Lưu trữ Blog

27 tháng 1, 2010

Bà chúa của Sơn Nam




HOCMOINGAY. Việt Linh có bài viết cảm động "Bà chúa của Sơn Nam" tưởng nhớ trên một năm ngày mất của ông (13.8.2008) đăng trên SGTT - Đưa tang ông, với lý do không có nhiều hiểu biết về con người đáng kính, lạ thường này, tôi hầu như từ chối mọi phỏng vấn nghi thức. Nhưng từ thẳm sâu, tôi biết mình sẽ viết về ông – người đã gọi tôi là... “quỷ cái”! (Sơn Nam và Việt Linh ở Kiên Giang năm 1992. Ảnh tư liệu của tác giả )

Đó là năm 1988, khi phim Gánh xiếc rong của tôi không được phép phát hành. Trong một buổi cà kê ở phòng kế hoạch hãng phim Giải Phóng, Sơn Nam nhìn tôi, cười mim mím: “Đường Lý Chính Thắng giờ có thêm con quỷ cái, vị chi ba con”. Thì ra ông cộng tôi với hai “con quỷ” trước là K.H ở báo Tuổi Trẻ, T.T của báo Phụ Nữ TP.HCM – cùng có trụ sở trên đường Lý Chính Thắng. Hôm đó, không chỉ phong tôi là “quỷ” – từ mặc định của ông cho những nàng “có vấn đề” – Sơn Nam còn nghiêng ngó mấy vân tay quỷ, phán một câu rất vui: “Người này, nếu ở ngoài đời (ông làm như tôi đang đi tu hay ở trong tù) thì dù giựt hụi người ta, nhưng rủ chơi lại, người ta cũng chơi”. Tôi hỏi ý bác sao. Ông chỉ cười mim mím. Sơn Nam  là vậy, luôn lấp lơ, bí ẩn…

Tôi gọi ông bằng “bác” vì ông thuộc thế hệ đàn anh của ba tôi. Và thật ra, ngoài một số tác phẩm của ông mà tôi đã đọc, một số lần gặp nhau ở phân viện Tư liệu phim (7 Phan Kế Bính, quận 1) mà ba tôi phụ trách, tôi không thân thiết với ông, cho đến khi được ông gọi là “quỷ cái”. Và rồi một cơ duyên nữa khiến chúng tôi gần nhau hơn: thời đó, cuối những năm 80 của thế kỷ trước, các truyền thuyết hương xa bỗng dưng ăn khách khi chuyển thành điện ảnh. Giám đốc hãng phim bảo tôi kiếm một đề tài tương tự. Sau nhiều cân nhắc, tôi chọn tiểu thuyết Bà chúa Hòn của Sơn Nam. Vì nhan sắc tuyệt trần – theo Sơn Nam tả – của cô bé tên Huôi mà số phận sắp đặt lớn lên thành bà chúa. Vì vẻ đẹp tuyệt mỹ – cũng theo Sơn Nam tả – của đất trời Nam bộ. Vì nỗi thống khổ của dân đen trước một vương triều thâm thối… Tóm lại, Bà chúa Hòn đủ chất liệu cho bộ phim lôi cuốn.


Đọc kịch bản xong, Sơn Nam cười mim mím: Hấp dẫn a… Nhưng khác quá. Tôi mừng húm, chỉ sợ ông nói “ngộ”, bởi tôi biết ông hay dùng chữ “ngộ” để đưa đẩy xã giao những chuyện không thích. Cái sự khác đó như vầy: từ câu chuyện của Sơn Nam, tôi phóng tác thành câu chuyện khác. Tôi chọn cái lâm ly tình yêu, tội ác thay cho cái ly kỳ điển tích, tập quán… khó tái hiện với kinh phí thấp. Tôi chọn cho nhân vật cái gia phả thuần Việt thay cho lý lịch Triều Châu nguyên bản mà tôi không am hiểu. Cô gái của tôi vì vậy tên Lam chứ không phải Huôi. Quan trọng hơn, từ nỗi hứng được ông gọi là “quỷ cái”, tôi cũng biến Lam thành quỷ – những con quỷ chịu mang tiếng quỷ để làm được cái gì không – quỷ cho đời. Con quỷ Lam của tôi đã hy sinh tình riêng, thí chúa, cứu dân.
Cái khác nữa, hình như lớn nhất, là nhân vật Bá Vạn: Bá Vạn trong sách mưu mô, liên minh thí chúa với Huôi vì tư lợi. Bá Vạn trong phim nghĩa tình, đa cảm, mang tiếng bạo quan để chờ dịp giúp dân.
Kịch bản được duyệt, bản quyền được ký. Chúng tôi tổ chức đi chọn cảnh và mời ông hướng đạo. Một tuần lang thang từ thành phố tới Hà Tiên, “pho từ điển sống miền Nam” không ngó ngàng kịch bản, chỉ say sưa cổ tích, ẩm thực... của vùng đất ông tin là phước địa – niềm tin đã khiến ông suốt đời mê đắm làm người kể chuyện và nghiên cứu. Cứ vậy chúng tôi đi cùng những câu chuyện của ông, kịch bản tưởng như bị quên béng. Nhưng một ngày, bỗng dưng ông hỏi tôi có biết tại sao ông thích kịch bản này không, dù nó khác xa tiểu thuyết. Tôi nửa đùa nửa thật chắc tại bác thích viên quan già Bá Vạn (trong phim Bá Vạn… yêu bà chúa trẻ). Sơn Nam cười mim mím, nói thích nhứt đoạn Lam mới lên ngôi, sau khi truất được chúa Hòn. Đoạn đó như vầy:
Đêm hoa viên tĩnh lặng. Lam ngồi úp mặt bên hồ sen, người co dúm như hứng chịu sức nặng gì ghê gớm. Bá Vạn đứng không xa, nhẹ nhàng an ủi:
- Bà hãy khóc đi… Ít ra cũng có lúc bà được sống cho chính mình.
Lam bật khóc thành tiếng. Bá Vạn nhìn Lam, mắt đỏ hoe:
- Bà thật bất hạnh…
Lam tức tưởi chụp tay vị quan già:
- Ông Bá Vạn! Bao giờ? Bao giờ tôi mới được làm cô gái bình thường, được cởi cái danh vị nữ vương này?
Bá Vạn nhìn Lam, xa vắng:
- Tôi còn mong điều đó hơn bà…
Lam ngạc nhiên, gay gắt:
- Ông nói sao? Chính ông bắt tôi làm bà chúa kia mà!
Bá Vạn tránh mắt Lam, buồn bã:
- Bà hiểu vì sao tôi phải làm như vậy. Nếu chỉ sống cho mình, bà đã không làm chúa. Tôi cũng vậy. Nếu được sống cho mình, tôi đã không phải dằn nén một câu nói, mà đáng lẽ từ lâu, tôi phải nói với bà…
Lam nhìn viên quan, bối rối:
- Ông… muốn nói gì?
Bá Vạn bất đồ nắm tay Lam, thổn thức:
- Lam… Tôi yêu bà…

Cũng trong chuyến đi, thấy ông tiện tặn còn hơn đám làm phim tiện tặn, tôi trêu nghe đồn bác có “lương tháng” to bự lắm. Ông cười mim mím, nói tổng biên tập một tờ báo lớn quyết định bồi dưỡng các nhân vật anh yêu quý. Sơn Nam là một và duy nhất không quyền thế trong số đó. Ông khoe tiền khá lắm. Nói khá có lẽ do ông không biết những con số đồ sộ khác, hoặc do ông quen đạm bạc. Ông than “mắc cỡ lắm” khi tháng tháng phải ren rén vô gặp cô tài vụ, ren rén bước ra mau để không ai nhìn thấy… Biết ông túng thiếu mà tự trọng, nhiều người, trong đó có tôi, hay tặng tiền ông bằng cách khẽ đưa vào túi áo để ông khỏi chạm tay cầm. Thường thì ông ngó lơ, lí nhí nói “Cảm ơn”, hoặc “Tử tế ha” rồi lảng qua chuyện khác. Bà con Việt kiều ở Pháp rất ái mộ ông, đặc biệt gia đình bác sĩ H. Lâu lâu, họ nhờ tôi chuyển tặng ông món tiền đáng kể. Rất khó gặp Sơn Nam nên tôi phải nhờ tiếp qua anh N. Tôi ngại nói anh N. ghi mấy chữ, cũng như anh N. không thể bắt người bạn vong niên khả kính của anh ghi mấy chữ. Chúng tôi đành áy náy: Anh N. áy náy với tôi, tôi áy náy với gia đình bác sĩ H. Mãi gần đây, tình cờ đọc chuyện kể của ông Nam Sơn – một người quen của Sơn Nam – tôi mới bớt nặng lòng: “Mấy năm trước, có lần hay tin nhà văn Nguyễn Văn Sâm về nước, tôi có nhờ anh gởi ít tiền làm quà cho Sơn Nam. “Chả (Sơn Nam) nhận quà, lơ đãng nói chuyện khác, tuồng như không quan tâm”, Nguyễn Văn Sâm nói như vậy. “Ðó là cái kiểu Sơn Nam”, tôi trả lời Nguyễn Văn Sâm”.
Rất tiếc vì lý do kinh phí, kịch bản Bà chúa Hòn không được thực hiện. Nhưng nhờ nó tôi khám phá ra ở con người hắt hiu kia một tâm hồn đa cảm. Với tôi đó là một khám phá tinh khôi, dịu ngọt. Tôi cảm ơn Bà chúa Hòn, dù Lam hay Huôi, đã giúp tôi có cơ hội gần ông, ngộ ra con người làm bộ, làm như không để ý gì, không biết gì này hiểu hết mọi chuyện, rưng rưng hết mọi chuyện. Có lẽ vì vậy chăng mà cái kho kiến thức Nam bộ uyên bác, có vẻ như chỉ muốn lôi cuốn độc giả bằng chất quái lạ của ông luôn để lại những dư vang nhân bản. Tôi cảm ơn Bà chúa Hòn, dù Lam hay Huôi, đã giúp tôi hiểu Sơn Nam sôi động phù du chỉ là phần nổi của tảng băng, như hiểu đàng sau tiếng cười ha hả, xác nhận bị vợ đăng tivi tìm kiếm là nỗi cô đơn vô bờ bến. Nỗi cô đơn Sơn Nam.
Có chút duyên gì chăng khi mỗi năm tôi chỉ ở Việt Nam chừng hai tháng, nhưng trong hai tháng choi loi đó tôi đã có dịp tiễn ông lên cõi niết bàn. Mới đó mà đã hơn một năm. Mới đó mà đã 18 năm kể từ ngày hai bác cháu cùng đi chọn cảnh, mà dấu vết duy nhất còn lại là tấm ảnh này. Máy xấu, ảnh lem nhem nhưng vẫn thấy ba “nhân vật”: Hòn Phụ Tử đã rơi, Sơn Nam đã đi, chỉ còn lại con quỷ với tương tư bà Chúa...

Việt Linh
Nguồn: SGTT HOCMOINGAY


HOCMOINGAY. 13 tháng 8 năm 2008 là ngày mất của Sơn Nam, nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu Nam Bộ, con người được mệnh danh là "ông già Nam Bộ", "ông già Ba Tri", “ông già đi bộ’, "pho từ điển sống về miền Nam" hay là "nhà Nam Bộ học". Ông đã để lại nhiều tác phẩm mà tôi ấn tượng nhất là "Bà Chúa Hòn" và "Hương rừng Cà Mau". Nhớ lời điếu của ông khóc cụ Bùi Giáng: "Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy - Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!. Ông để ý cụ Trương Vĩnh Ký đã dành thời gian sau cùng để viết chuyện cho con nít đọc, “mà viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe” chứ không chỉ là những công trình bác học đồ sộ. Nhớ Sơn Nam là nhớ những trang văn, những mẫu chuyện đời tinh tế thấm đẫm tính nhân văn.

NHỚ SƠN NAM

Đoàn Nam Sinh

Hồi còn nhỏ, thập kỷ sáu mươi về trước, trong làng ấp xa xăm tôi đã được đọc những bài viết của chú trên tờ Hương Quê, giấy báo trắng láng với màu mè, hình vẽ minh họa rất đẹp. Mẩu chuyện mà tôi nhớ đời là bà con xứ Nam kỳ đã lập thế nhử vịt câu sấu như thế nào, với giọng văn giản dị, tưng tửng. Ba tôi, người cũng từng dầu dãi sông nước giải thích chuyện trẻ nhỏ nghịch ý với cha mẹ thì thường bị quở là “đem câu sấu cho rồi”, tụi nhỏ tôi sợ lắm.

Ông cậu vợ tôi sau này, ngày còn nhỏ nhà ngoại khá giả cho đi học trên Nam Vang, chắc có Pri-me rồi về Rạch Giá đi dạy học. Đổi vùng khắp chốn đến sau khởi nghĩa mới biết là đi theo cộng sản từ thời ông Giàu gây dựng đâu bên Xiêm bên Lèo. Cậu làm chủ tịch một xã ở Gò Quao, mà cái bằng “đẹp trai” không giấu được. Ở đâu chị em cũng bu theo. Cậu có lần kể “tao đi công tác với hai cô, mùa nước nổi chun nóp ngủ trên chòi gò, lần quần rồi tao quất cả hai”. Không biết có phải vì đào hoa, lăng nhăng hay sao đó cậu ở lại, không tập kết. Rồi tù tội liên miên. Có lần cậu nói “thằng cha này là Minh Tài, nó viết văn hay lắm, ham đi xuống thực tế, rồi ham viết, chẳng kể gì giờ giấc, chưng dọn. Người hổng biết nói chả ở dơ, lúc 9 năm chả hay về đây, tiếng Tây chỉ có mấy người biết, đủ để nói thầm, chả thân cậu lắm!”. Sau này tôi kể lại với chú cậu Trần Kỳ Ứng dưới Gò Quao hỏi thăm, chú nói chuyện “hồi đó ai cũng yêu nước, đánh Tây đặng giành độc lập. Có mấy người biết chữ đâu. Lớp đó là người theo đạo Thiên chúa cũng vào Đảng, làm lãnh đạo Việt Minh. Khi định biên lại khoảng năm 53, làm theo kiểu mấy anh Tàu nên nhiều người chán nãn…”.

Lớn lên trong thời chiến, lại lo chuyện học hành, chuyện kiếm hiệp/võ hiệp kỳ tình tràn lan rồi phong trào hip-pi, phản chiến đến triết lý hiện sinh hiện tồn,…Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng, đảo chính, tăng quân, leo thang đánh phá,…Làng quê ứng phó bằng tích trữ khô muối, dầu đèn, trảng-sê hầm hào trước bom sai đạn lạc; phố chợ lung lay trước bao cuộc biểu tình, đình công bãi thị, học sinh bãi khóa, chống đàn áp Phật giáo rồi chống hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Nguyễn Khánh bán nước, đả đảo Thiệu-Kỳ-Có,…khiến tụi nhỏ tôi chẳng còn thời gian và lòng dạ nào dòm đến văn học miền Nam nữa.

Sau 68, anh em tan tác người một ngã. Ngọn lửa tàn độc tràn qua thôn ấp ngày một hung tợn, ác liệt. Làn sóng tỵ nạn chiến tranh lan ra, người dân tản cư chạy vào khu dồn, lớp trẻ chúng tôi về Sài Gòn. Mấy năm sau tôi thấy chú trong phong trào chống chế độ kiểm duyệt báo chí của Sở Phối hợp Nghệ thuật, tổ chức biểu tình với khẩu hiệu “Ký giả đi ăn mày”, nhưng mỗi người một việc.

Bẵng đi có chục năm liền, cũng vì mưu sinh chen chúc, tuy không xa nhưng khó dịp hàn huyên. Có lần gặp nhau tôi hỏi nghe chuyện vợ con chú sao đó, chú Sơn Nam buồn buồn
̶ “mình viết văn mà không hay thì ai đọc, làm sao sống? Mà lo chuyện viết lách thì bỏ bê, vợ con mấy người thông cảm”…Tới 97, đợt 300 năm Sài Gòn chú nhờ tôi tiếp mấy chuyện vặt. Lúc này chú thuê nhà ở Phan Văn Trị, một cái buồng dài và hẹp, bốn bề nước đái khai um. Cũng chỉ cái máy Olivetti gõ cọc cạch và bộn bề sách vở xếp chung quanh lan cả lên chiếc giường tám tấc. Gần đến ngày trả tiền nhà chú lúng túng, xốn xang cùng nổi lo trễ nãi bà chủ phiền.

Chú Sơn Nam lúc này đã thấy già, nói chuyện vẫn bông lơn nhưng có phần cam chịu. Có bữa được ít tiền nhuận bút, “chú em chở dùm qua đi gửi cho thằng con, nó khổ lắm”. Lần khác thì “thằng con dưới Mỹ Tho hẹn lên xin mấy trăm về lo chuyện nhà”.

Mấy lần chú xuất hiện trên phim, và khi đi ra quê Bắc tế cụ Nguyễn Hữu Cảnh, với bộ nam phục lụa màu xanh thấy ngồ ngộ, khác xa với “ông già đi bộ” thường ngày, lưng chú đã hơi còng rồi.

Vài năm sau nữa, tôi nhớ bữa đưa tang Bùi Giáng ở Gò Dưa, sau bài ai điếu của Cung Văn là điếu văn của Hội Nhà Văn thành phố. Chú moi ra bài viết sẵn trên túi áo vét xanh nhầu nhỉ, sửa lại đôi kính cũng rầu rĩ như ông chủ và chú run run nói: “Anh Giáng ơi! Sáng nay anh NQS nói với tui anh là lớp trước, lại ở trong này, cũng ít dịp gần gũi. Anh đại diện cho Hội đọc dùm điếu văn này. Dậy đây là phần của Hội nghe anh Giáng…Tui đọc dậy là xong rồi, còn đây là của tui. Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy - Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài Gòn rồi đó nghe anh Giáng!…”.

Có lần hội thảo khoa học về cụ Trương Vĩnh Ký, như những lần hội thảo danh nhân Nam bộ khác, chú đã đọc tham luận. Không phải về những công trình bác học, đồ sộ hoặc luận về công/tội, chú nói đến chuyện sau cùng cụ TVK đã dành thời gian viết chuyện cho con nít đọc, “mà viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe”.

Lúc Bé Tư mới ra cuốn Cánh đồng bất tận, một ông lão nghe chuyện hỏi tôi NQS ủng hộ lắm hả, cháu có không? Tui nghe chú Sơn Nam có bản photo. Mà lúc này ổng về ở dưới Lăng Ông rồi. Chở chú lại thăm giả chút. Hai người lớn nói chuyện văn chương, tôi mãi mê đọc báo. Chỉ nghe thoáng khúc cuối chú Sơn Nam nói “nó muốn đặt tên cho đứa nhỏ là Hiền, Lành gì đó chứ không Thù, Hận,…nghĩ lại không biết tụi mình là con hoang của vụ hiếp dâm nào?” Tôi xin phép hai ông chú ra về trước.

Tự nhiên mấy năm gần cuối đời hai dái tai của chú dày ra, rộng hơn phát đỏ hồng, anh em mừng. Thì cũng có chuyện hợp đồng bán được tác quyền, sách được in lại đẹp đẽ, chú cũng mừng. Nhưng thường bữa, trừ đợt bịnh nặng, chú vẫn đến thư viện Gò Vấp cạnh cầu Hang tìm sách đọc, viết và nhờ mấy cháu đánh máy lại. Rủng rỉnh thì mời mấy cô bé đi ăn trưa, cơm dĩa. Sáng sáng lại ngồi cà phê đen xéo phía kia đường.

Khúc cuối cùng cuộc đời, do có chuyện bình chọn để lãnh giải thưởng gì đó ngoài trung ương mới có chuyện “…Sơn Nam không được, vì nhờ biết tiếng Tây, đọc các bài viết cũ rồi viết lại chứ không có công trình gì…”. Từ hồi chữ quốc ngữ thịnh lên tới giờ, có biết bao nhà văn đọc rồi phóng tác; có bao người đọc để biết mà tránh viết giống người trước? Tôi thì biết rõ là chú Sơn Nam không đạo văn như cái án oan kiểu gây dư luận đó.

Lại rủi cho chú khi đi đường bị xe của bọn trẻ chạy vong mạng làm gãy chân, chú chỉ nói buồn “tụi nhỏ chúc thọ ông già kiểu này ngặt quá!”.

Mới đó mà chú đã đi xa một năm rồi, ngày đưa tang chú tôi từ Gia Lai về, mệt quá ngủ quên, khi anh em nhắc thì đã xong mọi việc. Tiếc và buồn! Thôi, đêm nay tôi nhớ chú, ngồi viết gọn mấy dòng dâu bể.

Bình Dương, 10/08/09
Nguồn : http://www.viet-studies.info/DoanNamSinh_NhoSonNam.htm

SƠN NAM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


Sơn Nam[1] có tên thật là Phạm Minh Tài (nhân viên hộ tịch viết sai thành Phạm Minh Tày) (11 tháng 12 năm 1926 - 13 tháng 08 năm 2008) là một nhà văn, nhà báo, nhà khảo cứu Việt Nam.

Tiểu sử
Sơn Nam sinh tại làng Đông Thái, huyện Gò Guao, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang). Thuở nhỏ ông học tiểu học tại quê nhà Gò Guao, rồi học trung học tại Cần Thơ. Năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong, giành lấy chính quyền ở địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, phòng Chính trị Quân khu, phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Sau Hiệp định Genève 1954, ông về lại Rạch Giá. Năm 1955, ông lên Sài Gòn cộng tác với các báo: Nhân loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống... Năm 1960-1961, bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở nhà lao Phú Lợi (Thủ Dầu Một, Bình Dương)[2]. Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu về Nam Bộ. Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn, ông được nhiều người gọi yêu là "ông già Nam Bộ", "ông già Ba Tri", “ông già đi bộ’, "pho từ điển sống về miền Nam" hay là "nhà Nam Bộ học".

Những tác phẩm chính
Chuyện xưa tình cũ (1958)
Tìm hiểu đất Hậu Giang (nghiên cứu, 1959)
Hương rừng Cà Mau (1962)
Chim quyên xuống đất (1963)
Hình bóng cũ (1964)
Vạch một chân trời (1968)
Gốc cây - Cục đá & Ngôi sao (1969)
Lịch sử khẩn hoang miền Nam
Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam
Danh thắng Miền Nam
Theo chân người tình & một mảnh tình riêng
Từ U Minh đến Cần Thơ – Ở chiến khu 9 – 20 năm giữa lòng đô thị – Bình An
Tìm hiểu đất Hậu Giang & lịch sử đất An Giang
Xóm Bàu Láng
Bà chúa Hòn

Ghi nhận công lao

Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc tuýt. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp không biết bao nhiêu, đẹp cái vẻ đẹp của lọ sứ Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây (có khác lọ hoa Ý Đại Lợi ngày nay), và ít được người đời thưởng thức hơn là họ đã thưởng thức một tiểu thuyết gia chuyên viết về chuyện tình chẳng hạn. Nhưng phải nhìn nhận rằng, cái đẹp Sơn Nam bất hủ...”

“Không chỉ cống hiến trong văn chương, ông (Sơn Nam) còn được xem là người có công khai phá, khảo cứu và sưu tầm văn hóa mảnh đất Nam Bộ. Vì vậy, không phải hiển nhiên mà người ta trân trọng gọi ông là "nhà Nam Bộ học" hay ông già Ba Tri...”

“Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị miền Nam nhưng tác phẩm vẫn được in liền mạch sau giải phóng, điều đó không phải dễ. Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua. Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả là rất cao tay. Có lần người viết bài này hỏi vậy, Sơn Nam cười nhẹ, cũng chẳng giỏi giang gì đâu mà tôi chủ yếu viết về phong tục, về lịch sử khai khẩn đất đai Nam Bộ, và nếu là truyện thì đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghiệp sáng tác, những trang viết của ông không đơn thuần là sự giải trí cho độc giả mà còn là những khảo cứu, khám phá về mảnh đất phương Nam. Là người Nam Bộ chính gốc nên nhà văn Sơn Nam là người am hiểu quá trình hình thành dải đất này. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn giản dị, mộc mạc...”

Tham khảo
^ Bút danh Sơn Nam của ông là để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu (Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam). Theo [1]
^ Theo Hỏi đáp về Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb trẻ, 2006, tr. 63.
^ Tạp văn Gốc cây, Cục đá & Ngôi sao. Nhà văn Sơn Nam qua đời, VnExpress.
^ Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam, Lê Phương, Dân Trí.
^ Sơn Nam - Người của nhiều thời, Vannghesongcuulong.org.vn.

Liên kết ngoài
Hồi ký Sơn Nam
Sơn Nam trên web Văn nghệ sông Cửu Long.
Sơn Nam - nhà văn, nhà khảo cứu văn hóa trên web báo Nhân dân.
Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam trên web báo Thanh Niên.
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê trên web báo Tuổi trẻ.
[2] Blogspot của nhà văn Sơn Nam.


Được đăng bởi Hoang Kim

Việt Nam mở cửa giao lưu với mọi dân tộc trên thế giới

HOCMOINGAY. Trang tin http://niemtin.free.fr/vnthegioi.htm  đã điểm tin tổng hợp "Việt Nam mở cửa giao lưu với mọi dân tộc trên thế giới ", tập hợp những bản đồ thế giới và châu lục, các bản tin về những tổ chức quốc tế và các nước Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ý, Nga, Brazil, Tây Ban Nha, Canada, Ấn Độ, Úc, Hàn Quốc, Hà Lan, Bỉ, Thụy Điển,  Đài Loan, Na Uy, Thụy Sỹ, Ai Len, Đan Mạch, Phần Lan, Mã Lai, Singapo, Do Thái, Tân Tây Lan. Nhiều tin là bổ ích và lý thú (xem tiếp)

13 tháng 1, 2010

Năm nhược điểm khi tạo website giáo dục Việt Nam



HOCMOINGAY. Làn sóng ứng dụng công nghệ thông tin để tạo website giáo dục Việt Nam nhằm hỗ trợ mạnh mẽ, đắc lực cho dạy và học đang bùng phát mạnh mẽ tại khối giáo dục phổ thông, ở các thầy cô giáo độ tuổi  27- 45,  tâm huyết với nghề, năng lực chuyên môn tốt, muốn nâng cao kỹ năng dạy học qua việc tạo website cá nhân để chia sẻ kinh nghiệm và tư liệu giáo dục. Năm nhược điểm của họ khi tạo website là: Chưa nhận định rõ trình độ và chưa xác định đúng đối tượng; chưa chuẩn bị tốt các tài liệu phục vụ công tác giảng dạy; website mắc nhiều lỗi thiết kế; thiếu tương tác; thiếu cập nhật. Thạc sỹ Trương Tinh Hà, giám đốc điều hành website giaovien.net đã nhận định như vậy. 


Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục tại VN đã có nhiều tiến bộ trong vài năm qua. Các giáo viên phổ thông đã dần quen với “làn sóng thứ nhất”: trào lưu sử dụng chương trình PowerPoint để tạo các bài thuyết trình để giảng dạy, thực hiện tiết dạy mẫu, thi giáo viên giỏi…


TTO - Giờ đây, cộng đồng giáo viên đang bắt đầu tham gia vào “làn sóng thứ hai”: tạo website hoặc blog để phục vụ cho công tác giảng dạy của mình. Từ đây, nhiều bất cập của các website, blog do các giáo viên tạo ra dần thể hiện rõ.

1 - Chưa nhận định rõ trình độ và chưa xác định đúng đối tượng

Qua kinh nghiệm làm việc, chúng tôi nhận thấy nhiều giáo viên rất tâm huyết với nghề và rất mong muốn có một website để chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, các tư liệu giáo dục và cả… thể hiện bản thân mình. Chính vì sự hăng hái đó, họ thường ngộ nhận hay bỏ qua nhiều yếu tố quan trọng về bản thân mình và về đối tượng thăm viếng website.

Có giáo viên mới lần đầu thực hiện được một website cho mình (nhờ vào các công cụ có sẵn) và chưa có hiểu biết nhất định về ngôn ngữ web, nhưng đã mạnh dạn đứng ra nhận làm… dịch vụ thiết kế website, quảng cáo các khóa dạy thêm, dạy học trực tuyến và yêu cầu người xem đóng phí. Bất kỳ người nào từng làm việc trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ thiết kế website hoặc các khóa học trực tuyến đều hiểu rõ các vấn đề về kỹ thuật, cơ sở hạ tầng mà mình cần đáp ứng, và không dễ gì một cá nhân với trình độ sơ khởi ban đầu có thể thực hiện thành công.

Và cũng chính vì chưa xác định rõ đối tượng viếng thăm website, nên một số giáo viên thường xây dựng các website với mọi chủ đề: môn học mình giảng dạy, tin tức trên các báo, các video clip dạy nấu ăn, dạy thắt cravat, các đoạn video clip bóng đá, các bài viết tâm sự về tình cảm, giới tính… Những website này làm người viếng thăm thật sự bối rối vì họ không rõ nội dung website và người thực hiện muốn hướng đến điều gì. Anh ta đang dạy môn học X, Y dành cho học sinh của mình hay anh ta đang làm một blog để bàn mọi chuyện trên trời dưới đất?

2. Chưa chuẩn bị tốt các tài liệu phục vụ công tác giảng dạy

Để xây dựng một website giáo dục hỗ trợ đắc lực cho công tác giảng dạy, giáo viên cần nắm rõ môn học mình giảng dạy, hiểu được những vấn đề nào thường gây khó khăn cho người học. Tập trung đưa thêm nhiều tài liệu học tập giải thích cho vấn đề, hiện tượng mà mình không có thời gian giảng nhiều trên lớp.

Đồng thời cũng nên xây dựng các bài giảng, tài nguyên giáo dục theo sát chương trình mình đang dạy và có thêm các liên kết dẫn đến các trang web bên ngoài có cung cấp thêm thông tin về đề tài đó.

Làm được những công việc trên, giáo viên sẽ thể hiện được sự am hiểu chuyên môn của mình, đem lại những cơ hội học tập thêm cho các em học sinh và là nguồn tham khảo thêm cho các đồng nghiệp.

Chúng tôi từng thấy những trang web và blog do giáo viên xây dựng mà nội dung thì phần “vui chơi giải trí” nhiều hơn phần “học hành nghiêm túc”.

3 - Website mắc nhiều lỗi thiết kế

Do mong muốn website của mình độc đáo và đẹp, nhiều giáo viên sẵn sàng làm một banner có dung lượng vài trăm KB, hình nền của web quá nhiều chi tiết và hoa văn làm nội dung bên trên không thể đọc được một cách rõ ràng. Một chuyên viên thiết kế web biết rõ một banner nên có dung lượng tối đa khoảng 50KB hoặc phải cắt nhỏ đối tượng đồ họa khi có dung lượng lớn hơn.

Cách tốt nhất để trang bị cho mình vài kiến thức căn bản về web là hãy dạo một vòng quanh các website chuyên về thiết kế.

Khi dung lượng hình quá lớn, chúng ta đang bắt người học trả tiền truy cập web cho “xu hướng thẩm mỹ” của chúng ta.

4 - Thiếu tương tác

Quá trình học là một quá trình tương tác, dù đó là học trực tiếp mặt đối mặt hay học thông qua mạng. Tuy nhiên, nhiều giáo viên đã quên điều này. Website thiết kế ra thường chỉ chú ý chiều từ người dạy đến người học, mà thiếu chiều ngược lại. Do đó, thầy cô cần thêm các mục liên hệ, viết lời bình, chat trực tiếp… cho website của mình.

5 - Thiếu cập nhật

Khi sự háo hức ban đầu vơi đi, nhiều giáo viên cũng không còn thiết tha gì chuyện cập nhật cho website của mình. Mặc dù trên website của họ, tài liệu học tập vẫn còn chưa đủ phục vụ cho công việc và người học. Sự trì trệ này xuất phát từ tâm lý: “Mình dạy học sinh trên lớp mà, có cần gì cái website đâu!”.

Quả thật, chúng ta vẫn dạy học sinh chủ yếu qua những giờ trên lớp, nhưng chính website giáo dục do mình xây dựng sẽ là cánh tay nối dài cho việc dạy và học. Dạy học không còn bị bó gọn trong bốn bức tường khô cứng. Và nhiều học sinh, nhiều đối tượng ở nhiều vùng miền khác sẽ có cơ hội tiếp cận những bài giảng của mình. Đó chính là cánh cửa để việc học trở thành “học tập suốt đời” đúng theo tiêu chí của UNESCO và yêu cầu của thời đại thông tin ngày nay.

Vượt qua được nhược điểm trên, các website do các giáo viên xây dựng chắc chắn trở thành các “trung tâm học tập”, các “trợ tá giảng dạy” cho việc dạy của người thầy và việc học của học trò. Hơn nữa, rào cản địa lý sẽ không còn là trở ngại cho nhiều em học sinh nghèo nhưng hiếu học trên đất nước ta.

ThS TRƯƠNG TINH HÀ
(Giám đốc điều hành website giaovien.net)

Nguồn: http://nhipsongso.tuoitre.com.vn/Index.aspx?ArticleID=319474&ChannelID=16

1 tháng 1, 2010

Mùa xuân đến với những tấm lòng



HOCMOINGAY. Thầy Nguyễn Văn Luật và bạn CapheNet chuyển cho tôi bài viết về GS Chu Hảo và GS Tôn Thất Trình. Tôi thật cảm phục trước tâm nguyện của những người Thầy lớn tuổi vẫn đau đáu chăm lo cho GIÁO DỤC, KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ. GS. Tôn Thất Trình thường lưu ý những thông tin mới khoa học công nghệ. GS. Chu Hảo nói : "Trong ba loại người tài giỏi mà xã hội ta cần hiện nay là: 1) Những người lãnh đạo ở các cấp Đảng và chính quyền. Thiếu những nhà lãnh đạo tài ba thì mọi hoạt động khác của xã hội sẽ kém hiệu quả. Ước mong sao ở tất cả các cấp này phải là những người có tầm, có tâm và hết sức chuyên nghiệp. 2) Các nhà doanh nghiệp tầm cỡ. 3) Các nhà khoa học giỏi. Tôi đã cố tình xếp các nhà doanh nghiệp lên trước các bạn đồng nghiệp khoa học và công nghệ ... Đơn giản là bởi vì ngày nay "sức kéo" của thị trường vẫn mạnh hơn "sức đẩy" của khoa học - công nghệ. Ước mong sao cho đất nước ta sớm có một tầng lớp doanh nhân tài ba và giàu lòng yêu nước như các nhà tư sản dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945."



BẮNG CẤP KHÔNG PHẢI LÀ THƯỚC ĐO NGƯỜI TRÍ THỨC

Chu Hảo

TuanVietnam.Net: Giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức Chu Hảo học phổ thông ở Trung Quốc, học đại học và làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô cũ. Sau đó ông tiếp tục nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học ở Pháp. Con đường quan chức của ông cũng dài không kém con đường học tập nghiên cứu: từng đảm nhiệm các vị trí Viện trưởng Viện Công nghệ Vi điện tử (Viện nghiên cứu Công nghệ Quốc gia), Chánh văn phòng Chương trình quốc gia phát triển công nghệ thông tin, Thứ trưởng thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ, rồi Trưởng ban Quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Đến lúc đã có thể nghỉ ngơi, ông lại tiếp tục chọn cho mình con đường mới nhiều thử thách: thành lập NXB Tri Thức với tôn chỉ là góp phần phổ biến những kiến thức tinh hoa của thế giới tại nước nhà. Người từng dành nhiều công sức để đưa Internet vào Việt Nam này lại một lần nữa mong mỏi nguồn tri thức mới mà mình góp phần mang về sẽ đúc nên những viên gạch đầu tiên cho nền kinh tế tri thức của đất nước. Tháng 9/2009 cũng là kỷ niệm bốn năm ngày thành lập NXB và nhân dịp họp mặt cộng tác viên tại TP. Hồ Chí Minh, ông đã dành cho chúng tôi một cuộc trò chuyện cởi mở.



- Được biết thời gian gần đây và sắp tới, NXB Tri Thức có nhiều hoạt động văn hóa như tổ chức kỷ niệm và in kỷ yếu về các danh nhân thế giới; phối hợp tổ chức những hoạt động tọa đàm; thảo luận các chủ đề về thói quen đọc sách, giáo dục, kinh tế; nói chuyện với sinh viên các trường đại học... Xem ra hoạt động của NXB Tri Thức không chỉ là tổ chức dịch và xuất bản sách?

Trong số những việc bạn vừa kể, có nhiều việc lẽ ra thuộc trách nhiệm tổ chức của Nhà nước, nhưng do không thấy ai làm nên chúng tôi xin tự nguyện làm thôi. Năm 2009 đã được Liên Hiệp Quốc tuyên bố là "Năm Vũ trụ học", kỷ niệm 400 năm nhà bác học Galileo Galilei người Ý phát minh ra kính viễn vọng, cũng là kỷ niệm 200 năm sinh nhà khoa học Charles Darwin người Anh. Các nước trên thế giới có nhiều hoạt động để tưởng nhớ hai danh nhân đã có đóng góp rất lớn cho loài người này, còn tại Việt Nam cho đến nay các cơ quan hữu quan hầu như chưa hề nhắc tới.

Chúng tôi cũng đã từng làm như vậy đối với 100 năm Đông Kinh nghĩa thục (2007), 100 năm Khai sáng Thuyết Lượng tử (2008); và đang chuẩn bị làm cuốn Lev Tolstoi nhà Văn hóa và Tư tưởng để cùng thế giới kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông (2010). Cho đến nay, các cơ quan chức năng của Nhà nước vẫn chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của những hoạt động văn hóa như thế. Tổ chức kỷ niệm, in kỷ yếu về các danh nhân là việc làm thiết thực để truyền bá tri thức và nuôi dưỡng tình yêu đối với nghiên cứu khoa học và tôn vinh các giá trị văn hóa.

Đối với chúng tôi, ngay cả dịch sách cũng không đơn thuần là công việc kỹ thuật mà đó là hoạt động văn hóa. Dịch thuật góp phần rất lớn trong việc làm nên tính đa dạng văn hóa của xã hội tri thức. Đặc biệt, việc dịch những sách có hàm lượng tri thức cao sẽ tạo ra những thuật ngữ mới, mang về nhiều khái niệm mới. Nhờ đó, ngôn ngữ và vốn văn hóa nước nhà được làm giàu thêm đáng kể. Dịch giả ngoài việc nắm vững ngoại ngữ phải tinh thông ngôn ngữ Việt, phải có kiến thức văn hóa sâu rộng.

- Nhưng cũng vì mang về những khái niệm quá mới đó mà thời gian gần đây, một số sách của NXB Tri Thức bị xem là "có vấn đề"?

Bất cứ nhà xuất bản nào xuất bản những sách giới thiệu tri thức cổ kim nước ngoài đều dễ bị xem là "có vấn đề" chứ không riêng NXB Tri Thức. Sách của NXB Tri Thức (kể cả sách liên kết) phần lớn là dịch từ tác phẩm nước ngoài nên có những chỗ quan điểm của các tác giả không phù hợp với quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tôi tin là trong quá trình phát huy dân chủ theo đường lối của Đảng, cùng với quá trình đổi mới thì phạm vi của "vùng nhạy cảm" đã và sẽ ngày càng được thu hẹp.

Trước đây, cũng nhờ những nguồn tham khảo kiến thức và lắng nghe, mà Đảng đã đi đầu trong việc thay đổi tư duy, quyết định chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hay cho đảng viên làm kinh tế tư nhân... Ngoài ra, muốn hội nhập quốc tế thì phải biết thế giới quanh ta nghĩ gì và phải chấp nhận sự đa dạng văn hóa. Hơn nữa, những sách chúng tôi chọn đều là những kiến thức tinh hoa nhân loại, không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn cần thiết cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước trong tương lai. Chừng nào xã hội còn tồn tại, những sách này sẽ vẫn còn hữu ích.

- Ông thường dẫn lời của Karl Marx rằng trí thức là người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến về những vấn đề trong xã hội. Vậy theo ông, thế nào gọi là đủ tri thức và làm thế nào có đủ tri thức để có chính kiến về những vấn đề trong xã hội?

Tùy từng giai đoạn lịch sử, xã hội càng phát triển, càng phức tạp thì đòi hỏi trình độ của trí thức càng phải cao hơn. Trước 1945, một thầy giáo tiểu học trường làng đã có thể được coi là trí thức vì đã đủ trình độ để hiểu biết và có thể thảo luận về những vấn đề xã hội thời đó. Bây giờ một người tốt nghiệp đại học, thậm chí thạc sĩ, tiến sĩ cũng chỉ là người lao động trí óc nếu không có nhận thức đúng đắn về thời cuộc. Bằng cấp không phải là thước đo người trí thức.

Trong một nền giáo dục tốt, một người học hết chương trình giáo dục phổ thông tiên tiến (chứ không phải như của ta hiện nay!) cũng có thể trở thành trí thức nếu có sự quan tâm và luôn tự đặt ra những câu hỏi về các vấn đề xã hội. Rồi đi tìm câu trả lời qua sách vở kết hợp với chiêm nghiệm thực tế để có thể phản biện và phân tích một cách khoa học và trung thực những bất cập trên tinh thần xây dựng và thiện chí, có sức thuyết phục.

Cao hơn nữa là đề xuất được phương án khắc phục vấn đề. Chẳng hạn, đến năm 1945 một số trí thức nước ta như GS Nguyễn Văn Chiển (mới từ trần tháng trước) vừa học xong bậc đại học, GS Hoàng Tụy mới hết tú tài, còn nhà văn Nguyên Ngọc thì chưa hết tú tài... Sau đấy, họ hoàn toàn tự học, tự trau dồi tri thức và nhân cách của mình, với cái nền vững chắc có được từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường, họ trở thành những trí thức có rất nhiều đóng góp giá trị cho đất nước.

- Vậy theo ông, đâu là tiêu chuẩn đánh giá trí thức?

Tiêu chuẩn đánh giá người trí thức không phải là trình độ chuyên môn mà là tầm nhìn của người đó có vượt lên hẳn tầm nhìn chung của quần chúng hay không. Dựa trên tiêu chí đó, theo tôi nước ta chỉ có một số cá nhân trí thức chứ chưa có tầng lớp trí thức với lý tưởng, quan niệm riêng và có sự tranh luận, thảo luận một cách công khai, thẳng thắn và dân chủ.

Những năm gần đây, một nhóm trí thức Nga đã có những nghiên cứu, thảo luận rộng rãi và nghiêm túc về thực trạng giới trí thức nước này trong gần một thế kỷ qua (xin xem quyển Về trí thức Nga NXB Tri Thức 2009). Họ đã đi đến kết luận rằng tầng lớp trí thức Xô viết thực chất chỉ là những người lao động trí óc chứ chưa phải là tầng lớp trí thức theo đúng nghĩa là có tầm nhìn và hiểu biết xã hội vượt trội. Chúng ta học hỏi Liên Xô cũ rất nhiều về các mô hình giáo dục - đào tạo và tôi cảm thấy tầng lớp "có học" của nước ta có nhiều điểm, nhiều vấn đề rất giống họ.

Tuy nhiên, để biết tầng lớp có học của Việt Nam có trình độ nhận thức, có tầm nhìn và hiểu biết xã hội ở mức nào thì phải cần những nghiên cứu cụ thể. Liên Xô đã làm việc này, Trung Quốc cũng bắt đầu làm còn ở Việt Nam thì vẫn chưa.

- Làm thế nào để hình thành tầng lớp trí thức theo tiêu chí vừa nói, thưa ông?

Trong một xã hội bình thường, tầng lớp trí thức được hình thành theo quy luật chọn lọc tự nhiên. Trong xã hội, ngoài số đông học để làm giàu, học để làm quan, vẫn thường có một tỷ lệ người nhất định có sự ham học hỏi và coi việc học để nâng cao nhận thức là niềm vui tự thân. Ngoài cơ chế và tính dân chủ để trí thức có môi trường thảo luận như đã nói ở trên, điều quan trọng là cần có nền giáo dục lành mạnh để một người học hết phổ thông là đã có thể tự đọc sách, tự nghiên cứu để trau dồi kiến thức.

Nền giáo dục ở các nước tiên tiến dạy cho học sinh thói quen đọc sách và thảo luận về sách. Ở cấp phổ thông, học sinh đã biết phần nào những kiến thức nhập môn để lên đại học sẽ nghiên cứu sâu. Còn ở nước ta, nhiều học sinh giỏi khi thi đậu đại học rồi mà vẫn chưa hề nghe đến các sách nhập môn của chính ngành mình sẽ học ở đại học.

- Theo ông thì phẩm chất và trình độ của tầng lớp trí thức có vai trò thế nào trong việc tạo nên số phận của một đất nước?

Chắc chắn là có vai trò rất lớn. Có thể làm một ví dụ so sánh: cách đây hơn một trăm năm, trước sự phát triển mạnh mẽ của phương Tây, nước Nhật thời Minh Trị đã thực hiện canh tân, nỗ lực tiếp nhận những kiến thức tinh hoa của thế giới tạo nên một tầng lớp trí thức có tiếng nói và có tầm nhìn bao quát được thời cuộc, đưa nước Nhật trở thành quốc gia hùng mạnh ở châu Á.

Sau năm 1945, Nhật Bản có thể vươn lên một cách thần kỳ từ đống tro tàn là nhờ xã hội vẫn giữ được tầng lớp trí thức có tầm nhìn xa và tâm huyết, đưa ra những chiến lược phục hồi để hơn 30 năm sau đất nước họ trở thành cường quốc. Tại Trung Quốc thế kỷ XIX, vì đóng cửa với thế giới nên việc truyền bá tri thức diễn ra sau Nhật 50 năm và không tạo được tầng lớp trí thức đủ mạnh để tồn tại qua những biến động thời cuộc.

Đó cũng là lý do xã hội Trung Quốc giai đoạn tiếp theo xảy ra nhiều bi kịch như cách mạng văn hóa và kinh tế kém phát triển hơn Nhật Bản nhiều. Tầng lớp trí thức là bộ phận nhận thức, là bộ não của cơ thể xã hội. Não trạng ù lỳ thì mắc sai lầm dẫn đến bi kịch là chuyện dễ xảy ra.

Đã có nhiều bài học cho thấy để đưa đất nước ra khỏi khó khăn, tầng lớp trí thức phải có tầm nhìn xa và tính quyết đoán cao. Ông Asher, Chủ tịch Degem - Tập đoàn điện tử hàng đầu của Israel đã kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện thực tế: Gần 60 năm trước, khi Nhà nước Israel mới được thành lập, những người Do Thái lưu lạc khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng đất nước riêng của mình.

Một hôm, Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Israel, sau khi tham khảo ý kiến của những người bạn trí thức đã xin được gặp ngay Thủ tướng để trình bày đề án xây dựng 10 trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Israel, với lý do: Nhà nước Do Thái lúc bấy giờ (năm l950) chỉ có người đi buôn chứ không có người làm kỹ thuật và nhà nước ấy sẽ lại tiêu vong nếu không có khoa học - kỹ thuật.

Thủ tướng Israel lúc đó là một người có tầm nhìn xa và dám quyết. Ngay trên bàn ăn sáng hôm ấy với Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông đã quyết định xây dựng năm trường đại học kỹ thuật đầu tiên của Israel (vì chỉ đủ kinh phí xây dựng năm trường). Ngày nay, Israel đã có nền khoa học kỹ thuật rất phát triển, thu nhập bình quân hơn 33 ngàn USD/đầu người.

- Từng đảm trách cương vị Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ông băn khoăn điều gì nhất trong nền khoa học nước nhà?

Đó là nghiên cứu khoa học tại nước ta hiện nay chưa được chú ý đúng mức. Hẳn chúng ta còn nhớ việc ra quyết định sai lầm trong cơn bão Chanchu năm 2008, và cũng có thể là như vậy đối với cơn bão mới vừa đây đã dẫn đến tác hại nghiêm trọng như thế nào. Đây chắc chắn là hậu quả của sự thiếu được đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản về khoa học khí quyển.

Chẳng những khoa học khí quyển, mà còn nhiều bộ môn khoa học cơ bản khác của nước ta cũng không được chú trọng đúng mức. Về việc này, các nhà khoa học, có uy tín ở trong và ngoài nước đã nhiều lần cảnh báo, nhưng cũng ít được lắng nghe... Tôi e rằng đất nước sẽ còn phải trả giá đắt trong nhiều năm nữa!

Trên thực tế, chỉ những nghiên cứu ứng dụng vụn vặt, nhưng có hiệu quả tính được ra bằng tiền là đang được khuyến khích, còn những nghiên cứu cơ bản thì từ lâu đã dần dần bị bỏ rơi.

Thái độ nhấn mạnh kỹ thuật (công nghệ), coi nhẹ khoa học (đặc biệt là các nghiên cứu cơ bản) là tình trạng phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển. Tâm lý sốt ruột muốn nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, cùng với nguồn lực eo hẹp và sự thúc bách của cơ chế thị trường đã làm cho các nhà hoạch định chính sách phát triển ở những nước này dễ có khuynh hướng ưu tiên cho những đầu tư sớm có hiệu quả theo kiểu "mì ăn liền".

Đầu tư cho công nghệ dễ thấy hiệu quả hơn là đầu tư cho khoa học nhưng nếu không có một trình độ khoa học vững vàng thì không thể phát triển công nghệ một cách có hiệu quả bền vững. Nước ta còn nghèo thì phải cân nhắc thật kỹ tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu khoa học và cho phát triển công nghệ để vừa dần dần xây dựng tiềm lực khoa học mạnh mẽ, vừa tiến hành đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả. Gần đây tôi vui mừng nhận thấy Bộ Khoa học và Công nghệ đã quan tâm hơn nhiều đến khu vực nghiên cứu khoa học cơ bản.

Một điều đáng buồn khác là Việt Nam với gần 90 triệu dân mà chưa có một tạp chí phổ biến khoa học nào kiểu như La recherche (Pháp), New scientist (Mỹ) v.v... Các cơ quan nghiên cứu và các đại học của Nhà nước không quan tâm và không cấp kinh phí đã đành, khi chúng tôi đề nghị được liên doanh với Tập đoàn IDG của Mỹ để xuất bản một tạp chí như vậy thì lại không được vì luật không cho phép liên doanh với nước ngoài để xuất bản báo chí. Trong khi tại Trung Quốc, có đến 30 đầu báo khoa học liên doanh với IDG đã ra đời.

- Vậy muốn thay đổi thực trạng này chúng ta nên bắt đầu từ đâu, thưa ông?

Từ giáo dục và đào tạo! Ngày nay, không nền kinh tế nào có thể phát triển bền vững nếu không dựa vào khoa học và công nghệ của chính mình. Khi khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đúng như lời tiên đoán của Karl Marx từ giữa thế kỷ XIX thì bản thân các nhà khoa học - công nghệ, trong một số lĩnh vực, cũng đồng thời là nhà sản xuất.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tiềm năng khoa học và công nghệ bao giờ cũng là chỗ dựa vững chắc của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn lại lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy sự xuất hiện và suy vong của các nền văn minh thường gắn liền với khả năng nắm bắt hoặc bỏ lỡ cơ hội đối với các kỹ thuật mới. Ở thời đại ngày nay, điều ấy càng đúng. Khi thông tin và tri thức là tài nguyên quan trọng nhất thì tài nguyên con người với tiềm năng trí tuệ cao là quý giá nhất. Đó là ai?

Trước hết, đó là các nhà khoa học - công nghệ giỏi. Muốn có các nhà khoa học - công nghệ giỏi thì ưu tiên hàng đầu là phải tập trung mọi nỗ lực để xây dựng một nền giáo dục quốc dân lành mạnh và hiệu quả. Không có một nền khoa học và công nghệ nào có thể phát triển được trên cơ sở một nền giáo dục như của nước ta hiện nay.

- Là người chủ trì tổ chức Hội thảo hè 2008, một hội thảo để giới trí thức trong và ngoài nước có cơ hội gặp gỡ, thảo luận về những vấn đề của đất nước, theo ông, trí thức Việt Nam trong và ngoài nước có tầm nhìn và trình độ như thế nào? Có đủ sức giúp đất nước giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay?

Số lượng trí thức trong và ngoài nước trên tổng số dân nước ta còn ít so với các nước khác, nhưng tầm nhìn và trình độ của nhiều người trong số ít ỏi đó có lẽ cũng không thua kém. Vấn đề là cơ chế dường như chưa đủ để cho người trí thức phát huy hết năng lực của họ. Tôi tin chúng ta đủ khả năng giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết hiện nay nếu biết tổ chức, quản lý và quan trọng hơn là cần tạo điều kiện bình đẳng cho mọi tiềm năng được giải phóng.

- Một câu hỏi cuối, ông nghĩ gì về doanh nhân Việt Nam?

Tôi ngưỡng mộ sự năng động và ý chí làm giàu một cách chân chính của đại đa số trong số họ.

Trong ba loại người tài giỏi mà xã hội ta cần hiện nay là: 1) Những người lãnh đạo ở các cấp Đảng và chính quyền. Thiếu những nhà lãnh đạo tài ba thì mọi hoạt động khác của xã hội sẽ kém hiệu quả. Ước mong sao ở tất cả các cấp này phải là những người có tầm, có tâm và hết sức chuyên nghiệp. 2) Các nhà doanh nghiệp tầm cỡ. 3) Các nhà khoa học giỏi.

Tôi đã cố tình xếp các nhà doanh nghiệp lên trước các bạn đồng nghiệp khoa học và công nghệ của mình mà không lo không được sự đồng tình của họ. Đơn giản là bởi vì ngày nay "sức kéo" của thị trường vẫn mạnh hơn "sức đẩy" của khoa học - công nghệ. Ước mong sao cho đất nước ta sớm có một tầng lớp doanh nhân tài ba và giàu lòng yêu nước như các nhà tư sản dân tộc trước Cách mạng tháng 8 năm 1945.

- Xin cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện thú vị này.

Theo Cẩm Tú (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)


Nguồn Tuanvietnam.net



MỘT SỐ TIẾN BỘ KỸ THUẬT ĐÁNG CHÚ Ý NĂM 2009

G S  Tôn Thất Trình 

 Sau đây là một số tiến bộ năm 2009, trích dẫn từ tạp chi Khoa học Phổ thông- Popular Science  Hoa Kỳ , số tháng giêng 2010.
           
1. VƯỜN XANH CHO NHÀ CAO TẦNG    

Chúng tôi đã đề cập đến nông nghiệp thẳng đứng ở  tạp chí bán niên san Định Hướng và tin tức Việt Nam  cho biết đã thử nghiệm ở Hà Nội vườn “rau mầm , giá “ trên nóc nhà cao ốc  , sau khi cũng trình bay vĩa hè , khoảng giữa xa lộ vườn rau đô thị, theo khái niệm chúng tôi đề cập ở bài phát triễn tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu tháng 4 năm 2009 cũng đà đăng ở Định Hướng 2009.  Sau đây là dự án của kiến trúc sư John B. Carnett,  dự liệu một mái nhà xanh ở thị trấn Greenwich, bang New York, sử dụng những kỷ thuật xanh mới nhất thủ hiện một gia cư  bốn phòng ngủ, rộng 3500 bộ vuông ( chừng 325m2 ) , một bộ vuông xây cất gíá 15.50 đô la Mỹ , thời gian  xây dựng nhà chỉ cần sáu ngày là xong. Hậu tạo nên một sinh thái đời sống hoang dã, hút dẫn CO2 , cô lập mái nhà.  Thực vật trồng ở trên mái nhà này theo tác giả  không những ngoạn mục  mà còn bảo vệ gia cư  chống lại những nhiệt độ thái cực, hấp thu carbon dioxiode  và giúp  cho mái nhà  tồn tại ba lần lâu hơn. 

Trước tiên phải biết đất đổ trên mái  rất nặng và  cân nặng hơn nữa khi thấm nước. Trước khi đổ đất, ông phải hỏi một kỷ sư  hình dung sức nặng tối đa mái có thể  chịu đựng. Tiêu chuẩn mái xanh là  bề dày chừng  4 ngón Anh đất ( 11cm ), cân nặng 38- 51 cân Anh  ( 18- 25 kg ) cho một bộ Anh  vuông vức ( 929 cm2  ). Đất càng sâu càng có nhiều lựa chọn loại cây trồng; nhưng 10cm đất là đủ sâu cho nhiều loài hoa  và rau cỏ.

Bước kế tiếp  là sửa soạn cho mái  thoát thủy tốt đẹp  và không thấm nước. Trước tiên, đặt một lớp mỏng vót nhọn vật cách ly để dẫn  nước quá thừa thải  vào một thùng chứa dưới đất. Trên đó  trải một lớp trang trí pan nen dính vào mái, bằng chất dính nổi bọt. Những pan nen này cụng cấp một bề mặt cứng cho  mái vườn và không cho rễ cây  đúng đến mái. Lớp cuối cùng là cao su đặc biệt, không hư hỏng vì thời tiết.

Một khi mái đã hoàn toàn được bảo vệ thì mới thêm đất vào . Vài người đổ đất đầy  cả mái, nhưng Carnett thì đổ đất vào một hàng khay. Khay công tên nơ rất dễ xếp đặt và dễ lấy đi khi cần sửa chửa mái nhà. Rất nhiều công ty cung cấp khay đã chúa đầy đất  nhẹ cân, đặc biệt  làm ra cho  mái nhà xanh và cây cối đã trưởng thành. tuy chúng rất tiện lợi nhưng giá  đắt, đến 20 đô la Mỹ một bộ Anh vuông. Nhờ mua khay và đất bán theo đống và tự đổ đất vào khay, Carnett  đã hạ phí tốn xuống chỉ còn 5.50 đô la Mỹ một bộ Anh vuông.

Từ trên xuống dưới, bên trong mái nhà xanh  có những gì ?  :
Đất:  10 cm đất nhẹ là đủ để trồng nhiều loại cỏ và hoa hoang dại rồi .
Cao Su:  những tấm polymer nhiệt, tên gọi là TPO , bảo vệ  chống lại nhiệt độ thái cực  và UV phá hại .
Các bảng  mái - roof board:  những thảm sợi gương - fiber glass  tạo ra một  bề mặt  cứng  trang trị. Chúng cũng giữ cho mái khỏi bị mốc meo - mold  và rễ đâm lũng.      
 Chất dính:  bọt nổi làm dính bảo đảm từ các bảng  mái  đến  các pannen cách ly dưới bảng
Cách ly vót nhọn: để vườn cao ốc là một  pan nen mái nhà, dày 28 cm,  đặt thành một lớp  độ dốc nhẹ giúp thoát tháo nước thặng dư.
Pan nen mái nhà: nền vườn cao ốc là một pan nen mái nhà, dày 28cm, làm bắng polystyrene  nới rộng tái sinh, có thể chịu đựng đến 32 kg cho một bộ Anh vuông.

2. THUỐC TÂY TƯƠNG THÍCH GIÁ RẼ HƠN

Chúng tôi đã đề cập đến việc chế tạo thuốc tây tương thích chung - generics ở bài tháng tư năm 2008 . Việc chấm dứt  thời hạn môn bài - patents trên vài loại thuốc tây lớn nhất có nghĩa là  ngày nay sẽ có thuốc thay thế tương đương  tương thích chung rẽ tiền hơn nhiều , nhưng đồng thời cũng có thể có nghĩa là  Sau này ít thuốc tây mới hơn xưa

Quá lâu rồi Lipitor ơi !  Sẽ  gặp nhau lại Advair!  Năm 2009  đánh dấu khởi sự cái gọi là ghềnh đá môn bài, khi các đại công ty Dược phẩm  sẽ mất đặc quyền  môn bài  trên nhiều lại thuốc nhản hiệu  chánh- brand- name bán chạy nhất .  Các công ty có thể nhượng lại mức bán trị giá 140 tỉ đô la Mỹ  vào năm 2016 , khi các dịch bản  rẽ tiền thuốc tương thích chung di chuyển đến thị trường

Theo Dan Carpenter , đồng giám đốc Sáng kiến Thuốc men và Xã hội Viện Đại học Harvard, Tin tốt đẹp  là ít nhất  trong 10 năm tới, tiền mua thuốc cần có toa bác sĩ sẽ giảm nhiều hay  sẽ rất khiêm tốn cho người tiêu thụ. Thế nhưng tiết kiệm này có thể làm cho các phòng mạch bác sĩ  trống không ngày mai. Tháng 11 năm 2011, công ty Pfizer  sẽ mất môn bài  đặc quyền thuốc chữa cao mỡ  cholesterol  Lipitor, mà mức bán năm 2008 lên  đến 12.4 tỉ đôlà . Lipitor là một trong các thuốc tây  bán chạy và lời nhất ở lịch sử dược phẩm. Và lại không có thuốc tây  nào mới nổi bật khả dĩ thay thế Lipitor. Tổng số thuốc tây được FDA chấp thuận mỗi năm đã trụt xuống,  từ trung bình 35 loại thuốc  từ năm 1996 đến năm 2001, chỉ còn 22 thuốc  từ năm 2002 đến năm 2007. Vài trụt dốc là do  thể lệ điều hòa  an toàn khắt khe hơn; một phần  là phản ứng với các vấn đề do thuốc Vioxx gây ra. Vioxx là một thuốc chữa đau nhức được FDA chấp thuận cho dùng , nhưng lại được  hãng tình nguyền lấy ra khỏi các kệ bán,  năm 2004,  khi nhiều nghiên cứu cho biết  là 139 000 ngườii dùng Vioxx  đã bi  tim  ngưng đập

Thiếu mất 12 tỉ đô la từ Lipitor và những thuốc tây chánh hiệu khác , tài khoản dành cho Khảo cứu và Phát triễn R&D  sẽ  bớt đi nhiều . Vụ này sẽ làm dân Hoa Kỳ đau đớn , Khảo cứu của Giáo sư  Doanh nghiệp Frank Lichtenberg , viện đại học Columbia , trình bày  là số  thuốc  tây mới dùng được  liên hệ. đến tuổi thọ lớn hơn.  Giáo sư Xử lý Chiến lược   Stuart Graham , Viện Đại học  Kỹ thuật Georgia , các lựa chọn phát triển thuốc  có những hậu quả lâu dài.  Chúng ta đang làm quyết định đầu tư hôm nay về các ảnh hưởng  các loại thuốc tây mới chúng ta sẽ có trong mười năm tới

Dự liệu trước những thay đổi này, năm 2011, Công ty Eli Lilly nhắm giảm phí tổn đến 1 tỉ đô la Mỹ bằng cách cho nghỉ việc 5000  nhân viên. Các công ty khác đang cố chạy lẹ  để thâu lời nhờ vài loại thuốc hứa hẹn  đã có  sẵn ở đường ống tổ chức. Mới đây Pfizer  kết thúc mua hãng Wyeth  và công ty Roche  nhập chung với Genentec

Cuối cùng, thời đại  thuốc tây bom tấn, có thể có nghĩa là những thay đổi căn bản  cách nào các đại công ty dược phẩm hoạt động. Cho đến nay, các công ty đã tụ điểm  phát triễn những thuốc  tương đối đơn giản , lời nhiều như các  statins hay chống trầm kha- antidepressants . Muốn có lời, các công ty  có lẽ phải  tập trung vào  các thuốc  phức tạp hơn,  chửa trị mập phì, ung thư  hay các bệnh miễn nhiễm và dây thần kinh.  Tỉ dụ ,  mới đây Pfizer  tuyên bố một thuốc  mới cho phong thấp xương - osteoarthritis.  Tuy nhiên đối với hàng triệu người  khổ sở mắc những bệnh  khó chữa, thay đỗi vẫn còn chậm như rùa bò

Bốn loại  thuốc tây mới cho y khoa thế kỷ 21
Một viên thuốc chữa mọi chứng đau tim : Polypil
La Bô Ferrer  trưng bày một viên thuốc  gồm 3 loại thuốc  chống tim ngưng đập - heart attacks và mua rẻ hơn  là các viên thuốc cá nhân, Phối hợp aspirin với  các thuốc hạ  cao huyết áp  và cholesterol, viên thuốc này  có thể khiến các bệnh nhân  chịu uống thuốc tây


Loãng máu an toàn hơn: Pradaxa 
Hãng Boehringer Ingelheim Pradaxa  giảm bớt  hiểm nguy đứt mạch máu não - stroke  hửu hiệu  như là thuốc Coumadin  - warfarin ,đã dùng hơn 50 năm nay , nhưng lại khỏi cần  theo dõi thường xuyên chảy máu nội tạng và ít bị đau gan hơn


Mất cân mau hơn : Qnexa
 Một thuốc bác sĩ cho toa nhiều, tên gọi là phentermine, phối hợp với một thuốc nguyên dùng  trị động kinh - epilepsy , là thuốc Qnexa ,  là một viên  thuốc bọc - capsule,   đưa tới   mất cân gần hai lần hơn   là phentermine  đơn độc : mất  đến 15%   cân lượng một thân thể  trong vòng 52 tuần lễ


Bớt tiểu đường : chỉ cần uống  Exenatide  một lần mỗi tuần lễ .
Eli Lilly//Amylin  hoạt động  với Alkermes để gói  thuốc  tiêm được  exanetide  thành những viên cầu vi tiểu - microspheres ,  giải tỏa chậm - slow release  vào máu. Đây là thuốc  chữa tiểu đường loại hai, lần đầu tiên chỉ cần uống một lần mỗi tuần.
 
3. THỐNG KÊ ĐỜI SỐNG BIỂN    

Các nhà khoa học, đến ngày nay , đã xác dịnh gần 250 000 loài biển. và mỗi năm lại dịnh danh thêm được 1400 loài nữa Cách đây 10 năm , những nhà ngư học -ichthyo gists  lảnh đạo,  do cơ quan  Alfred P. Sloan Foundation tài trợ, đang cố tâm thực hiện một nhiệm vụ  dường như không có thể làm được:  tạo ra một  bảng liệt kê  mọi loài - species biết được ở đại dương, trình bày nơi nào chúng sinh sống  va hiện có bao nhiêu loài cả thảy. Thống kê đời sống biển - the Census of Marine Life ( CoML ) ra đời . Dự án này đáng được Việt Nam theo dõi vì diện tích biển Đông và biển Tây Việt Nam rộng  ba lần hơn diện tích lãnh địa , đất lục địa,  vài nơi đang bi Trung Quốc ỷ thế mạnh xâm lấn,  chiếm đóng   hay vi đánh bắt ngư sản lậu  của nhiều ngoại quốc .  Hiểu biết toàn diện dữ liệu còn giúp bảo tồn đại dương, phần hải  phận đặc thù kinh tế Việt Nam.

 Dự án bừng lên  thành một cộng tác liên quan đến 2000 nhà khoa học của hơn 80  quốc gia  đã làm khảo sát  các cư dân biển trong quá khứ, hiện tại và tương lai, xét xem  có bao nhiêu loài  hiện hữu, nơi nào chúng sinh sống và da đạng sinh học  tổng thể của đại dương.  CoML  sẽ thành hình  ngày 4 tháng 10 năm 2009 . Thành quả CoML sẽ phổ biến  công cộng tại  Cơ quan Hoàng Gia Anh  tại Luân Đôn.

Các nhà khoa học CoML đã xây dựng những mô hình computer tiên đoán  tương lai  hệ thống sinh thái - ecosystems, xét xem đa dạng sinh học  giảm đi bao nhiêu mỗi năm;  khi  một số loài sẽ tuyệt tích vì lạm thác đánh bắt ngư sản tiếp tục và khi các rặng san hô có cơ chết đi vì thành quả của acid hóa đại dương  và đổi thay khí hậu.  Rất nhiều khảo cứu  sử dụng những kỷ thuật mới mẽ hơn. gồm cả  sonar uy vũ . có thể tìm ra tôm sinh sống  gần 4 km dưới biển , các đánh dấu bằng vệ tinh  cho thấy cá ngừ   vượt ngang Thái bình Dương 3 lần chưa đầy một năm  và phân tích DNA      theo dõi   thay đổi mau chóng  đa dạng sinh học đại dương

Các nhà khoa học sẽ dùng những khám phá này để hướng dẫn chánh sách bảo tồn và giúp xử lý ngư nghiệp hải sản. Dù cho CoML chưa khởi động  một dự luật nào ở Hoa Kỳ, dự án CoML  đã ảnh hưởng đến  Qui Ước  Luật Biển  của Liên Hiệp Quốc , một khung  luật lệ duy nhất, nhắm bảo vệ đại dương mở toang và biển sâu . Trước CoML,  những luật này bị kềm giữ vì thiếu dữ liệu chắc rắn ( cứng ) . Nhưng nay, nhờ  thông tin di chuyễn xuất phát từ dự án đã thông báo cho lịch trình pháp luật quốc tế toàn cầu . Và điều này đã hoạt động mạnh mẽ . Thành quả trực tiếp của thống (  tổng  kiểm ) kê  là những vùng đại dương rộng lớn trên thế giới  dễ bị tan vỡ, đã bị cấm đánh bắt cá . 

4. NHỮNG DỰ ÁN XANH TẠI TRUNG QUỐC

   
a-    Những đập thủy điện không làm hại 
12 dự án thủy điện mới trên sông Dương Tử - Yangtze River sẽ làm gián đọan sinh thái  188 loài cá.  Nhóm tổ hợp. Bảo Tồn Thiên nhiên và Dự án Tam Điệp -Three Gorges Project  sẽ phát triễn một chương trình phục hồi cho các  đầm lầy,  đồng bằng ngập nước  liên lụy,  hầu duy trì  những sinh thái cá, nhưng có thể  vấp ngã, cản trở vì Chánh quyền Trung Quốc chưa chấp thuận  và vùng sông  phía trên đập  có thể bị lũ lụt nặng nề

b- Xây cất xanh
1. 80 tỉ m2  xây cất ở Trung Quốc  tiêu thụ 25 %  tổng năng lượng quốc gia . Cảnh quan công viên xanh Bắc Bình - Beijing Parkview Green    Trung tâm Venker là hai  thí sinh đầu tiên  của Trung Quốc  mong đoạt  giấy ủy nhiệm xanh ( môi sinh ) và hữu hiệu năng lượng. Ủy Ban Bảo vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên  giúp phát triễn  các tiêu chuẩn  dán nhãn  và xác suất năng lượng  đầu tiên ở Trung Quốc cho các xây cất. Nhung có thể vấp ngã  vì chánh phủ Trung Quốc  e ngại sử dụng  một  nhóm  thứ ba định xác suất  năng lượng đi  thanh tra các xây cất, và thích dựa trên  các chức quyền chánh phủ hơn, thường hay thiếu nhân viên  và đôi khi thiếu khả năng nữa.

c- Gỗ bền vững
 Trung Quốc là nhà chế tạo  đồ mộc , tủ giường bàn ghế - furniture số một thế giới . Trung Quốc mua  một trong hai  súc gỗ nhiệt đới hạ rừng  ở các quốc gia khác. Liên Minh Rừng Mưa - Rainforest Alliance đang cùng Ikea  qui định  gỗ làm đồ mộc Trung Quốc nguồn gốc nơi nào và có đốn gỗ tại  các rừng hợp pháp và vững bền không . Vấp  ngã tiềm năng là vì hệ thống theo dõi gỗ súc (gỗ đẳn ) rất lỏng lẽo ở Trung Quốc. Một hệ thống theo dõi hữu hiệu hơn  phải làm lại từ đầu. Nhắc lại là Việt Nam cũng xuất khẩu đồ mộc, tre mây … mỗi năm đến máy tỉ đô la Mỹ , có khi trên hẳn giá trị xuất khẩu gạo ! 

Kỳ tới:   
4 - Ba cuộc chơi  làm xanh  đáng ghi ; 
5- Những gì còn tiếp diễn và những gì mất đi ở công nghệ không gian Tây Phương năm 2010 ?             

17 tháng 12, 2009

Một chiều thu với nhà thơ Hữu Thỉnh



HOCMOINGAY. Nhà văn Phùng Văn Khai ghi từ Cuộc phỏng vấn của nhóm nhà văn Tạp chí VNQĐ với nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, tác giả của tuyệt phẩm Sang thu và nhiều bài thơ nổi tiếng khác. Hà Nội vào thu tuyệt đẹp, tiết trời se lạnh, lá vàng phơi nắng trên các con đường. Sau nhiều lần hò hẹn, nhóm nhà văn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng đã có buổi trò chuyện lý thú với nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh trước các vấn đề văn học luôn là một sự hấp dẫn với người quan tâm đến văn chương. Không những thế, người ta luôn coi ông như một biểu đồ nhiệt kế đa năng của đời sống văn học, thậm chí không ít cái ngoài văn học người ta cũng nhìn vào ông.

Một phía nào đó, có thể hiểu Hữu Thỉnh là một nàng dâu hiền thục nhưng quá đa đoan luôn phải vượt hàng trăm bến sông thuyền nan thuyền thúng ghe xuồng Trung, Nam, Bắc làm dâu đất khách mấy trăm mẹ chồng ngấm nguýt trọ trẹ hò dô hò khoan ngựa ô chim sáo lý lơi ghẹo đúm sặc sỡ sắc màu cơ hồ yếu bóng vía sẽ không trụ nổi. Nhà thơ Hữu Thỉnh trong những lúc ấy luôn có đối sách uyển chuyển linh hoạt. Hữu Thỉnh là người dễ thăng hoa, có khi chỉ trong câu chuyện với một hai người bên chén trà, và không phải không có lúc chính người trò chuyện cùng ông đó đã viết khác một cách không tích cực từ những thăng hoa đáng yêu của một trong những con chim thơ đầu đàn thế hệ các nhà thơ chống Mỹ. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, một người luôn chỉn chu ở những lúc cần chỉn chu đã lên tiếng trước với âm vực Quảng Bình da diết:

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Thưa nhà thơ Hữu Thỉnh! Vẫn biết anh nhiều việc, nhưng hôm nay, các nhà, thơ nhà văn Tạp chí VNQĐ muốn vị Chủ tịch Hội Nhà văn có cuộc chuyện trò thẳng thắn và thực sự sát sườn về đời sống văn học trong nước, những vấn đề về sáng tác, về đội ngũ các thế hệ nhà văn, về văn học sau năm 1975, về hoạt động của Ban chấp hành và các Hội đồng, các Ban chức năng trong Hội Nhà văn, về Đại hội Nhà văn sắp tới, về việc quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài... Xin anh tâm sự thật thoải mái.

Nhà thơ Hữu Thỉnh (cười rất tươi): Chà chà, hôm nay Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Đình Tú, Phùng Văn Khai chất vấn toàn diện công việc của Hội đây. Rất thú vị. Mình sẵn sàng nghe anh em. Mời các nhà văn, nhà thơ lính tự nhiên.

Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Xin được hỏi nhà thơ Hữu Thỉnh câu đầu tiên. Thành tựu của các nhà văn giai đoạn trước năm 1975 có thể khẳng định đã được ghi nhận rõ nét với một đội ngũ các tác giả và tác phẩm khá hùng hậu. Vậy với thế hệ các nhà văn sau năm 1975 thì sao? Có thể nói gì về những thành tựu nổi bật, vấn đề đội ngũ, tiềm năng sáng tạo và những khuynh hướng sáng tác của họ? Với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, ông thấy vấn đề này như thế nào?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Một câu hỏi rộng. Trước tiên phải nói rằng văn học là một dòng chảy liên tục với sự tiếp nối nhiều thế hệ. Thế hệ trước đắp nền cho thế hệ sau. Thế hệ sau bổ sung và làm giàu cho thế hệ trước. Ví dụ đội ngũ các nhà thơ nhà văn chống Pháp thì người ta nhớ ngay đến Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Hoàng Cầm, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Chính Hữu, Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán, Thanh Tịnh, Vũ Cao, Hồ Phương, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng ... thế hệ chống Mỹ người ta nhớ ngay đến Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nam Hà, Thu Bồn, Xuân Thiều, Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Xuân Sách, Thanh Thảo, Lê Lựu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ...

Nhà văn Phùng Văn Khai: Và phải nói luôn là không thể không nhắc đến Hữu Thỉnh nữa. Lâu nay mọi người vẫn đồn Hữu Thỉnh có trí nhớ tốt, cái gì cũng nhớ, khiến anh em kính nể lắm.

Nhà thơ Hữu Thỉnh (cười): Có cả quên nữa, nên cũng bị trách. Kể cũng khó tránh, nhưng cũng phải rút kinh nghiệm lắm đấy. Ta quay trở lại vấn đề đội ngũ và thành tựu của văn học sau năm 1975. Tôi cứ chia ra thế này. Đầu tiên phải là lớp 1975-1986, ta vẫn quen gọi là thời kỳ hậu chiến nghĩa là trước đổi mới. Lớp này ảnh hưởng của văn học trước 1975 còn rất mạnh, nhưng đã bắt đầu khác đi, cũng đã bắt đầu phải giáp mặt với đời sống hậu chiến, được bao cấp nhưng đang cần phải đổi mới. Mà cái đời sống ngày ấy nó khốc liệt không kém gì chiến tranh đâu. Nó thử thách đạo đức và nhân cách con người. Tiêu biểu giai đoạn này phải kể đến Bảo Ninh, Phạm Ngọc Tiến, Trương Nam Hương, Đỗ Minh Tuấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Trọng Tín, Trần Thùy Mai, Đỗ Trung Lai, Lò Ngân Sủn, Y Phương, Nguyễn Thanh Mừng, Đỗ Minh Tuấn, Đinh Thị Thu Vân, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Quang Lập, Trần Quang Đạo, Trần Quang Quý, Nguyễn Quang Thiều... Giờ đây họ đang ở giai đoạn sung sức nhất. Tôi cảm thấy rằng giai đoạn này, thơ nhiều khởi sắc. Đấy, nếu nói thơ luôn nhạy cảm và tiếp cận nhanh với đời sống thì phải là giai đoạn này. Nhiều tác giả, tác phẩm được chú ý sau một thời gian xuất hiện. Đến bây giờ đọc lại vẫn thích. Văn xuôi của Nguyễn Mạnh Tuấn, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Quang Lập rất có ấn tượng.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Anh nói rất đúng, đây cũng là giai đoạn lứa bọn tôi trưởng thành sau năm 1975, cũng có những ấu trĩ, những sức ỳ và sự mô phỏng đơn điệu nhưng rõ ràng văn học thời điểm đó đã bắt đầu rục rịch...

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Chuyển động chứ không phải rục rịch. Mà chuyển động rất rõ rệt nhưng vẫn có những cái khó riêng, cái khó mà ngay sau đó, nghĩa là giai đoạn 1986 đến nay, những gì mà lứa tác giả trước đó mới đặt ra nay đã được làm phong phú hóa, đa dạng hóa. Ít né tránh hơn. Những vùng trước kia có người e ngại thì nay lại là những mảnh đất tươi tốt để các nhà văn khai thác và đã khai thác đạt hiệu quả thẩm mỹ nhất định. Có hẳn một thế hệ mới xuất hiện, nhiều màu sắc, nhiều giọng điệu và lúc này đây xin nói luôn là truyện ngắn xuất sắc hơn thơ. Đã hình thành và định danh ngay một đội ngũ những người viết truyện ngắn khá xuất sắc. Xin nói luôn là truyện ngắn của chúng ta không hề thua kém bất cứ khu vực nào ở châu lục đâu. Phải khẳng định với nhau thế. Đó là những Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thế Tường, Nguyễn Xuân Hưng, Nguyễn Bình Phương, Y Ban, Trầm Hương, Sương Nguyệt Minh, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Phạm Duy Nghĩa, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thanh Hà, Đỗ Bích Thúy, Di Li, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Diệp Mai... và đặc biệt là Nguyễn Ngọc Tư.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Nguyễn Ngọc Tư trội lên một cách khá bất ngờ, anh chị em viết đồng thời với Ngọc Tư về cơ bản đều rất công nhận. Một dạo, người viết trẻ đã dõi theo, lo lắng, cho số phận của “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư. Chuyện này có lẽ nhà thơ Hữu Thỉnh rõ hơn ai hết.

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Nguyễn Ngọc Tư là sản phẩm của đổi mới. Chị gắn với đổi mới và lấy cảm hứng từ đổi mới. Đương nhiên ý kiến khác nhau là bình thường. Đáng mừng là người ủng hộ Nguyễn Ngọc Tư ngày càng nhiều hơn. Đó chính là hiệu quả khi những năng lực sáng tạo được giải phóng. Vai trò cá nhân, thân phận con người, vấn đề ngày thường, hạnh phúc gia đình, việc lập thân, lập nghiệp được đề cập đến một cách mạnh mẽ trong văn học. Không riêng Ngọc Tư đâu, vấn đề đó ngay từ sau năm 1975 đã được các nhà văn đặt ra rồi, nhưng phải đến lúc này, người viết mới gặp thời. Chữ thời của nhà văn cũng quan trọng lắm. Những đóng góp của đội ngũ nhà văn, trong đó có đội ngũ các cây bút trưởng thành sau năm 1975 là đã biết đưa vào văn học những bức xúc về đạo đức xã hội, những thách thức của đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa đang ập đến với cái nhìn đa diện, hiện thực và sống động hơn.

Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Là nhà văn trẻ - mà cũng chẳng trẻ trung gì nữa đâu - (cười) theo tôi mỗi cá tính sáng tạo nên toàn tâm toàn ý trong sáng tạo, không né tránh, không co mình lại, phải dấn thân và chuyên nghiệp. Nhưng sáng tác là vô cùng. Và họ, những người trẻ tuổi, đội ngũ xuất hiện sau năm 1986 vẫn mong có sự đánh giá sát thực nhất, cởi mở nhất, cụ thể nhất từ phía lớp người đi trước. Xin nhà thơ nói rõ hơn về vấn đề này.

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Đó là việc giải phóng cá tính sáng tạo đem đến những dấu ấn cá nhân ngày càng sâu đậm Hội, ủng hộ họ suy nghĩ, đi tìm những hình thức mới. Đây là niềm hy vọng của văn học ta. Đội ngũ xuất hiện sau năm 1986 hôm nay đang sung sức và sẽ là những khẩu trọng pháo của văn học tương lai. Ngôn ngữ của họ mới lắm, mà ngôn ngữ, giọng điệu của mỗi thời không thể thay thế được. Ai dại gì đi làm thay. Đội ngũ này luôn tươi mới, sống động, đặt ra nhiều vấn đề. Về học vấn, họ được đào tạo cơ bản, cái này rất quan trọng đấy. Họ biết ngoại ngữ, có thuận lợi từ việc cập nhật thông tin toàn cầu, các hỗ trợ về kỹ thuật, internet. Và nhất là đã đến lúc họ được hưởng một biên độ sáng tạo rộng hơn, cái trần sáng tác cao hơn trước, thoáng hơn trước. Tôi cho rằng văn học Việt Nam đang dồn tích khả năng cho những bước đột phá. Họ là niềm hy vọng. Họ làm vẻ vang cho đổi mới. Nhưng họ cần gắn với những vấn đề hệ trọng của đất nước, của xã hội máu thịt hơn nữa. Bạn đọc chờ là chờ như thế. Chờ những tầm cao của tài năng, tư tưởng tâm huyết.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Nhà thơ Hữu Thỉnh luôn nói đúng (cười). Thành tựu bước đầu của những nhà văn xuất hiện sau năm 1986 được chăm chút kịp thời, khích lệ và tôn trọng các cá tính sáng tạo từ phía Hội, cơ quan quản lý và xã hội nói chung. Nhưng đội ngũ này, họ cũng có những điểm yếu chứ, rất mong các bậc đàn anh, những người đi trước có ý kiến.

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Nói thẳng ra là phải có tài. Nhiều người thì kết thành một đội ngũ có tài thực sự. Không hiểu sao xưa nay nhắc đến hai chữ tài năng một số người cứ sợ sẽ kích thích tính tự kiêu. Là nhà văn không có tài còn làm gì được nữa. Không có tài thì sẽ không có cái gì đâu, rồi sẽ trôi đi hết. Thế mới nói các bạn hôm nay sinh đắc phùng thời. Nếu có chân tài thực học sẽ tha hồ sáng tạo. Chữ thời quan trọng lắm. Đội ngũ những người trẻ tuổi hôm nay nếu có thành tựu đích thực là sản phẩm của thời đổi mới, cần ủng hộ, khuyến khích, tạo mọi điều kiện cho họ phát triển hết cái tài của mình. Đó là trách nhiệm của Hội, của toàn xã hội.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Nhưng anh em đang muốn Chủ tịch Hội đề cập đến những khiếm khuyết của đội ngũ này. Những điểm yếu của họ? Những chủ quan và hạn chế của anh em trẻ...

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Tầm khái quát xã hội chưa cao. Tác phẩm cuối cùng là nói cái gì? Đưa ra một thông điệp gì? Không dễ đâu. Tôi nghĩ không có đề tài lớn, đề tài bé mà chỉ có tư tưởng lớn hay nhỏ của tác phẩm mà thôi. Điều này các bạn cần phấn đấu. Thơ gần đây chẳng hạn, sao mà, rậm quá, cứ kể, kể, rồi lại kể. Chất khái quát chưa cao. Mới là viết như nhìn thấy chứ chưa phải là viết như cảm thấy. Câu thơ đặc quá, ảnh hưởng đến độ vang xa của nó.

Nhà văn Nguyễn Đình Tú: Xin phép Chủ tịch Hội ta chuyển sang các vấn đề về Công tác hội viên, kết nạp hội viên chẳng hạn. Đến mùa kết nạp hội viên, dư luận cứ nóng ran lên, đặc biệt trên các trang báo mạng, blog cá nhân ai cũng có ý kiến, nhiều ý kiến rất đúng nhưng vấn đề không nhất quán với nhau. Việc kết nạp hội viên năm nay Ban Chấp hành thống nhất thế nào? Có ý kiến nói thẳng trong Ban Chấp hành cũng có gu già, gu trẻ, nghĩa là có sự khác nhau. Vậy vấn đề này thế nào ạ?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Kết nạp hội viên là một khâu, một mắt xích quan trọng trong hệ thống công việc bồi dưỡng đội ngũ của Hội Nhà văn. Phát hiện, bồi dưỡng, chăm sóc tài năng, đặc biệt là tài năng trẻ, là nhiệm vụ chiến lược lâu dài của Hội. Về kết nạp hội viên mới, từ trước đến nay, về cơ bản là đúng. Tại sao đúng? Có trường hợp tác giả trẻ khi kết nạp có ý kiến bảo hơi non, nhưng thời gian qua, xem vào những sáng tác của tác giả trẻ ấy thì hoàn toàn yên tâm, thậm chí rất mừng. Đó cũng là quy luật thường thấy trong văn học. Những người được kết nạp có bề dày sáng tác cộng lại cũng nhiều chứ. Và họ cũng phát triển, sáng tác có nhúc nhắc, và giả sử có hạt chắc hạt lép cũng là chuyện bình thường. Còn việc Ban Chấp hành có sự khác nhau không? Có. Có khác nhau mới bổ sung được cho nhau. Phải có nhiều xu hướng khác nhau mới dân chủ chứ. Vấn đề là phải lắng nghe những ý kiến khác nhau, những gì hợp lý hợp lẽ, hợp sự tiến bộ thì những ý kiến còn lại phải điều chỉnh tiếp thu. Làm công tác cán bộ cũng vậy, ai mà không có khuyết điểm, vấn đề là khi làm rõ các vấn đề vướng mắc thì sẽ thống nhất được. Ban Chấp hành 6 người chúng tôi hiện nay đang hoạt động tốt theo chiều hướng ấy, nghĩa là tôn trọng mọi ý kiến, kể cả ý kiến khác mình, tranh luận đến cùng, và điều chỉnh các vấn đề để đi đến thống nhất. Như việc hoàn thiện các quy chế của Hội Nhà văn chẳng hạn, bao nhiêu năm nay mới đặt vấn đề phải hoàn thiện, kiện toàn văn bản cho nó chính quy, ai cũng tưởng rất phức tạp, nhưng rồi đã thống nhất và làm được khá quy củ. Hoặc việc làm hai cuốn sử của Hội Nhà văn từ năm 1957 đến nay, sưu tầm hiện vật bảo tàng Hội Nhà văn, công việc của Hãng phim Hội Nhà văn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, các Trung tâm, Hội đồng, Ban trực thuộc... đều được Ban Chấp hành thảo luận, tranh luận sôi nổi để đi đến thống nhất. Đấy, mọi việc nó rõ cả ra thế. Còn những ý kiến thiếu thông tin, kể cả những tin đồn thì cứ để thực tiễn cuộc sống trả lời.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Rất nhiều việc, rất nhiều phức tạp và nhạy cảm, Hội ta có ông chủ tịch con bận con mọn, đám ma đám cưới ngang dọc tít mù như thế kể cũng là một sự thú vị. Nhưng ở đây cũng phải hỏi thêm anh một số vấn đề, như vấn đề giải thưởng Hội Nhà văn hàng năm chẳng hạn. Ban Chấp hành có khuynh hướng này, khuynh hướng kia không, tại sao có lúc trao giải thưởng mà không nhận được sự đồng thuận của dư luận, có người không nhận giải thưởng, có tập xứng đáng không đoạt giải, rồi trao cho tác phẩm từ hải ngoại hai năm liền, vồ vập với những gì xa lạ, chưa phản ánh đúng, chưa thật tiêu biểu... Liệu có cần thay đổi quy chế không khi trong Hội đồng chấm giải chuyên ngành thơ hoặc văn hoặc lý luận phê bình nhưng lại có người ở những chuyên ngành khác, không thuộc chuyên môn mình chấm...

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Xét giải thưởng là hoạt động nghề nghiệp lớn nhất và quan trọng nhất. Làm thế nào để nâng cao chất lượng giải thưởng? Việc này Ban Chấp hành luôn luôn tính đến. Nhưng trước hết phải căn cứ vào quy chế. Mà quy chế nếu có những bất cập thì phải thay đổi. Có những vấn đề vướng về giải thưởng chúng tôi cho hội thảo, cân nhắc. Như việc trao giải thưởng cho cuốn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư chẳng hạn, mạnh dạn chứ, lắng nghe chứ, điều chỉnh chứ. Như việc trao giải cho cuốn Tiếng khóc của nàng Út của nhà văn Nguyễn Chí Trung chẳng hạn, nhiều ý kiến chứ. Cuốn của anh Nguyễn Chí Trung chân thực, dữ dằn, khốc liệt về giai đoạn lịch sử 1959 khi Mỹ - Diệm lê máy chém đi tàn sát những người cộng sản, tàn sát đồng bào ta. Còn ít tác phẩm viết về thời kỳ đen tối đó một cách gan ruột và đau đớn, đưa ra một bài học cay đắng như của anh Trung. Tôi là người lính nên tôi hiểu vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm này. Nhìn chung các giải thưởng đều do các Hội đồng chuyên môn lựa chọn từ vòng sơ khảo với những nhà văn nhà thơ có uy tín theo từng bộ môn. Hội đồng chung khảo làm việc cơ bản từ cái nền đã được lựa chọn ấy. Giải nào mà chả có định hướng nhưng cũng có một sự thật là, giải thưởng hàng năm chỉ là mùa gặt của một năm. Thực tế không phải năm nào cũng có tác phẩm thật hay để mà xét. Vấn đề là Ban giám khảo từ sơ khảo đến chung khảo phải thực sự công khai, công tâm, có con mắt xanh để không để sót tác phẩm có giá trị.

Nhà văn Nguyễn Đình Tú
: Xin hỏi nhà văn Hữu Thỉnh về Đại hội Nhà văn năm 2010. Liệu chúng ta có Đại hội toàn thể không? Các bước chuẩn bị? Dư luận rất quan tâm vấn đề này, đặc biệt là vấn đề nhân sự, việc thông qua các quy chế mới, và đặc biệt hơn cả là phương hướng phát triển của đội ngũ các thế hệ nhà văn...

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo đều đã có chỉ thị, hướng dẫn cụ thể bằng văn bản tổ chức Đại hội. Ban Chấp hành cũng đang khẩn trương chuẩn bị, tổ chức các hoạt động tiến tới Đại hội. Việc tổ chức Đại hội toàn thể là nguyện vọng chung của Hội viên. Ban Chấp hành ủng hộ nguyện vọng này và sẽ báo cáo lên Ban chỉ đạo. Vấn đề nhân sự là một trong những vấn đề quan trọng của Đại hội. Vấn đề lớn là việc đoàn kết đội ngũ, để Hội Nhà văn Việt Nam thực sự là mái nhà chung của những người lao động văn học cả nước, cả anh chị em nhà văn đang học tập công tác và sáng tác ở nước ngoài nữa. Ban Chấp hành mới dù là ai cũng phải thực sự đoàn kết, châu tuần được anh em, cộng hưởng để bổ sung cho nhau, thực hiện tốt việc kế tục các thế hệ, không được để hụt hẫng thế hệ, phải có một đội hình đủ mạnh, khả năng quản lý phải đặt lên hàng đầu và cần nhất là phải trẻ hóa...

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Thế theo Chủ tịch Hội chúng ta sẽ trẻ hóa như thế nào đây? Chúng ta hay nói đến điều này và đã thực hiện tốt nó. Đó là một tín hiệu rất đáng mừng, như là một sự tiến bộ, nhưng nhiều khi nó cũng chung chung mơ hồ lắm. Chưa kể là mọi việc có khi diễn biến khác với dự kiến. Phải làm sao để mọi việc thật rõ ràng, ấm áp, có sự đồng thuận của nhiều người...

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Ban Chấp hành khóa VII đương nhiệm đã được trẻ hóa một bước quan trọng đấy chứ. Có 6 thành viên thì 3 là lớp chống Mỹ, 3 là lớp sau chiến tranh. Còn Ban Chấp hành khóa tới thì có cơ cấu ba thế hệ theo hướng dẫn chung của Ban chỉ đạo. Tư tưởng chỉ đạo là vừa kế thừa vừa đổi mới. Phải dựa trên tiêu chuẩn là chính. Năng lực văn chương chẳng hạn, năng lực quản lý chẳng hạn. Anh có năng lực văn chương lại không thích làm quản lý. Anh có năng lực quản lý lại chưa thật tiêu biểu về văn chương, anh đạt được cả hai lại không muốn làm. Có câu rất vui rằng: Tiến vi Bộ, thoái vi Ban, gian nan vi Hội. Khó khăn là khó khăn ở chỗ đó.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Trời cũng sắp tối rồi, xin hỏi nhà thơ Hữu Thỉnh một câu về việc giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài, Hội ta đã có chiến lược như thế nào và sẽ làm gì trong thời gian tới?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài đang là một vấn đề hàng đầu của Hội Nhà văn Việt Nam. Vấn đề này phải thú thực là thời gian qua, khá dài đấy, chúng ta làm chưa được tốt. Vấn đề không phải bây giờ đi tìm nguyên nhân hoặc đổ lỗi cho nhau mà phải có hẳn một lộ trình Quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài sao cho thật hiệu quả, xứng đáng với những gì nền văn học của chúng ta có được. Xưa nay văn học Việt Nam ra nước ngoài phần nhiều là theo lối tiểu ngạch. Hội đang có chủ trương đẩy mạnh việc này, kiến nghị với Đảng, Nhà nước thành một chủ trương lớn với những biện pháp khả thi. Ngay đầu năm 2010 sẽ có một Hội nghị lớn giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài theo cách mời các nhà xuất bản nước ngoài, mời những dịch giả quan tâm và đã từng dịch văn học Việt Nam ra nước ngoài mời các sinh viên nước ngoài học tiếng Việt ở Việt Nam, mời những người quan tâm đến việc dịch văn học Việt Nam ra nước ngoài... nghĩa là thực hiện việc xã hội hóa một cách có tổ chức, mạnh mẽ nhưng khách quan và khoa học. Hội nghị trên do Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì. Dịch các tác phẩm ra nước ngoài là một điều rất khó, nó không phải chỉ là chuyển thể ngôn ngữ mà nó phải là vượt qua hàng rào ngôn ngữ để chuyển tải một nền văn hóa đến với các nền văn hóa khác nhau, chuyển tâm hồn dân tộc đến tâm hồn dân tộc khác. Trước tiên chúng tôi sẽ lựa chọn những tác phẩm tiêu biểu nhất về văn học cổ, văn học hiện đại, một số tác giả tiêu biểu được giải thưởng Hồ Chí Minh để các đối tác nước ngoài lựa chọn. Mình sẽ tư vấn cho họ, với tư cách và tâm thế của tập thể, vì văn học, văn hóa Việt Nam. Phải làm sao đó để các tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu cho văn học Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam đến với độc giả trên thế giới. Đó cũng là tâm tư nguyện vọng chung của các nhà văn, của cá nhân tôi.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Xin thay mặt các nhà văn, nhà thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, đặc biệt là bạn đọc trong và ngoài quân đội cảm ơn anh về cuộc trò chuyện chân tình, cởi mở và cũng rất nhiều thông tin bổ ích. Những vấn đề khác nhau liên quan đến văn học và đội ngũ các thế hệ nhà văn. Từ tâm tư của người Chủ tịch Hội, bạn đọc càng thấy rõ hơn những việc đã làm được, những việc đang làm và cả một chuỗi công việc lâu dài cũng như từng việc cụ thể cho việc phát triển văn học, những đóng góp của văn học trong xây dựng, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam, hoạt động của Ban Chấp hành, các cơ quan Hội tiến tới Đại hội Nhà văn năm 2010, việc tổ chức các cuộc thi sáng tác văn học, xét giải, chấm giải và trao các giải thưởng văn học đã được khẳng định trên tinh thần dân chủ, khách quan, khoa học. Cả những khó khăn cũng được chia sẻ thẳng thắn. Từ đó sẽ góp thêm một ý kiến để mọi người có sự hình dung đúng đắn và gần gũi hơn về Hội Nhà văn Việt Nam. Xin cảm ơn nhà thơ Hữu Thỉnh và chúc Đại hội Nhà văn năm 2010 thành công tốt đẹp.

Theo PHONG ĐIỆP.NET
(Nguồn từ Tạp chí Văn nghệ Quân đội)

NHÀ THƠ HỮU THỈNH TỰ BẠCH VỚI "SANG THU"

(TT&VH) - “Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977”. Đây là chìa khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc không chú ý”- nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, tác giả của bài thơ “Sang thu” trong SGK lớp 9 tâm sự. Nếu như họ lưu ý đến chữ “Thu 1977” thì sẽ hiểu được rằng đây là một trong những mùa Thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh và sự bình yên quý giá biết chừng nào...

Sang thu

Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi

(Thu, 1977)

Nhà thơ trầm ngâm kể về thời khắc ông đặt bút viết bài thơ. Năm 1977, ông tham gia trại viết văn quân đội ở một làng ngoại ô Hà Nội (nay là Khương Hạ, Thanh Xuân, Hà Nội). Đất nước ta lúc này vừa trải qua chiến tranh, cuộc sống thanh bình đã trở lại. Trong cái mơ hồ phảng phất gió thu và lá thu đang ngả màu, nhà thơ đã trèo lên cây ổi chín vàng trong cả một vườn ổi bạt ngàn ở nơi này. Không có gì đặc hơn, sánh hơn cái màu, cái mùi ổi chín vàng nhuốm trong cái nắng vàng của mùa Thu.. Không gian cao vút, sâu thăm, yên tĩnh.

Bài thơ bật lên từ đó, ngay khi nhà thơ còn ngồi trên cây ổi, những vần thơ được “được làm trong đầu” chứ chưa đụng chạm gì đến giấy bút. “Bài thơ hình thành rất nhanh và chính tôi cũng lấy rất làm tâm đắc nên thuộc lòng rồi “nhâm nhi” đọc suốt buổi không chán...”.

“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”.

Nhà thơ đã đến với mùa Thu bằng cách ấy, bằng “hương ổi trong gió se” chứ không phải là bằng hình ảnh quen thuộc như vòm trời cao xanh, heo may phảng phất, hương cốm... Giải thích cho sự “khác thường” này, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: “Mùa Thu biểu hiện rất nhiều hình ảnh khi chuyển mùa. Và tất cả những hình ảnh đẹp cũng đã được các nhà thơ cổ khai thác hết cả rồi. Tôi không muốn lặp lại nữa nên giữa trời đất mênh mang, giữa cái khoảng khắc giao mùa kỳ lạ thì điều khiến cho tâm hồn tôi phải lay động, phải giật mình để nhận ra đó chính là hương ổi. Với tôi, thậm chí là với nhiều người khác không làm thơ thì mùi hương đó gợi nhớ đến tuổi ấu thơ, gợi nhớ đến buổi chiều vàng với một dòng sông thanh bình, một con đò lững lờ trôi, những đàn trâu bò no cỏ giỡn đùa nhau và những đứa trẻ ẩn hiện trong triền ổi chín ven sông... Nó giống như mùi bờ bãi, mùi con trẻ... Hương ổi tự nó xộc thẳng vào những miền thơ ấu thân thiết trong tâm hồn chúng ta. Mùi hương đơn sơ ấy lại trở thành quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng vào tâm hồn mỗi người, có khi là cả một thế hệ...”.

Gửi gắm nhiều điều sâu lắng...
“Bài thơ không chỉ báo cho người đọc biết thu đã trở trong cảnh sắc thiên nhiên mà còn ngay trong cuộc sống của con người, trong tâm hồn tôi và chắc với rất nhiều người yêu thu... “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”. Hai câu thơ này không hẳn nói về hiện tượng giao mùa như một số người hiểu và phân tích. Khi tôi viết bài thơ này tôi đã liên tưởng đến những đám mây mùa Hạ. Đó là những đám mây tràn trọn vẹn vào mùa Thu. Thế nhưng có gì ngăn cảm xúc của tôi lại theo chiều hướng đấy... Mây mùa Hạ thường chứa nhiều màu sắc, thậm chí đầy giông bão tựa hồ những ước mơ khao khát của tuổi trẻ. Những ước mơ khao khát ấy thường lấy đi rất nhiều sức lực của tuổi trẻ. Tuy nhiên giữa mơ và thực là hai thế giới luôn đối lập nhau và chẳng phải ước mơ nào cũng trở thành hiện thực.

Đó giống như là một chân lý và con người phải biết ý thức được một điều rằng không thể đạt được hết những ước vọng tốt đẹp của mình, nhất là những ước vọng đó lại được sinh ra ở thời tuổi trẻ. Sự dang dở, sự mất mát là một hiện thực chúng ta buộc phải chấp nhận trong cuộc sống của mình. Ngay cả người lính cũng vậy. Rất nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại ở tuổi còn rất trẻ ở ngưỡng mùa đẹp nhất của cuộc đời. Vì thế nên đám mây trong thơ ấy chỉ “vắt nửa mình sang Thu” thôi. Nửa còn lại đã trở thành ký ức”. Hai câu cuối cùng: Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi . Chủ thể bài thơ và cái kiêu hùng của mùa Thu đã toát lên chính là ở hai câu thơ này. Đó là cốt cách của một người lính không chỉ là trong một buổi chiều mùa Thu mà là một buổi chiều hòa bình. Có thể nó có vẻ ngang tàng “sấm cũng bớt bất ngờ” nhưng lại mang một vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của mùa thu hòa bình. Ở đây hàng cây đứng tuổi chính là chủ thể trữ tình trong bài thơ đã trải qua bao nhiêu gian nan vất vả, giờ đã vươn lên và không gì làm chúng run rẩy.

Nhiều người bỏ qua “chìa khóa” của bài thơ

Có một chi tiết mà các cô giáo và thầy giáo khi giảng về bài thơ Sang thu làm người sáng tác ra nó không hài lòng. Nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự: “Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977”. Đây là chìa khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc không chú ý. Nếu chú ý thì sẽ hiểu thêm được rằng đây là một trong những mùa Thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh. Nếu như họ là lính trong thời chiến họ mới hiểu được rằng đôi lúc chúng tôi đã rất mong trên đầu không có tiếng máy bay dù chỉ để được đi tắm giặt, đi hái rau hoặc tranh thủ đọc vài trang sách, mà cũng không có. Suốt ngày người lính trong thời chiến phải đối diện với tiếng súng nổ, tiếng bom rơi và tiếng động cơ phản lực... Chính vì vậy mà có lúc nào đó không phải nghe những âm thanh ấy thì quả là quý giá vô cùng”.

Ông bày tỏ quan điểm: “Giảng văn thơ không nên chỉ phân tích trên văn bản, câu chữ mà hãy tìm hiểu sâu hơn cái tác giả muốn gửi gắm. Nó có thể nằm ngay trên tựa đề bài thơ, câu đề từ, lời ghi chú, ngày tháng hay một lời đề tặng.

Yên Khương
Nguồn: Thể thao và Văn hóa

Người theo dõi