhiên (*).

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt (**)

Trăng rằm xuân lồng lộng bóng tri âm
Người tri kỷ cùng ta và năm tháng.
Giác Tâm: Ta về còn trọn niềm tin.

(*) PHẬT BẢO ‘BUÔNG BỎ’ LÀ BUÔNG BỎ CÁI GÌ?
1. Buông bỏ việc tranh luận đúng sai.
2. Buông bỏ tâm thái muốn khống chế người khác.
3. Buông bỏ sự trách móc, hờn giận.
4. Buông bỏ cảm xúc dằn vặt bản thân mình.
5. Buông bỏ tự ti về hiểu biết hữu hạn của bản thân.
6. Buông bỏ tâm phàn nàn, xét nét.
7. Buông bỏ cái tâm thái phê bình người khác và sự việc khác.
8. Buông bỏ tâm cầu danh, hám danh.
9. Buông bỏ tính lười nhác, thiếu cố gắng.
10. Buông bỏ tâm thái tùy ý nhận định người khác.
11. Buông bỏ sự sợ hãi.
12. Buông bỏ tâm bao biện.
13. Buông bỏ quá khứ.
14. Buông bỏ tâm cố chấp.
15. Buông bỏ việc nhìn vào người khác, sống cuộc sống của chính mình.

(*) Thích Tánh Tuệ, Thích Giác Tâm là cao tăng Đạo Phật ngày nay
Hoàng Kim là người thầy khoa học xanh chiến sĩ quê ở Quảng Bình
(**) Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt : Nhạc Trịnh.
Xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/doi-thoai-voi-thien-su/




Bài viết mới trên TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
CNM365, ngày mới nhất bấm vào đây   cp nht mi ngày
Video yêu thích
KimYouTube

19 tháng 6, 2017

Lời vàng bài học cuộc sống



HỌC MỖI NGÀY. Bảy bài học cuộc sống. Học cách mặt trời tỏa sáng.  Nước chảy đá mòn.Tôn trọng người khác.Tận nhân lực tri thiên mệnh. Đừng lo lắng vô ích. Đừng sợ hãi hãy tiến tới. Phúc hậu an nhiên kho báu chính mình. Hoàng Kim tuyển chọn tinh hoa cổ ngữ phương Đông.
xem tiếp  Bài học cuộc sống; Đối thoại với Thiền sư.

Video yêu thích

Trở về đầu trang
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook


12 tháng 6, 2017

Những trang viết rất cần đọc lại

HỌC MỖI NGÀY. Những trang viết rất cần đọc lại. Tòa nhà Quốc hội Việt Nam trên Đường Độc Lập, quận Ba Đình, Hà Nội (ảnh Tia Sáng). Nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính (Báo Tia Sáng 11/6/2017, Nguyễn Sĩ Dũng). Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định. (Báo Tia Sáng 8/6/2017, Nguyễn Minh Nhị); Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Khuyến nghị chính sách (Báo Tia Sáng 25/05/2017, Trần Đức Viên); Dưới đáy đại dương là Ngọc (Tình yêu cuộc sống 12/6/2017, Hoàng Kim).


NHẤT THỂ HÓA THEO MÔ HÌNH TỔNG THỐNG LƯỠNG TÍNH

Báo Tia Sáng 11/06/2017 09:00
- Nguyễn Sĩ Dũng


Nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính về cơ bản cũng giống như nhất thể hóa theo mô hình đại nghị. Điểm khác cơ bản nhất ở đây là Đại hội Đảng không bầu ra người đứng đầu Đảng để dẫn dắt cuộc bầu cử vào Quốc hội, mà bầu ra người đứng đầu Đảng để ứng cử vào chức danh Tổng thống (hay theo truyền thống của nước ta, gọi là Chủ tịch nước cũng được). Ứng cử viên được lựa chọn thông thường phải là người đã chủ trì trong việc hoạch định đường lối của Đảng cho nhiệm kỳ 5 năm tới và sẽ là người căn cứ vào đường lối đó mà vận động bầu cử cho mình.

Tổng thống trong mô hình tổng thống lưỡng tính do toàn dân bầu ra nên độc lập với Quốc hội và không chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Với một chế định mang tính chất như vậy, nếu chúng ta lựa chọn mô hình này để nhất thể hóa, thì việc sửa đổi Hiến pháp là một nhu cầu bắt buộc. Ngoài ra, việc sửa đổi Hiến pháp còn rất cần thiết để bổ sung thêm quyền lực hành pháp cho Tổng thống, vì trong mô hình tổng thống lưỡng tính, quyền hành pháp nằm phần lớn trong tay Tổng thống.

Điểm đặc trưng nhất của mô hình tổng thống lưỡng tính là ngoài Tổng thống nắm quyền hành pháp ra, còn có một yếu nhân khác cũng nắm quyền hành pháp là Thủ tướng. Phân chia quyền lực giữa Tổng thống và Thủ tướng là một nhu cầu tất yếu của mô hình này. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, không có một khuôn mẫu cố định nào cho việc phân chia quyền lực giữa hai yếu nhân nói trên cả. Ở những nước khác nhau, việc phân chia quyền lực là rất khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, quyền lực trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao và những lĩnh vực chính sách kinh tế lớn thường thuộc về Tổng thống. Việc điều hành nền kinh tế hằng ngày thường thuộc về Thủ tướng. Thủ tướng đồng thời cũng là người đứng đầu Nội các và điều hành công việc hằng ngày của Nội các.

Nếu Tổng thống do dân bầu trực tiếp, thì Thủ tướng sẽ được lựa chọn trong số các vị đại biểu Quốc hội. Quyền lựa chọn Thủ tướng để trình ra Quốc hội phê chuẩn thuộc về Tổng thống. Tuy nhiên, trong mô hình đa đảng, nhiều khi Tổng thống phải lựa chọn người của đảng đối lập nhưng có đa số trong Quốc hội để giới thiệu làm Thủ tướng. Lý do là vì nếu đảng của Tổng thống không có đa số ở trong Quốc hội, thì có giới thiệu người của đảng mình cũng vô ích. Một ứng cử viên Thủ tướng như vậy chắc chắn sẽ không được Quốc hội phê chuẩn. Trong tình cảnh này, việc triển khai chính sách của Tổng thống sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Ở nước ta, với mô hình một đảng cầm quyền, Tổng thống có thể trao đổi thống nhất ý kiến với Đảng đoàn Quốc hội trước khi giới thiệu ứng cử viên giữ chức danh Thủ tướng. Khác với Tổng thống, Thủ tướng trong mô hình tổng thống lưỡng tính sẽ phải tương tác thường xuyên với Quốc hội, giải trình chính sách với Quốc hội và bị Quốc hội giám sát.

Trong mô hình tổng thống lưỡng tính, ban lãnh đạo của Đảng sẽ gồm Tổng thống, Thủ tướng, các thành viên nội các và các thành viên Đảng đoàn Quốc hội (tất cả các đảng viên trúng cử làm đại biểu Quốc hội). Nếu trong mô hình đại nghị, nhà lãnh đạo đứng đầu Đảng là Thủ tướng, thì trong mô hình tổng thống lưỡng tính, nhà lãnh đạo đứng đầu Đảng là Tổng thống. Quy trình chính sách trong nội bộ Đảng sẽ được triển khai giữa Tổng thống, Nội các và Đảng đoàn. Khi đã có được sự nhất trí của ban lãnh đạo Đảng, Tổng thống có thể trực tiếp ban hành chính sách qua sắc lệnh hoặc Thủ tướng có thể trình chính sách ra Quốc hội thông qua thành luật. Với quy trình này, việc hoạch định chính sách trong Đảng và trong Nhà nước vẫn gắn kết chặt chẽ với nhau và không lặp lại nhau.

Cũng phải thừa nhận một thực tế là trong thế giới hiện đại, ở rất nhiều nước, khi một đảng đã lựa chọn người đứng đầu của mình làm ứng cử viên tổng thống, thì đồng thời cũng ủy quyền hoàn toàn cho người đó triển khai các chính sách của đảng. Việc phê chuẩn đường lối, chính sách chỉ đơn giản như sau: đảng lựa chọn ứng cử viên nào thì đồng thời phê chuẩn luôn chương trình tranh cử trong đảng của ứng cử viên đó. Điều này đúng không chỉ cho ứng cử viên vào chức danh tổng thống, mà còn đúng cả cho các ứng cử viên vào chức danh đại biểu Quốc hội. Việc nhiều nhất đảng có thể làm sau khi các ứng cử viên của mình trúng cử chỉ là cung cấp sự hỗ trợ về tư vấn chính sách cho những người này, chứ không quyết định chính sách trước và áp đặt cho họ. Đây là mô thức chúng ta cũng hoàn toàn có thể tiếp thu cho việc nhất thể hóa theo mô hình tổng thống lưỡng tính và kể cả mô hình đại nghị.

NSD.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP: TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT
KHÔNG PHẢI LÀ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH.


Báo Tia Sáng 8/06/2017, Nguyễn Minh Nhị

Gần đây, có nhiều kiến nghị về chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững của nông nghiệp Việt Nam. Tôi cho rằng, không hoàn toàn như vậy. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác.


Tập đoàn Lộc Trời là đơn vị đã triển khai tiêu chuẩn Sản xuất lúa gạo bền vững (Sustainable Rice Platform-SRP) với các tiêu chí đảm bảo sức khỏe, an toàn thực phẩm, môi trường… cho tới các yếu tố bình đẳng như nữ quyền, quyền trẻ em. Nguồn ảnh: TBKTSG.Vài năm gần đây, những mô hình sản xuất lớn như “Cánh đồng (lúa) mẫu lớn” do tập đoàn Lộc Trời hợp tác với nông dân, làm lúa giống kết hợp trồng cỏ nuôi bò trên quy mô lớn của ông Sáu Đức, nuôi heo theo mô hình hiện đại của ông Huỳnh Chánh Huy ở An Giang… hay những chủ trang trại nuôi cá tra với sản lượng hàng ngàn, thậm chí cả vạn tấn/năm/hộ đang xuất hiện nhiều hơn. Các doanh nghiệp này có mô hình khép kín, tự cung cấp từ con giống, thức ăn, tự nuôi thương phẩm và được ưu đãi hoàn thuế VAT. Tuy nhiên, nhiều hộ sản xuất và cả các doanh nghiệp có qui mô lớn đó... lại đang rất “bí” đầu ra, đang chờ... khó khăn mới.

Hiện nay, hầu như không có doanh nghiệp nào kêu bí “hạn điền” cả. Mặc dù về lâu dài, cũng có tâm lý chưa an tâm về “quyền tài sản” đối với đất, nhưng trước mắt Điều 129 và 130 Luật đất đai 2013 đã cho phép sang nhượng, nhận quyền sử dụng đất cao hơn 10 lần hạn điền cũ, tức là tối đa 30 ha đất sản xuất cây hằng năm, 100 ha đất cây ăn quả và 300 ha đất trồng rừng. Thiết nghĩ, một hộ sản xuất lớn sở hữu quy mô chừng đó là cũng có phần quá sức so với thực tế; còn nếu muốn sản xuất ở quy mô lớn hơn thì các hộ sản xuất phải đăng ký thành doanh nghiệp, lúc đó thì đâu có hạn điền nào bó buộc. Vì vậy việc nông sản các nước ồ ạt vào Việt Nam, thị trường nông sản của Việt Nam ở các nước khác đang bị teo tóp hoặc bị mất chủ yếu do thiếu chữ tín, chất lượng hàng hóa không ổn định và thường là thấp kém… chứ không thể “đổ tội” cho hạn điền. Thậm chí, sản xuất lớn, đưa sản lượng tăng vọt mà sản phẩm chưa khẳng định được chỗ đứng trên thị trường mới càng khiến giá rơi thảm hại, người sản xuất lao đao. Bài học gạo, cá… và mới đây là chuối, heo cho thấy rõ điều này.

Theo tôi thì cái “bí” của sản xuất nông nghiệp vừa qua và hiện nay nằm ở tầm vĩ mô thuộc quản lý Nhà nước đã không bảo đảm các cân đối lớn chủ yếu về sản xuất – thị trường, sự an lòng của người dân về quyền tài sản đối với đất đai; và, về một nền giáo dục phổ thông lành mạnh – vì con người – do con người chưa được đáp ứng vv...

Trong bài trả lời phỏng vấn trên báo An Ninh điện tử ngày 10/5/2017, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PT Nông thôn Lê Huy Ngọ kể: Khi nông dân hỏi Bộ trưởng là nên nuôi trồng cây con gì thì ông trả lời: “Ra chợ hỏi”. Ông lấy ví dụ những chủ trang trại ở Mexico phải bỏ hoang hàng vạn ha đất vì chưa ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm dẫn chứng về việc là sản xuất phải xuất phát từ thị trường chớ không phải từ Nghị quyết, kế hoạch trong phòng họp. Tôi cũng có thông tin rất mới về “Tích tụ đất ở tỉnh Thái Bình” qua lá thư của ông bạn tôi (A) nhận ngày 12/5/2017 như sau:

“Kính gửi: Anh (A).

Tôi đang ở Thái bình (cũng là quê của Anh), tiếp xúc với người nhà và được biết tình hình chính quyền thuê đất của dân như sau:

1. Lựa chọn vùng bờ xôi ruộng mật, gần đường và đất tốt để quy hoạch mời doanh nghiệp vào. Vùng xa, đi lại khó khăn và đất xấu thì không quy hoạch và không thuê.

2. Đất được thuê với giá 140 kg thóc/sào /năm nhưng chi trả bằng giá thóc nhà nước tính thuế (470.000-480.000 đồng/tạ) trong khi giá thị trường là 800.000 đồng/tạ và chi trả từ hai đến năm năm một lần.

3. Trên 95% nông dân không đồng tình cho thuê đất vì các lý do sau: (1) giá thấp gần như chỉ bằng 50% giá thị trường, nên nông dân cho rằng sẽ không đủ tiền để mua thóc cho an ninh lương thực của gia đình; (2) đưa đất cho doanh nghiệp thì mình lấy gì làm kế sinh nhai, tiền sẽ tiêu hết nhưng đất vẫn có thể tạo ra thu nhập. Doanh nghiệp chỉ thuê lao động trẻ 18 – 35 tuổi trong khi trên 70% lao động đang làm việc ở quê là lao động già và không có doanh nghiệp nào thuê, hiện có một lực lượng lao động trên 35 tuổi đang bị “thải” về và quay trở lại làm nông nghiệp; (3) Mức thuê 140 kg thóc/ sào/ năm lúc này có vẻ hợp lý, nhưng 5-10 năm nữa có sự thay đổi về công nghệ thì mức đó sẽ bị thấp, (4) Diện tích thuê chỉ tính ruộng mà không tính bờ nên diện tích bờ sẽ được chính quyền tính riêng với doanh nghiệp.

Chỉ có khoảng 2-3% hộ đồng ý vì không làm ruộng và bỏ hoang vì nhiều lý do.

Vì thế ở quê tôi, xã Phúc thành, huyện Vũ thư thì dân không đồng ý.

Kính thư!
Giáo sư  Đ K C”


Vì vậy, làm nông nghiệp bây giờ là phải: chuyển từ số lượng - diện tích, năng suất, sản lượng sang chất lượng - ngon, bổ, sạch, đẹp, cung cấp ổn định; từ cao trào - phong trào dịu xuống còn bình thường và ổn định; tránh tình trạng “dư cung” trong sản xuất và phải biết tạo ra sự khác biệt. Khác biệt chính là sự hấp dẫn cho thị trường. Đó là quan điểm chỉ đạo nhưng chính quyền, đoàn thể không triển khai, tuyên truyền như xưa nay mà hãy để cho doanh nhân và nông dân làm việc cùng nhau. Chính quyền hãy trở về vai trọng tài và chế tài mà từ lâu quên lãng. Các đoàn thể chính trị trở về với công việc của hội đoàn của mình. Các cấp ủy Đảng với vai trò lãnh đạo kịp thời điều chỉnh, điều chuyển những cán bộ không thích hợp. Nếu cả hệ thống chính trị cùng quan tâm thì sẽ đi vào vết xe “huy động sức mạnh tổng hợp đẩy mạnh phong trào sản xuất” như lâu nay.

Kiến nghị

- Không thay đổi hạn điền, giữ như Luật Đất đai năm 2013 (điều 129, 130) nhưng thời hạn sử dụng đất được giao nên thay đổi. Bởi vì, tại sao thời hạn chỉ là 50 năm? Điều này đã gây lo lắng, hoài nghi trong dân nhưng không ai nói ra. Đó cũng có thể là nguyên nhân sâu xa vì sao dân không mạnh dạn, hứng thú đầu tư vào nông nghiệp như chính phủ kỳ vọng! Đề nghị đất trong hạn điền không ghi thời hạn sử dụng, không thu thuế trực canh hoặc thuế cho thuê lại; không dùng khái niệm “thu hồi đất” mà dùng từ “mua lại”, “trưng mua”, “trưng dụng có thời hạn”, “trưng thu”… Hạn điền là “chiếc giày” do chế độ này đóng cho nông dân đó, đừng tháo nó ra!

- Nên có văn bản quy định rõ việc doanh nghiệp muốn sản xuất lớn ở quy mô nông trại, đồn điền với hàng ngàn ha, ngoài điều 129, 130 Luật Đất đai 2013 thì không hạn chế, doanh nghiệp chỉ cần lập dự án, có phương án và được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu thuê lại đất công thì ký trực tiếp với chính quyền thuê đất; nếu thuê/ mua lại của dân thì do doanh nghiệp và nông dân tự thỏa thuận, chính quyền chỉ làm trung gian, hòa giải. Nếu chính quyền thay doanh nghiệp thỏa thuận và ký với nông dân hoặc ngược lại là tạo sơ hở cho tham nhũng như cách làm nôn nóng vừa qua thì sẽ làm mất lòng dân, xã hội không ổn định. Cần chú ý nói rõ: Doanh nghiệp có dự án phải sản xuất, kinh doanh đúng mục đích của dự án, nếu chuyển mục đích dự án phải có điều kiện ràng buộc hoặc chế tài nghiêm khắc. Chống đầu cơ đất, “ghim đất” giữ giá, “phát canh thu tô” trá hình. Có quy định thuế lũy tiến với đất cho thuê vượt hạn điền (3ha, 10 ha, 30 ha… theo từng loại đất).

- Cần bổ sung quy định “đa sở hữu”, thừa nhận quyền tài sản cá nhân về đất nằm trong sở hữu toàn dân. Trong sở hữu toàn dân có phần sở hữu do chính quyền trực tiếp quản lý chứ không đồng nghĩa hai chủ thể (Toàn dân – Nhà nước với Chính quyền) là một. Có chế tài nghiêm trị bất cứ ai vi phạm quy định thu hồi đất trái luật như vừa qua.

- Mở rộng quy mô đất đai, thay đổi phương thức canh tác, thị trường... nhưng trên hết là cơ chế-thể chế quản lý kinh tế-xã hội phải đồng thời, đồng bộ. Nếu đất sản xuất rộng, thị trường hẹp ắt sẽ sinh phương thức phát canh thu tô, nếu mọi thứ đều ổn mà lòng người chưa yên thì sản xuất cũng không bền vững. Cần cảnh giác sự biến thái của thị trường đất do “nhóm lợi ích” chi phối, sinh ra tư bản hoang dã mà “nới hạn điền” cũng là một cơ hội lớn cho các nhóm lợi ích!

- Nhà nước “làm thị trường” theo kiểu nhà nước – bằng kinh tế đối ngoại, làm trọng tài và có chế tài luật pháp, đặc biệt là phải bảo vệ chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường, chống cạnh tranh không lành mạnh. Còn các đơn vị sản xuất kinh doanh phải “tự lực”, như doanh nhân tự phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu; tiểu thương biết bán lẻ đến từng hộ gia đình; nông dân phải biết sản xuất ra con gà, hạt gạo... sạch, ngon và tìm nơi bán... chứ không thể cứ kêu Nhà nước “cứu” như đã quen được bảo hộ trong thời bao cấp.

- Cuối cùng là niềm tin xã hội đang bị tổn thương, nếu không nói là bị mất quá nhiều với khẩu ngữ: “Nói vậy không phải vậy”,“Thấy vậy không phải vậy” đang phổ biến. Ta không tin thực phẩm ta sạch thì ai tin? Và làm sao cho ta tin ? Có lần PGS VTK thốt lên: “Sản phẩm nông nghiệp của ta bẩn như thế chỉ có bán cho Trung Quốc”. Nhưng nay thì ngược lại rồi, họ bán thực phẩm của họ mà dán nhãn Việt Nam, đúng là “quả báo một giây nhãn tiền”! Còn với cung cách làm ăn kiểu “ăn xổi ở thì” của ta thì khách hàng nào thành khách hàng “truyền thống” với ta?
--------
Tác giả nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang.

TỊCH TỤ RUỘNG ĐẤT VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CNC:
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Báo Tia Sáng 25/05/2017,
Trần Đức Viên

Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC một cách thiếu nghiên cứu, thiếu thận trọng có thể đẩy những người nông dân ra “bên lề” của công cuộc hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp. Vậy nhà nước nên có những chính sách gì để đảm bảo vai trò chủ thể của người nông dân? Sau kỳ I ; kỳ II phân tích toàn diện về tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC trong loạt bài “Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Đôi điều trăn trở”, mời bạn đọc đọc tiếp kỳ cuối “Khuyến nghị chính sách” của tác giả Trần Đức Viên.
Tích tụ ruộng đất ở quy mô lớn mới thực sự là cứu cánh cho nền nông nghiệp đang trì trệ? Nguồn ảnh: TTXVN.
Tích tụ, tập trung đất đai

1. Thực tế cho thấy tình trạng nông nghiệp kém hiệu quả hiện nay ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó do diện tích canh tác nhỏ bé, phân tán nên cần phải tích tụ, tập trung đất đai là một trong những nguyên nhân, nhưng chưa hẳn đã là nguyên nhân mang tính quyết định. Người ta cho rằng, nguyên nhân chính của tình trạng kém hiệu quả hiện nay là do tổ chức nông dân (tổ chức sản xuất) và tổ chức thị trường còn có những yếu kém, thể hiện ở chỗ nông nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi toàn cầu ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, lao động giản đơn, thiếu sự hỗ trợ của công nghiệp, dịch vụ, chế biến, thiếu thương hiệu có uy tín, sản xuất không theo tín hiệu thị trường, không theo quy hoạch, sử dụng vật tư, giống chất lượng kém dẫn đến chất lượng nông sản thấp, năng lực cạnh tranh trên thị trường nông sản quốc tế yếu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn có những hạn chế dẫn đến tình trạng tàn phá tài nguyên [1], ô nhiễm môi trường ...

Vì vậy, để tái cơ cấu nông nghiệp hiệu quả, cần các giải pháp toàn diện, trong đó giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp[2] phải đi đôi với cải cách mạnh mẽ các điều kiện của sản xuất nông nghiệp như tổ chức tốt thị trường đầu vào, đầu ra, xây dựng và bảo vệ thương hiệu, tăng cường quản lý chất lượng nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng nông nghiệp, tôn trọng qui luật thị trường, để thị trường điều tiết qui mô sản xuất và công nghệ áp dụng với sự định hướng và hỗ trợ của nhà nước… người nông dân đồng thời là doanh nhân trên đồng ruộng của họ, Có như vậy thì nông nghiệp Việt Nam mới có thể bước sang một giai đoạn phát triển mới.
2. Tích tụ ruộng đất phải tuân theo quy luật thị trường[3], đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các chủ thể (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp, ...). Quy luật thị trường sẽ tự nó phân phối nguồn lực đất đai (và các nguồn lực khác như vốn, lao động, và cả công nghệ tương thích nữa) một cách hiệu quả. Chính quyền chỉ nên làm vai trò xúc tác, trung gian hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và hộ nông dân trong quá trình thỏa thuận thuê, mua đất. Xu hướng chung là người nông dân không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tâm lý giữ đất vẫn phổ biến bất chấp nguồn thu nhập phi nông nghiệp được đảm bảo. Do đó, vai trò của thị trường thuê đất cần được chú ý để đảm bảo việc tiếp cận đất đai trong quá trình mở rộng sản xuất nông nghiệp. Mạnh dạn thay đổi chính sách, pháp luật nhằm khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất, cho thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Bỏ thời gian giao đất, nên xem xét giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng lâu dài như đất ở, qua đó tăng giá trị tài sản cho họ khi góp đất vào DN hay cho DN thuê đất.

3. DN có vai trò đầu tàu trong liên kết giúp người nông dân sản xuất theo chuỗi sản phẩm phù hợp với tín hiệu thị trường cả trong và ngoài nước. DN tích tụ ruộng đất nhưng không làm người nông dân mất kế sinh nhai, giúp người nông dân có cuộc sống tốt hơn khi làm nông nghiệp cùng DN. Lúc đó, nông dân mới có điều kiện tự nguyện nhượng cho DN quyền sử dụng đất hay cho thuê đất dài hạn. DN tự thương thảo với người nông dân theo cơ chế thị trường, tức là gặp nhau giữa “cung và cầu”, chính quyền chỉ đứng ra làm chứng, xác nhận để dân yên tâm hơn. Nhà nước chỉ nên là người tạo ra các “luật chơi” và thực hiện vai trò kiến tạo của mình, chứ không nên tham gia trực tiếp vào “cuộc chơi” kiểu như đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho DN thuê lại. Cần xem lại tư cách pháp nhân của chính quyền địa phương khi ký kết hợp đồng thuê đất và cho thuê đất giữa nông dân và DN.
4. Về kiến nghị bỏ hạn điền, cần suy xét cẩn trọng trong việc tích tụ ruộng đất quy mô lớn[4], nên chăng chỉ là nới hạn điền. Kiến nghị bỏ hạn điền  mang lại lợi ích không lớn, không chắc chắn, trong khi rủi ro tiềm ẩn lại khá cao. Hãy thử phân tích một số hệ quả và ích lợi mang lại.

Đã có một số DN tập trung được diện tích đất khá lớn nhưng kinh doanh không thành công, khi giao đất, chính quyền kỳ vọng từ các DN nông nghiệp là họ sẽ đầu tư lớn, đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, áp dụng giống mới, công nghệ mới, nhờ đó cung cấp khối lượng sản phẩm đạt quy mô xuất khẩu hiệu quả, đồng nhất về kích cỡ, chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn về thương nhãn, xuất xứ, thương hiệu… Nhưng, để xây dựng thương hiệu, cần một quá trình lâu dài. Quy mô lớn mà không có thương hiệu, không có thị phần ổn định thì rủi ro phá sản khi thị trường giảm giá càng lớn. Mà thị trường nông sản thế giới luôn hoạt động theo chu kỳ tăng, giảm khó đoán định, nhất là với DN Việt Nam, còn rất non trẻ, ít kinh nghiệm trên thương trường quốc tế. Ở khía cạnh này, DN kém “sức sống” hơn hộ gia đình. Bởi vì người nông dân kinh doanh ở quy mô hộ gia đình có khả năng “co giãn” nhu cầu, điều tiết cung cầu để thích ứng với rủi ro thị trường tốt hơn DN. Do đầu tư ít, họ ít chịu áp lực trả nợ ngân hàng; do không phân định rõ tiền lương và lợi nhuận nên hộ nông dân có thể duy trì sản xuất ở mức tiền lương tối thiểu, không có lợi nhuận. Vì thế, nông nghiệp nông hộ sẽ ít chịu hậu quả phá sản khi giá nông sản bước vào chu kỳ giảm so với DN nông nghiệp.
Các rủi ro đem lại tác động tiêu cực của việc bỏ hạn điền có thể là: (i) Sẽ có hiện tượng DN nỗ lực nhận quyền sử dụng đất để đầu cơ, bán lại dự án cho DN khác khiến ruộng đất bị bỏ hoang ở quy mô lớn trong thời gian dài, trong khi dân thiếu đất canh tác dẫn đến hiện tượng lấn chiếm trở lại như từng xảy ra trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ những năm qua; (ii) Người giàu có thể thành lập DN (trá hình) để mua đất nhằm tích trữ của cải một cách an toàn, tránh lạm phát và phá sản của ngân hàng. Do mục tiêu là tích trữ của cải nên họ không chú trọng đầu tư để phát triển nông nghiệp dẫn đến một số diện tích đất không được sử dụng hiệu quả, kích động lại chế độ phát canh thu tô ở quy mô nhỏ; (iii) Hiện tượng cho vay nặng lãi (hoạt động ngầm và thịnh hành ở nhiều nơi, không chỉ ở nông thôn) sẽ hỗ trợ cho những người giàu tích tụ đất đai không nhằm kinh doanh nông nghiệp, đồng thời xuất hiện trở lại nhiều hộ nghèo, vì hoàn cảnh khó khăn phải bán đất. Như vậy, quá trình tích tụ đất tự phát sẽ không còn bị ngăn cản bởi hạn điền (mặc dù hạn điền không thể ngăn chặn hoàn toàn quá trình tích tụ đất phi pháp, nhưng hạn chế động cơ tích tụ đất phi pháp do rủi ro lớn).

Như vậy, việc bỏ hạn điền không hứa hẹn một cách chắc chắn rằng có làn sóng đầu tư lớn của DN, tập đoàn lớn vào kinh doanh nông nghiệp, trong khi đó lại tiềm ẩn các tác động tiêu cực khá lớn. Vì vậy, vấn đề này, cần nghiên cứu thận trọng để nếu cần thiết thì mở rộng thêm hạn điền ở quy mô kinh doanh hiệu quả (nới hạn điền).
5. Nên có chính sách khuyến khích các DN, nhất là các DN có tiềm lực tài chính mạnh, đầu tư vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông sản và tổ chức thị trường nội địa và xuất khẩu (kết nối nông dân Việt Nam với thị trường toàn cầu) hơn là khuyến khích các DN tích tụ ruộng đất để sản xuất qui mô lớn theo mô hình phương Tây như hiện nay. Học viện Nông nghiệp Việt Nam (HVNNVN) đã có bài học về việc này khi tổ chức trồng dứa quy mô lớn ở Quảng Trị: (a) Ruộng đất vẫn của nông dân; (b) DN lo đầu vào (cung cấp giống chuẩn, vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chuẩn với giá bán buôn thấp nhất cho nông dân) và lo bao tiêu toàn bộ sản phẩm với giá cả đã được công bố công khai từ đầu vụ (trước khi trồng), nông dân mang nông sản đến các vị trí tập kết, xe tải của DN đến thu mua và trả tiền mặt cho nông dân tại các điểm tập kết gần ngay đồng ruộng của nông dân, khấu trừ tiền giống và vật tư DN đã ứng trước (không tính lãi); (c) HVNNVN cùng DN lo tập huấn (miễn phí) cho nông dân và cử cán bộ kĩ thuật cùng sinh viên thực tập tốt nghiệp chỉ đạo sản xuất trực tiếp; (d) Chính quyền địa phương làm trọng tài, đồng hành cùng nông dân và DN giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng phát sinh (nếu có), lo xác đinh các vị trí tập kết, lo tổ chức các nhóm hộ nông dân, Hợp tác xã (HTX) sản xuất theo yêu cầu kĩ thuật và công nghệ của DN và của HVNNVN, lo tu sửa đường xá, hệ thống cấp thoát nước phục vụ sản xuất và thu mua nông sản. Khi diện tích trồng dứa của tỉnh vượt quá 2.000hecta, DN sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến dứa tại chỗ, tỉnh có trách nhiệm tìm đất và tiến hành các thủ tục pháp lý giao đất cho DN xây dựng nhà máy. Như vậy là, DN không trực tiếp sản xuất ra nông sản, chỉ lo “đầu vào” và “đầu ra” của nông sản. Sản xuất trên đồng ruộng là việc của nông dân, tổ chức sản xuất là việc của chính quyền. Tất nhiên là, chính quyền, DN, HVNNVN luôn đồng hành cùng nhau vì lợi ích của DN và của người nông dân. Mô hình này cũng đang được triển khai thành công ở Tây Nguyên.
Với nông dân Việt Nam, trong điều kiện hiện nay, quy mô diện tích bao nhiêu là vừa? chưa ai nghiên cứu kĩ càng vấn đề này cho từng vùng miền, cho từng loại nông sản. Có người cho rằng đất trồng cây hàng năm khoảng 30 hecta, đất vườn trồng cây ăn trái khoảng 100 hecta, đất trồng rừng khoảng 300 hecta là phù hợp, là vừa sức với với trình độ quản lý và công nghệ hiện nay của hộ nông dân.

Nông nghiệp công nghệ cao
1. Cần có chính sách khuyến khích phát triển NNCNC quy mô lớn, tập trung, nhưng cũng phải quan tâm đúng mức, nếu chưa muốn nói là quan tâm hơn, đến sản xuất quy mô nông hộ[5], tổ/nhóm hộ nông dân, HTX. Xin nhắc lại là, sản xuất nông sản hàng hóa ứng dụng CNC quy mô nông hộ[6] rất thành công ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Hà Lan và thậm chí là ở ngay Hoa Kỳ, đất nước với những cánh đồng nhìn hút tầm mắt. Cần phân định rõ và tôn trọng cả hai hình thức: NNCNC và ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp. NNCNC hay ứng dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp thì cũng phải hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, thân thiện với môi trường, tạo tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp.
Thận trọng trong việc nhập khẩu nguyên xi công nghệ tiên tiến "nhất thế giới" của các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh và quan hệ xã hội rộng. Điều đó đóng góp không đáng kể cho việc tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia, buộc chúng ta phải lệ thuộc vào công nghệ, giống, vật tư của nước ngoài. Cần cân nhắc được-mất giữa nhập khẩu lương thực, thực phẩm sang nhập khẩu giống, vật tư, công nghệ; chưa ai đo đếm xem “đắt, rẻ” thế nào giữa hai hình thức nhập khẩu này.
2. Nông dân vẫn phải là chủ thể của ruộng đồng, muốn vậy, bằng một cách nào đó, họ phải được tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình vận hành và hoạt động của các khu NNCNC, không thể để nông dân bị đẩy ra "bên lề" của công cuộc phát triển NNCNC. Việc các DN thâu tóm diện tích quy mô lớn (kiểu AgroHolding của Ukraina), đẩy nông dân ra khỏi đồng ruộng của họ tiềm ẩn nhiều rủi ro và hậu họa khó lường trước, ví dụ khi DN bị thua lỗ, ai sẽ tạo sinh kế mới cho nông dân; và khi ấy DN có thể dùng con bài “nông dân” để mặc cả với chính quyền. Nhờ tham gia vào các hoạt động này, họ và con cháu họ học hỏi được kinh nghiệm quản lý và vận hành DN nông nghiệp, hiểu biết về các công nghệ phù hợp; từ đó hình thành tầng lớp nông dân mới, có tri thức, làm chủ công nghệ và biết quản lý, điều hành DN nông nghiệp, làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn, xác lập vị thế mới của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
*** Những vấn đề trên cần có các nghiên cứu độc lập và tương đối toàn diện về tác động/hiệu quả của việc tích tụ ruộng đất, nới hạn điền, NNCNC đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường nói chung, đến phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nói riêng, nhất là tác động đến sinh kế của người dân (ngắn hạn và dài hạn).
Có thể học tập mô hình "Ngân hàng đất nông nghiệp" với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển thế hệ các nông dân trẻ có tri thức như Pháp, Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở đó, họ thành lập các công ty (ngân hàng) thu mua đất của nông dân theo giá thị trường, nếu như nông dân không có nhu cầu sử dụng đất để canh tác, và nông dân chỉ có thể mua bán đất hay gửi đất vào các ngân hàng đất này. Ai muốn sử dụng đất để canh tác (trồng trọt, chăn nuôi) thì phải có đề án khả thi, có bằng tốt nghiệp thấp nhất là Trung cấp nông nghiệp, sẽ được các Ngân hàng đất này cho thuê lại, và được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.
--------------
Chú thích
[1] Theo Quỹ Quốc tế bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã đánh mất 43% lượng rừng che phủ từ năm 1973 đến năm 2009.
[2] Ông Sergut Zorya, chuyên gia về nông nghiệp của WorldBank nhận xét: “Bên cạnh những tác động khách quan ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng nông nghiệp như hạn hán, xâm nhập mặn… thì nông nghiệp Việt Nam đang đối diện với những thách thức nội tại như cơ chế chính sách đất đai, trình độ sản xuất và thương hiệu. Đã vậy, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Xuất khẩu tiếp tục khó khăn cả về lượng lẫn về giá. Gạo Thái Lan có thể bán với giá 800 USD/tấn trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 400 USD/tấn”.
[3] Theo một số ghi nhận, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động rất yếu, thậm chí có xu hướng giảm. Trong số đất nông nghiệp đã chuyển nhượng thì 29% chuyển nhượng trước 1994, 41% chuyển nhượng trong giai đoạn 1994 - 2003, 30% chuyển nhượng trong giai đoạn từ 2004 đến nay. Mặt khác, thị trường cho thuê đất còn kém hơn rất nhiều so với thị trường chuyển nhượng đất nông nghiệp.
[4] Có người cảnh giác: Chủ trương tích tụ ruộng đất có đi ngược lại mục đích của cuộc cải cách ruộng đất cách đây hơn 60 năm không? Nếu vậy thì mục tiêu cách mạng đã thay đổi? Đâu là cơ sở lý luận cho vấn đề này? Tích tụ ruộng rất có mâu thuẫn gì với mục tiêu của phát triển nông nghiệp bền vững (tăng trưởng kinh tế, cộng đồng thịnh vượng, bảo vệ môi trường)? Đặc biệt là với sinh kế của đại đa số nông dân trong điều kiện hiện nay khi công nghiệp và dich vụ chưa thể hấp thụ hết lao động dư thừa do “mất đất” ở nông thôn? Liệu cộng đồng nông thôn có thịnh vượng được không hay sẽ gây bất ổn về xã hội?
[5] Chính những hộ nông dân này (nông trại quy mô vừa và nhỏ) là những người đã làm nên kỳ tích của nông nghiệp VN thời gian qua, họ cũng cần được đối xử bình đẳng như DN. DN được thuê đất, mua đất, vay vốn để xây dựng NNCNC thì họ cũng có quyền được thuê đất, mua đất, vay vốn để ứng dụng CNC vào nông nghiệp. Nông dân với 1,5 hecta đất nông nghiệp nếu đem thể chấp ngân hàng chỉ được vay 200-300 triệu đồng, không bằng một chủ sở hữu một ngôi nhà 40m2 có thể thế chấp vay được 3-5 tỷ đồng! Cách làm này, vô hình trung đã hỗ trợ cho người giàu, làm gia tăng khoảng cách giàu-nghèo, gia tăng mâu thuẫn và các bất ổn xã hội.
[6] Trên thực tế, không ít nông hộ đã ứng dụng CNC vào sản xuất. Đa số các nông trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ của hộ nông dân đều nuôi lợn lai, hoặc lợn siêu nạc có giống gốc từ các "cường quốc" chăn nuôi châu Âu như Bỉ, Đan Mạch.., Bò giống từ Úc, Bỉ, Hà Lan... nuôi theo quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, giám sát thú y chặt chẽ, thức ăn chế biến sẵn theo quy chuẩn, v.v... Thế đã đủ để được gọi là CNC chưa?
-------------
Tài liệu tham khảo chính
1. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2013.
2. Trần Quốc Toản (2013), Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Hà Nội 2013.
3. Nông nghiệp Việt Nam đứng trước ngã ba đường, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-nghiep-viet-nam-dang-dung-truoc-nga-ba-duong-20161030064014869.htm.
4. Luật đất đai 2013, NXB Chính trị Quốc gia, 2013
5. Nguyễn Ðình Bồng (2013). Chính sách tích tụ ruộng đất nhìn từ thực tiễn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Cộng sản. 847 (5-2013). tr. 54-58
6. Nguyễn Cúc và Hoàng Văn Hoan (2010). Chính sách của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện thực hiện các cam kết của WTO. NXB Khoa học kỹ thuật. tr 98-209
7. Nguyễn Đình Bồng, Tạ Hữu Nghĩa (2010), “Phân tích, đánh giá vai trò quản lý Nhà nước tác động đến tích tụ ruộng đất”, Cục chính sách  hợp tác và phát triển nông thôn Bộ Nông nghiệp.
8. Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
9. Tích tụ ruộng đất: Giải pháp thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, http://baoninhbinh.org.vn/tich-tu-ruong-dat-giai-phap-thyc-hien-tai-co-cau-nong-nghiep-2016121308363601p2c21.htm
10. Báo cáo số 13-BC/NN-NT ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Vụ Nông nghiệp-Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương, 2016.
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016, Báo cáo về tình hình tích tụ, tập trung đất đai của một số địa phương thuộc khu vực phía Bắc, 2016
12. Dương Đình Tường, 2009. Nông nghiệp công nghệ cao: Nặng trình diễn, nhẹ hiệu quả, http://nongnghiep.vn/nong-nghiep-cong-nghe-cao-nang-trinh-dien-nhe-hieu-qua-post36762.html
13. Đỗ Kim Chung, Nguyễn Văn Song, Trần Đình Thao, Trần Hữu Cường, Nguyễn Việt Long, Trần Thanh Phương, Nguyễn Xuân Trạch, 2017. Tích tụ đất đai và hạn điền; Trao đổi cá nhân


DƯỚI ĐÁY ĐẠI DƯƠNG LÀ NGỌC

Blog Tình yêu cuộc sống 12/6/2017,  Hoàng Kim

'Dưới đáy đại dương là Ngọc', 'Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi', 'Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn' là ba câu chuyện ám ảnh trong chuỗi bài 'Con đường lúa gạo Việt Nam'. Tôi mắc nợ câu chuyện này đã nhiều năm và chỉ neo đậu cái tựa đề với ít tên người để thỉnh thoảng nhớ lại. Kể về họ là sự chiêm nghiệm một đời. Chúng ta chắc vẫn còn nhớ câu chuyện “Hai cha con đều là anh hùng” và Trở lại nụ cười Ba Sương : “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình, …” . Sự kiện ngày 15 tháng 8 năm 2009 đến nay trong lòng dân đâu đã quên và chuyện đâu đã khép lại.

Hôm bác Năm Hoằng mất, chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn bác Năm đã năm lần lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý cho tôi nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động “Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác”, “Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !” “Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư” “Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rữa phèn, lấn biến” “Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !” “Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được” “Dưới đáy đại dương là ngọc !”. Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều.


Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc “tích tụ ruộng đất”, “xây dựng nông trại điển hình”, và “lập quỹ trái phép”, của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về quan điểm, tầm nhìn, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Không chỉ vậy, những bài học tổng kết thực tiễn kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thế giới và Việt Nam việc soát xét 10 năm, 40 năm, 90 năm, 500 năm để tính toán một tầm nhìn trung và dài hạn vẫn chưa có những công trình xứng tầm để đánh giá thấu đáo và đúc kết những bài học phát triển. Bác Năm đã yên nghĩ, chị Ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả. Người đương thời chưa thể mổ xẽ và phân tích đúng sai về cách “tích tụ ruộng đất”“lập quỷ trái phép” nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.

Hôm nay, khi xem bài viết 'Phát triển kinh tế nông nghiệp: Tích tụ ruộng đất không phải là yếu tố quyết định'. của ông Nguyễn Minh Nhị nguyên là Chủ tịch tỉnh An Giang, đăng trên Báo Tia Sáng ngày 8 tháng 6 năm 2017 và bài  'Tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp CNC: Khuyến nghị chính sách' của giáo sư tiến sĩ Trần Đức Viên, chuyên gia chuyên ngành Sinh thái học Nông nghiệp, Sinh thái học Nhân văn, Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nhiệm kỳ 2006-2016) đăng trên Báo Tia Sáng ngày 25 tháng 5 năm 2017, tôi lần đọc lại trang viết Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi cùng những trang viết nông nghiệp trăn trở của Thầy. Giáo sư Mai Văn Quyền là chuyên gia thâm canh lúa và nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững nay đã trên 82 tuổi vẫn miệt mài dạy và học nghề nông. Lòng tôi rưng rưng cảm xúc nhớ đến “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” và tự nhắc mình phải cố gắng, nhất định phải dành thời gian cho học và viết về nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Mỗi người chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong sự trường tồn và đi tới mãi của dân tộc nhưng tôi tin câu nói của Nguyễn Khải: “Tôi viết vậy thì tôi tồn tại“.“Viết văn không chỉ do nhu cầu kiếm sống, viết văn cũng không chỉ do những bức xúc khôn khuây của cá nhân, mà viết còn là mong muốn được trao trở về với cái vô hạn”.



Tôi đọc lại Bảy Nhị chuyện cổ tích người lớn và đồng tình với bài viết mới đây của ông về "niềm tin" và con đường sáng nông nghiệp. Tôi hoàn toàn đồng ý với luận điểm của ông: "Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất – hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác". Trong một hội thảo Quốc tế trao đổi về "Thành tựu và bài học sắn Việt Nam" tôi có nói đến bài học 6M đó là Mam Power (Con người), Market (Thị trường), Materials (Vật liệu mới, Công nghệ mới), Management (Quản lý, Chính sách) Methods (Phương pháp, Cách làm), Money (Tiền, Hậu cần, hậu phương)., Trong 6M thì yếu tố CON NGƯỜI phải là yếu tố quyết định. Ông Bảy là con người thực tiễn. Ông đã nghỉ hưu, nay viết hồi ký “Tôi đã qua”. Ông kể lại những mẫu chuyện thực của đời mình. Sách “TÔI ĐÃ QUA” gồm hai tập với 675 trang. Lối kể chuyện của ông là tôn trọng sự thật, bám sát thực tế và tâm huyết. Tôi háo hức đọc và chia sẻ đôi lời cảm nhận với bạn, để mong cùng bạn  từ trong chuyện đời thường  rút tỉa được đôi điều về bài học tình yêu cuộc sống. Tôi thấm thía lời ông Bảy: Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì? Cụ Đồ Chiểu có cho Tiểu Đồng nói trong thơ Lục Vân Tiên rất hay: “Đồng rằng trong túi vắng hoe/ Bởi tin nên mắc bởi nghe nên lầm” ! Con đường đi lên của nông nghiệp Việt Nam thật vất vả và nhọc nhằn quá ! Nông nghiệp nông dân nông thôn Việt Nam sau khoán 10, sau nghị quyết 100, sau đổi mới, sau  liên kết nông nghiệp 10 năm, hiện nay là tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, … thực tế  đời sống người nông dân đã tăng lên bao nhiêu? tăng nhiều hay tăng  ít ? có ổn định bền vững không? đã thật sự công bằng chưa? Hỏi xem thu nhập thực tế của nông dân túi họ có bao nhiêu tiền thì biết. Làm gì để chất lượng cuộc sống nông thôn tốt hơn?

Ông Bảy làm Chủ tịch Tỉnh sau làm Bí thư tỉnh An Giang là một tỉnh nông nghiệp. Ông vất vả tổ chức cho tỉnh An Giang đi lên từ hột lúa và con cá. Ông đã có trãi nghiệm thực tế và thấm thía thật nhiều về "niềm tin" về sự liên kết nông nghiệp, đưa hiện đại hóa, công nghiệp hóa vào nông nghiệp, nông thôn’ Ông đã từng tìm tòi và trả giá cho những bứt phá đúng nhưng chưa gặp thời như chuyện “Hai dự án tranh cãi”. Dự án thứ nhất là trồng bắp thu trái non, trồng đậu nành rau và xây dựng nhà máy đông lạnh rau quả xuất khẩu. Dự án thứ hai là nhà máy tinh bột khoai mì. Hơn 20 năm sau nhìn lại, ông viết: “Hai dự án đầy tranh cãi mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Chủ tịch Nước Trần Đức Lương,… từng đến thăm mấy lần và khen ghê lắm. Dự án thứ nhất nay lãi hằng năm cũng vài tỷ rồi cả vài chục tỷ đồng; có việc làm ổn định cho gần một ngàn công nhân (không kể lao động ngoài nhà máy). Dự án thứ hai, dù cho nhà máy bán đi nhưng An Giang được 9.000 ha đất từ Kiên Giang được Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh cho, từ hoang hoá và phèn nặng trở thành đất sản xuất 2-3 vụ/năm, lập thêm hai xã mới với gần một vạn dân. Đây là mồ hôi và cả nước mắt của hàng vạn con người. Nhưng không có ai tranh cãi. Chỉ có tôi và những người không đổ mồ hôi mới tranh cãi mà thôi.” Ông vui buồn trăn trở mà nói vậy thôi. An Giang nay đã vươn lên đứng đầu toàn quốc về sản lượng và xuất khẩu lúa, cá nhưng con đường nhọc nhằn của nghề nông, của một kẻ sĩ tâm huyết, cánh cánh bên lòng câu hỏi: “Người dân hỏi chính khách làm gì cho dân nhờ chớ không hỏi hàng ngày ông làm gì?”. Tìm được câu trả lời vẹn toàn. Khó lắm!

Ôn cũ ngẫm mới tôi nhớ Đào Duy Từ xựa mang tâm nguyện và chí hướng lớn lao như vua Trần Thái Tông “Nếu chỉ để lời nói suông cho đời sau, sao bằng đem thân mình đảm nhận trọng trách cho thiên hạ trước đã”. Di sản của ông không chỉ là trước tác mà còn là triều đại. Ông là nhà thực tiễn sáng suốt có tầm nhìn sâu rộng lạ thường, ngay trong trước tác  cũng rất chú trọng gắn thực tiễn với lý luận. Ông đặc biệt chú trọng thực tiễn mà không theo lối khoa trương, hủ nho của người đương thời. Tôi kính trọng những người thực tiễn, tâm huyết , biết thao thức vận dụng học để làm trong  thực tế cụ thể của chính mình,  biến những điều học ở trường, học ở trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân để làm được điều gì đó thiết thực cụ thể cho dân, cho nước, cho cộng động xã hội gia đình, và cho chính bản thân mình.

Ông Bảy Nhị mail cho tôi những trang hồi ký chỉ để đọc giữa một ít người trong gia đình và thân quen. Ông vui khi đọc bài viết Kênh ông Kiệt giữa lòng dân và nhận xét: “HK viết lúc mình đã nghĩ hưu nên cả HK cũng không bị ai hiểu là “tâng kẻ có chức”. Tôi thì ám ảnh bởi những điều mình chính đời mình mắt thấy tai nghe mà không lưu lại thì khó có thể trao truyền lại những bài học thực tiễn  cho người thân và các bạn trẻ nên tôi lựa chọn để kể.

Đọc lại và suy ngẫm. Dưới đáy đại dương là Ngọc.

Xem thêm

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Lương Định Của con đường lúa gạo
Những chân dung nghề nông phác thảo
Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa


Video yêu thích
KimYouTube

31 tháng 5, 2017

Thông điệp của Thủ tướng Việt Nam

HỌC MỖI NGÀY. Thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trên tờ Washington do báo Chính Phủ Việt Nam đăng tải ngày 30 tháng 5 năm 2017 là tin nổi bật nhiều người đọc (Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ảnh VGP):

"Trong hơn hai thập kỷ qua, tôi đã có cơ hội được nhiều lần đến đất nước Hoa Kỳ để học tập nghiên cứu, làm việc và tôi luôn cảm nhận được sự chào đón chân thành từ bạn bè Hoa Kỳ. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, trên cương vị là Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, tôi cùng các thành viên trong Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam vui mừng được gặp lại những người bạn cũ và làm quen với những người bạn mới, cùng chung một tâm huyết là ủng hộ nhiệt thành quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ, để cùng viết thêm một trang mới trong lịch sử quan hệ giữa hai dân tộc chúng ta.

Cách nhau một đại dương, nhưng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao hai mươi hai (22) năm trước đây không ngừng xích lại gần nhau hơn. Bằng sự can đảm vượt lên chính mình và tinh thần “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, chúng ta đã vượt qua biết bao cam go, khó khăn, thách thức để đưa quan hệ từ cựu thù, thành bạn và nay là Đối tác toàn diện với động lực phát triển quan hệ mạnh mẽ.

Xuất khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam trong 10 năm qua tăng 5 lần. Trong chuyến đi này, các doanh nghiệp hai bên sẽ ký các hợp đồng thương mại trị giá nhiều tỷ USD, sẽ tạo ra hàng chục nghìn việc làm tại Mỹ và tăng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam và của Việt Nam sang Hoa Kỳ, góp phần cải thiện đời sống cho rất nhiều người lao động ở hai nước.

Hai nền kinh tế Việt Nam và Hoa Kỳ hoàn toàn có tính bổ sung cho nhau và càng tăng cường hợp tác chúng ta có nhiều lợi ích. Việt Nam thường nhập khẩu từ Hoa Kỳ máy bay (Boeing), động cơ điện, thiết bị y tế công nghệ cao, dược phẩm, trong năm 2016, đã nhập gần 1,5 triệu tấn ngô, đỗ tương, lúa mỳ, 0,5 triệu tấn bông…, và ngược lại chúng tôi xuất khẩu sang Hoa Kỳ những mặt hàng tôm, cá tra, rau quả, đồ gỗ, hàng may mặc, giầy dép… mà người dân Hoa Kỳ ưa dùng. Giữa tháng 5/2017, Tập đoàn sữa lớn nhất Việt Nam - Vinamilk đã nhập 2.000 con bò sữa cao sản từ Hoa Kỳ và sẽ là 8.000 con trong năm nay để nhân rộng nguồn sữa chất lượng cao cho trẻ em Việt Nam.

Phòng thí nghiệm của Underwriter Laboratories giúp cho việc kiểm tra chất lượng hàng hóa Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế. Máy bay Boeing, Vệ tinh Lockheed Martin đang giúp hiện đại hóa một cách nhanh chóng ngành giao thông vận tải và viễn thông của Việt Nam. Tuốc-bin điện của GE đang giúp chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng của Việt Nam sang hướng ngày càng xanh, sạch.

Hơn 31.000 sinh viên Việt Nam hiện đang học tập tại Hoa Kỳ đã và sẽ là một nguồn lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, khoa học-công nghệ của Việt Nam, cho tương lai quan hệ hai nước. Đại học Fulbright Việt Nam và Chương trình Hòa bình (Peace Corps) sớm được triển khai tại Việt Nam không chỉ góp phần hỗ trợ các học sinh, sinh viên Việt Nam tiếp cận nền giáo dục hàng đầu thế giới và thông thạo tiếng Anh hơn nữa, mà còn những là minh chứng cụ thể về sự phát triển của quan hệ hai nước.

Ở Quảng Nam, quê hương thân yêu của tôi, nỗ lực để giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên của Cửa Đại, bảo tồn Phố cổ Hội An, di sản thế giới UNESCO, cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn bè Hoa Kỳ. Chúng tôi cảm ơn những chuyên gia, nhà nghiên cứu đến từ Đại học Harvard, bang Massachusetts, Đại học Portland, bang Oregon, Đại học Arizona, bang Arizona, và nhiều trung tâm đào tạo, nghiên cứu của Hoa Kỳ khác đã sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống bão, lụt, biến đổi khí hậu, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Những vết thương chiến tranh đang được hàn gắn bởi các hoạt động hợp tác tẩy độc chất dioxin ở các điểm phơi nhiễm và rà phá bom mìn chưa nổ. Sự giúp đỡ chân thành, không vụ lợi đó chính là những viên gạch chắc chắn để xây dựng sự hiểu biết, lòng tin, tạo nền tảng vững bền cho mối quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ trường tồn trong nhiều thập kỷ tới.

Hơn 20 năm trước, nhiều người Hoa Kỳ biết tới Việt Nam như là một cuộc chiến tranh, nhưng giờ đây nhiều người Hoa Kỳ đã biết Việt Nam là quốc gia độc lập, có chính sách đối ngoại độc lập; một đối tác hết sức coi trọng quan hệ với Hoa Kỳ, nhất quán thúc đẩy quan hệ theo hướng ổn định, lâu dài, xây dựng và cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, thể chế chính trị của nhau, góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực và thế giới.

Chúng tôi mong muốn xây dựng quan hệ làm việc tốt với Chính quyền của Tổng thống Donald Trump không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, mà còn vì cả lợi ích của Cộng đồng ASEAN, của hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và thịnh vượng chung của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và thế giới. Tháng 11/2017, Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017 với chủ đề “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung”. Chúng tôi hoan nghênh việc Tổng thống Donald Trump sớm nhận lời tham gia Hội nghị quan trọng này và sẽ cùng Hoa Kỳ và các nền kinh tế thành viên khác xây dựng một chương trình nghị sự thiết thực, hiệu quả.

Với những bước tiến to lớn đạt được hơn 20 năm qua, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ 20 năm tới./."

Video yêu thích
KimYouTube

22 tháng 5, 2017

Cúi đầu một nét đẹp văn hóa


CÚI ĐẦU MỘT NÉT ĐẸP VĂN HÓA. Giáo sư Nguyễn Tử Siêm tâm đắc "Cúi đầu nét văn minh cao thượng, hiệu quả giáo dục sâu sắc'. Thầy giới thiệu bài viết thật đáng suy ngẫm của An Hòa đăng trên Tri thức Việt Nam  Người biết “cúi đầu” mới có thể “ngẩng đầu” Biết cúi đầu là một trí tuệ. Học cách cúi đầu trước những sai lầm của mình. Học cách “cúi đầu” khi đối mặt với hiện thực trước mắt. Học cách “cúi đầu” trước những dục vọng của bản thân.  Biết “cúi đầu” là một loại trưởng thành. Cám ơn giáo sư Nguyễn Tử Siêm với lời phản biện ấn tượng giúp chúng ta khắc sâu 'Cúi đầu nét văn minh cao thượng hiệu quả giáo dục sâu sắc'. Cám ơn tác giả An Hòa với bài viết đặc biệt sâu sắc lắng đọng trong lòng người. Hình ảnh Tổng thống Mỹ Obama cúi đầu chào Nhật Hoàng là bài học lớn chưa hề cũ.  ẤN TƯỢNG OBAMA. Cúi đầu một nét đẹp văn hóa. (Hoàng Kim)

NGƯỜI BIẾT "CÚI ĐẦU" MỚI CÓ THỂ "NGẪNG ĐẦU"

An Hòa, báo Tri thức Việt Nam 3.3.2017
Trong xã hội từ xưa đến nay, phàm là những người có sự nghiệp thuận lợi nhất, thăng tiến nhanh nhất thông thường đều là những người hiểu được rằng làm người phải biết “cúi đầu”.
1. Biết “cúi đầu” là một loại trí tuệ

Một hôm có người hỏi ngài Socrates – triết gia Hy Lạp cổ đại: “Thưa ngài! Ngài là người có học vấn uyên thâm nhất thiên hạ, ngài có biết khoảng cách giữa Trời và Đất là bao nhiêu không?”
Socrates trả lời: “Ba pous”. (pous là đơn vị đo lường của Hy Lạp cổ, 1 pous = 0,3 m)
Người này tỏ vẻ nghi hoặc nói: “Thưa ngài, ngoài trẻ con ra thì con người chúng ta ai cũng cao 5, 6 pous, nếu khoảng cách giữa trời và đất chỉ có 3 pous, thì chẳng phải chúng ta đã đâm thủng bầu trời rồi hay sao?”
Socrates tiếp tục nói: “Đúng vậy, phàm là ai cao hơn ba thước, nếu muốn đứng được ở giữa trời và đất, thì phải biết cúi đầu xuống”.
Câu chuyện cổ xưa này nói cho chúng ta biết một đạo lý, “cúi đầu” chính là một cách ứng xử đúng mực, một cách nhìn xa trông rộng trong cuộc sống. Trong cuộc sống, ở vào một số tình huống chúng ta nhất định phải học được cách “cúi đầu”, khi ấy chúng ta sẽ phát hiện ra rằng tình thế đã được chuyển biến tốt đẹp ngoài tưởng tượng của bản thân mình.

Học cách “cúi đầu” trước những sai lầm của mình

Con người không phải Thánh nhân, nên ai mà không từng phạm sai lầm? Nhưng đã mắc lỗi thì nên cải sửa. Tuy nhiên, có nhiều người khi mắc lỗi lại khuyết thiếu can đảm “cúi đầu” thừa nhận sai lầm của bản thân mình.
Sai lầm do bản thân mình gây ra rất có thể sẽ làm thương tổn đến người khác. Chỉ có “cúi đầu” mới có thể bù đắp lại được. “Cúi đầu” không phải là khuất nhục, “cúi đầu” cũng không phải là thể hiện người thấp hèn, mà thể hiện rằng bản thân biết sai nên phải sửa. Đó cũng là cái giá phải trả cho tội lỗi của bản thân mình.
Can đảm “cúi đầu” trước sai lầm mình gây ra chính là thể hiện của sự thông minh và quyết đoán, là một loại cảnh giới và phẩm cách cao quý, cũng là một loại rộng lượng và thong dong. Có thể gập vào thì mới có thể duỗi ra, có thể lui mới có thể tiến, có thể nhu mới có thể cương.
Học cách “cúi đầu” khi đối mặt với hiện thực trước mắt
Giữa thực tại và mơ ước thường có một khoảng cách và sự chênh lệch rất lớn. Một số người khi bước vào trường học, vào cuộc sống hay nơi làm việc mới thường mang theo những nguyện vọng, mơ ước tốt đẹp, nhưng họ lại khó thích ứng được với những nội quy, quy định nghiêm khắc của nơi đó và dễ dàng đánh mất đi lý tưởng, khó có thể dung nhập được với môi trường này.
Lúc này, nếu chỉ một mực ngẩng cao đầu trông ngóng mà không hạ bỏ được cái “tư thế” của bản thân thì rất khó tìm cho mình một chỗ phù hợp, chuẩn xác. Trái lại, khi ấy, có thể cúi đầu xuống, tĩnh tâm lại, hạ thấp tư thế xuống, nhiệt tình làm việc thì sẽ rất nhanh có thể tìm được vinh quang cho mình.

Học cách “cúi đầu” trước những dục vọng của bản thân

Ham muốn, dục vọng và lòng tham của con người là vô hạn, không có chừng mực. Trong lòng người, không có cái gì là tốt nhất mà chỉ có cái tốt hơn và hơn nữa.
Có những người luôn thích kiễng chân lên, vươn cổ cao lên để vượt hơn người khác, nổi danh hơn người khác. Chứng kiến địa vị của bạn bè, đồng nghiệp đều thăng lên như “thang máy”, người này làm cục trưởng, người kia làm trưởng phòng… trong khi bản thân mình lại không là gì cả liền cảm thấy oán trách trời đất, xã hội bất công. Nhưng, chỉ cần cúi đầu xuống, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng những thứ mà bản thân mình có được là rất nhiều, chính là mải “ngẩng đầu” nên không nhận ra và trân trọng nó mà thôi!
Cuộc đời nhắc nhở chúng ta rằng: Rất nhiều người cả đời ngẩng đầu phấn đấu, cuối cùng nhìn lại mới nhận ra, thứ mà mình giành được rốt cuộc cũng chỉ là phù du, mây khói, là vật ngoài thân mà thôi.

2. Biết “cúi đầu” là một loại trưởng thành

Cách đây rất lâu, có một chàng thanh niên người Nauy đã vượt biển đến nước Pháp để ghi danh thi vào học viện âm nhạc Paris nổi tiếng.
Trong giờ thi, mặc dù anh ta đã cố gắng hết sức để thể hiện khả năng của mình với một trạng thái tốt nhất nhưng vẫn không được ban giám khảo tuyển chọn.
Chàng thanh niên không một đồng xu trong người, đi đến con phố phồn hoa cách học viện đó không xa, đứng dưới một thân cây, và tiếng vĩ cầm vang lên theo nhịp kéo của anh. Anh ta chơi hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, thu hút rất đông người dừng chân lắng nghe.
Chàng thanh niên đói khát cuối cùng nâng hộp đàn của mình lên, những người xem xung quanh xúm lại lấy tiền ra và bỏ vào hộp đàn.
Có một kẻ ngạo mạn khinh thường người thanh niên ấy và ném những đồng tiền xuống dưới chân của anh, không một ánh mắt thiện cảm.
Người thanh niên nhìn kẻ ngạo mạn rồi cúi người xuống nhặt những đồng tiền trên mặt đất lên, đưa cho người đó và nói: “Thưa ông, tiền của ông rơi xuống đất này!”
Người ngạo mạn cầm tiền rồi lại một lần nữa ném xuống dưới chân của người thanh niên và nói: “Tiền này đã là của cậu rồi, cậu phải nhận lấy chúng”.
Người thanh niên lại một lần nữa nhìn kẻ ngạo mạn rồi cúi người thật sâu xuống cám ơn kẻ ngạo mạn và nói: “Thưa ông, xin cảm ơn sự giúp đỡ của ông. Vừa rồi tiền của ông rơi xuống mặt đất, tôi đã cúi người xuống nhặt lên, bây giờ tiền của tôi rơi xuống mặt đất, xin phiền ông cũng nhặt lên giúp tôi!”
Kẻ ngạo mạn kinh ngạc trước hành vi của người thanh niên, nhưng cuối cùng trước mặt đông người cũng nhặt những đồng tiền trên mặt đất bỏ vào hộp đàn của người thanh niên, rồi bước đi với bộ mặt xám xịt, xấu hổ.
Những người vây xung quanh đều yên lặng dùng ánh mắt chăm chú mà theo dõi người thanh niên này. Kẻ ngạo mạn đó chính là vị giám khảo ban nãy. Cuối cùng vị giám khảo đó lại đưa chàng thanh niên về học tại học viện. Chàng thanh niên này tên là Bill Sardinia.
Trong cuộc sống có thời điểm mà chúng ta lâm vào ngưỡng thấp nhất của cuộc đời, có thể sẽ gặp phải một số sự khinh thường vô duyên vô cớ. Khi chúng ta ở vào giây phút khó khăn cùng cực nhất của cuộc sống, có thể gặp phải sự chà đạp nhân phẩm của người đời. Phản kháng lại một cách gay gắt là bản năng của của chúng ta, nhưng thông thường sẽ khiến cho hành động của những người thiếu hiểu biết, thiếu đạo đức đó càng thêm tệ hại hơn. Lúc ấy, chúng ta không dùng lý trí để phản kháng, mà dùng một loại tâm thái khoan dung độ lượng để đối đãi cũng có thể bảo vệ được danh dự của mình.
Khi đó, bạn sẽ phát hiện ra rằng, bất luận là người có dã tâm nào đi nữa, khi đứng trước chính nghĩa thì đều không cách nào trụ vững nổi. Đôi khi “cúi đầu” lại thể hiện được phẩm chất vô giá của một người! Biết “cúi đầu” mới là trưởng thành, biết “hạ mình” mới là cao thủ.

CÚI ĐẦU

Nét văn minh cao thượng
Hiệu quả giáo dục sâu sắc

GS. Nguyễn Tử Siêm  FB ngày 20.5.2017
Nhớ lại văn hào Lỗ Tấn viết: "Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ. Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu". (Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ. Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng). Cụ Hồ Chí Minh dịch, dẫn lại và nói ‘lực sĩ’ là kẻ cường quyền, ‘nhi đồng’ là nhân dân.
Cụ Nguyễn Văn Tố - Chủ tịch Quốc hội đầu tiên (hy sinh 7/10/1947 khi Pháp nhảy dù Bắc Cạn) - vốn là một trong Tứ kiệt “Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn", từng làm chuyên gia Viễn Đông Bác Cổ, Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ. Danh giá làm vậy mà khi gặp người trẻ mấy Cụ vẫn cung kính “Thưa ông” suốt đời. Đúng là cử chỉ nói lên đức độ.
Thời nay, mấy ông “cán bộ” làm thuê, dân nuôi mà tinh tướng. Cái chức lẹt phẹt, mặt vênh như bánh tráng, rõ chán. Mấy ông chỉ đường cứ chĩa dùi cui vào mặt dân, thật thiếu lễ độ, quên bẵng câu cụ Hồ: “Với dân phải kính trọng lễ phép”. Trông người ngẫm đến ta mới phải than phiền vậy, mặc dù tôi kính trọng những người tử tế, vì dân, bảo vệ dân.
Trong công việc, khi gặp một Phó Thủ tướng, tôi nhiều tuổi hơn nên ông gọi ‘anh’ xưng ‘em’. Ở cái tuổi này, tôi chẳng dễ rung rinh, nhưng quả thật, một ý nghĩ cứ vương vấn trong đầu. Mị dân ?. Không. Chân tình !. Tôi đâm nể ở mức kính trọng và nghĩ giá như quan chức ta ai cũng nhớ dân mới là cha mẹ chứ không phải quan.
Nhật hoàng còn làm thế, sao ta lại không thể ?. Cái này nó khác hẳn với “Thân lươn bao quản lấm đầu”. Vậy thì ngại gì mà không cúi.

(NTS 20.5.2017).











5 tháng 4, 2017

Truyện Walt Disney

 TRUYỆN WALT DISNEY

Hoàng Kim

Cố gắng viết ngắn giàu thông tin. Học từ một bài viết ngắn. GÍA TRỊ TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Đứa bé trai đến gần một ông già có vẻ ngoài rất thông thái. Ngước nhìn ông, cậu bé nói:“Cháu biết ông là một người rất sáng suốt, uyên thâm. Ông hãy cho cháu biết giá trị tình yêu cuộc sống?"  Ông già nhìn đứa bé đáp:“Suốt đời mình ông đã suy ngẫm rất nhiều về điều này và có thể nói ngắn gọn chỉ trong bốn từ: Đầu tiên là SUY NGHĨ . Hãy nghĩ về những giá trị mà con sống vì chúng. Thứ hai là TỰ TIN . Hãy tin tưởng bản thân bằng cách dựa vào những giá trị con nghĩ rằng vì chúng mà con sẽ sống. Thứ ba là ƯỚC MƠ. Mơ ước những gì có thể thành hiện thực dựa vào sự tự tin và những giá trị mà ta sẽ theo đuổi trong cuộc sống. Và cuối cùng là DÁM LÀM. Hãy dám thực hiện để biến ước mơ thành sự thật bằng chính niềm tin và giá trị của chúng ta. Ông già đó chính là hoạ sĩ Walt Disney – Người bạn của trẻ em của thế giới. Bài viết ngắn giàu thông tin. Đọc lại và suy ngẫm,

Xem tiếp TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

Người theo dõi