Lưu trữ Blog

22 tháng 7, 2011

Tiễn đưa Condo của chúng ta, của Tây Nguyên




HỌC MỖI NGÀY. Nhà văn Nguyên Ngọc trên Sài Gòn Tiếp Thị Online đã viết bài "Tiễn đưa Condo của chúng ta, của Tây Nguyên": Hôm nay chúng ta tiễn đưa về cõi vĩnh hằng một nhà bác học lớn, một người bạn lớn của Việt Nam, đặc biệt của các dân tộc Tây Nguyên, người, tôi tin vậy, cho đến giờ phút cuối cùng vẫn không ngớt nỗi nhớ dằng dặc và nội lo đau đáu về Tây Nguyên của chúng ta, của ông. Vì Tây Nguyên đối với ông đã trở thành “một loại hình sống”. Hãy biết yêu và lo như ông. Yoo Condo thân thiết của người Mnông Gar (ảnh).


SGTT.VN - Georges Condominas đã ra đi trong đêm thứ bảy 16 rạng sáng chủ nhật 17.7.2011. Thế giới vừa mất một trong những nhà dân tộc học lớn nhất của mình. Chắc chắn trong những ngày đến sự kiện này sẽ gây xao động không chỉ ở Pháp, và ở Việt Nam, nơi nhà bác học này đặc biệt gắn bó. Và tôi chắc ở một nơi sâu tít trong tận cùng Tây Nguyên, tại cái làng nhỏ có tên là Sar Luk bên bờ con sông Krong Nô hoang vắng, dưới chân dãy Chư Yang Sin hùng vĩ, một dân tộc rất nhỏ tên là dân tộc Mnông Gar sẽ làm lễ bỏ mả cho ông, Yoo Condo thân thiết của họ - Yoo là cách người Mnông Gar gọi người nơi khác đến mà đã trở nên ruột thịt.

Tôi đã may mắn được là một người bạn nhỏ của con người vĩ đại ấy, và cách tôi được gặp và quen ông thật lạ, cũng có thể là tiêu biểu cho một trong những tính cách độc đáo của ông. Hơn 30 năm trước, một hôm đang ngồi làm việc ở nhà, tôi nghe điện thoại reo và bên kia đầu dây một người nói với tôi bằng tiếng Pháp: “Tôi vừa từ Paris sang, một chị bạn của anh bên ấy nhờ mang cho anh mấy cuốn sách, làm sao trao được cho anh?”. Tôi cám ơn và xin ông cho biết tôi có thể đến gặp ông ở đâu để nhận sách. Ông trả lời: “Tôi là Geoges Condominas, hiện ở khách sạn X, anh có thể đến khoảng 2 giờ chiều nay không?” Không thể nói hết sửng sốt của tôi, hóa ra một nhà bác học lớn, mà tôi đã được đọc một số tác phẩm nổi tiếng, vừa gọi điện cho tôi và chỉ mấy tiếng nữa tôi sẽ được gặp ông! Mươi phút sau, điện thoại lại reo. Vẫn là Condominas. “Thôi, anh không cần đến khách sạn đâu. Tôi có một người bạn ở Hà Nội biết nhà anh, tôi sẽ đến chỗ anh ngay bây giờ, được không?”.

Tả sao hết hồi hộp. Mươi lăm phút sau một chiếc xe máy đổ xịch trước thềm: nhà dân tộc học lừng danh thế giới, người thầy của bao thế hệ dân tộc học khắp năm châu, đến nhà tôi bằng xe ôm! Tôi còn nhớ mãi hình ảnh Condo hôm ấy, cũng sẽ là hình ảnh quen thuộc những người biết ông hẳn còn mãi ghi nhớ: chiếc áo vét tông lụng thụng và hơi nhàu, không hề có cà vạt, chiếc mũ phớt hơi rộng vành màu nâu nhạt. Ông ở chơi với tôi gần suốt buổi, say sưa trò chuyện về Tây Nguyên, ông hỏi tôi lên Tây Nguyên từ năm nào, cười bảo “Thế là thua tôi rồi, tôi đến Tây Nguyên trước anh một năm cơ …”. Cuộc trò chuyện sôi nổi, song cũng nhiều lúc chùng xuống, chúng tôi chia sẻ cùng nhau niềm nhớ và nhất là nỗi lo đau đáu về vùng đất xiết bao ruột thịt với cả hai chúng tôi, đang trải qua những thử thách có lẽ là lớn nhất, nặng nề nhất trong suốt lịch lâu dài của nó. Rừng và con người ở đó đang và rồi sẽ ra sao? “Anh biết đấy”, Condo bảo, tôi từng viết “Chúng tôi ăn rừng…”. Ăn rừng, người Tây Nguyên “ăn rừng”, xin thức ăn cho sự sống của mình từ rừng, cũng như chúng ta nói chúng ta bú sữa mẹ mà lớn lên thành người. Tây Nguyên không còn rừng thì rồi sẽ ra sao? …”.

Chính nỗi ưu tư đeo đẳng và ngày càng thống thiết ấy gắn kết chúng tôi. Mỗi lần ông sang Việt Nam, chúng tôi đều gặp nhau, cùng đi Tây Nguyên, cùng đi miền núi Quảng Nam. Lần ông cũng bảo: “Tôi luôn thèm về đấy. Ở nơi ấy tôi đã học làm người”. Và ở cuộc triển lãm đặc sắc “Chúng tôi ăn rừng – G. Condominas ở Sar Luk” được trưng bày ở Paris, rồi ở Hà Nội tháng 12-2007, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của ông, có một băng rôn ghi một câu của Condominas, có thể coi là châm ngôn của đời ông, nghe hơi lạ và rất đáng chú ý: “L’ethnographie est un genre de vie”. Có thể dịch: “Dân tộc học là một kiểu sống” hay “Dân tộc học là một lối sống”. Riêng tôi muốn dịch “Dân tộc học là một loại hình sống”. Loại hình, như các loại hình thực vật, động vật … Một loại hình, chứ không phải một nghề.

Giáo sư Georges Condominas sinh năm 1921 tại Hải Phòng, cha người Pháp còn mẹ mang ba dòng máu Bồ Đào Nha, Hoa và Việt. Từ nhỏ ông đã theo cha sống ở Pháp, Tunisia và Việt Nam. Ông vừa học luật vừa học hội hoạ ở trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Đương (Hà Nội), sau đó về Paris học để lấy bằng cử nhân văn khoa (1947) và bằng của trung tâm Đào tạo nghiên cứu dân tộc học (1948). Năm 1970 ông trình luận án tiến sĩ khoa học nhân văn ở đại học Sorbonne (Paris). Năm 2007, ông được bầu làm thành viên danh dự viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Ông đã nhiều lần là giáo sư thỉnh giảng ở các đại học hàng đầu thế giới. Năm 2006, viện Khoa học xã hội Việt Nam tặng ông huy chương của viện. Năm 2010, ông nhận giải Việt Nam học của quỹ văn hoá Phan Châu Trinh.

Hai cuốn sách của ông: Nous avons mangé la forêt (Chúng tôi đã ăn rừng) và L’exotique est quotidien (Cái xa lạ là hằng ngày) được nhà dân tộc học André Leroi-Gourhan xếp vào số “các cuốn sách kinh điển của ngành dân tộc học”.

Condominas được đào tạo bởi những con người không chỉ là những nhà nhân học, dân tộc học lớn, mà còn là những nhân cách lớn, rất đặc biệt, hay đúng hơn nữa, thuộc một “loại hình” riêng, những Marcel Mauss, Paul Mus, Claude và Paul Lévy-Strauss, André Leroi-Gourhan, André-George Haudricourt, Pierre Edouard Mestre, Maurice Leenhardt… cùng với Georges Balandier, Jean Guiart, Paul Mercier … Có thể hiểu một cách vắn tắt “loại hình” ấy như thế này: một nhà khoa học bất kỳ có thể có hai cuộc đời, cuộc đời của người làm khoa học, và một cuộc đời riêng, không nhất thiết gắn làm một. Nhà dân tộc học thì không, anh ta chỉ có một, không thể tách rời, dân tộc học là cuộc đời anh, cuộc đời anh là dân tộc học, không chừa lại chút gì; anh đồng hóa với đối tượng của mình đến cùng, cùng một số phận, cùng một số mệnh, cùng một loại hình, anh không ở bên ngoài mà bên trong nó, anh chính là nó, thành bại, mất còn.

Chúng ta biết dân tộc học, nói cho đúng, trước hết là một sản phẩm của châu Âu, của chủ nghĩa thực dân. Nó sinh ra khi chủ nghĩa thực dân châu Âu đi chinh phục và biết đến các dân tộc “lạc hậu”, tìm hiểu chúng. Vì vậy nhà dân tộc hầu như bao giờ cũng từ một nền văn hóa được tự coi là cao hơn đến quan sát, nghiên cứu một nền văn hóa bị coi là thấp hơn, từ bên ngoài nhìn vào và từ bên trên nhìn xuống… Năm 1948 anh thanh niên Condominas vừa mới ra trường, sang Đông Dương, lên Tây Nguyên, tìm đến tộc người Mnông Gar ở làng Sar Luk hoang vắng, và ngay từ đầu ý thức sâu sắc “mặc cảm” đó, hiểu rằng anh phải khắc phục được nó, phải thay đổi toàn bộ cuộc đời mình, nhập thân được vào “loại hình” dân tộc học của mình. Hiểu Mnông Gar ư? Anh phải hiểu nó từ bên trong. Sau này anh sẽ nói, giản dị - vậy đó, chân lý thì bao giờ cũng giản dị - chẳng hạn, “để biết một món ăn Mnông Gar có ngon không thì nhất thiết phải là một người Mnông Gar”. Anh phải thành một người Mnông Gar. Condo vào làng Sar Luk, xin làm một căn nhà chen giữa làng, thành một hộ như bao nhiêu hộ của làng. Thời gian ngắn đầu, anh còn phải nhờ một phiên dịch, nhưng rồi anh nhanh chóng học thạo tiếng, đến mức đêm nằm mơ toàn bằng tiếng Mnông Gar – nghĩa là anh tư duy không phải bằng tiếng Pháp nữa mà bằng tiếng Mnông Gar; anh “tư duy Mnông Gar”. Anh sống cùng số phận của làng, vui mừng, đau khổ, thành bại, sống chết cùng làng Mnông Gar đến tối đa, để sự hiện diện của một người ngoài, lại là một da trắng, lại là một nhà dân tộc học nữa, không làm biến dạng hiện thực như hằng có của làng, làm biến dạng một cách tất yếu ứng xử của người làng với nhau và với người lạ khi làng có “khách” lạ …

Song ở đây còn có chỗ rất tế nhị: nhà dân tộc học hết sức “quên” mình đi, để cho làng cũng “quên” sự hiện diện của anh đi, nhưng đồng thời anh vẫn phải là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo quan sát. Có mâu thuẫn không, và nhà dân tộc học phải giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? Có lần tôi đã hỏi Condominas về điều ấy. Rất ngạc nhiên là ông cũng… rất ngạc nhiên. Ông bảo ông không để ý, hay đúng hơn không cảm thấy khó khăn. Có lẽ, ông nói, vì mình sống thật tình đến cùng với bà con.

Ta biết ít ra một ví dụ về thành công này của Condominas, trong việc ông tìm ra được bộ đàn đá tiền sử đầu tiên trên thế giới… Đêm ở làng Sar Luk, như mọi đêm, sau một ngày sống và lao động cùng bà con, Condo ngồi hút rượu cần và rít tẩu thuốc với các già làng bên bếp lửa nhà sàn, lơ mơ ngủ, chợt thức dậy lại hút rượu và rít thuốc, lại lơ mơ ngủ, không hề để ý một thanh niên ngày hôm ấy được điều đi sửa con đường từ Sar Luk đi Đầm Ròn đang lầm rầm kể chuyện… Đang thiêm thiếp, chợt Condo giật mình thức dậy, hỏi: “Cậu vừa nói gì đấy? Nói lại xem!”. Lơ mơ ngủ nhưng ông vừa nghe được hai tiếng “mau prum”. “Nhắc lại đi!”, ông khẩn khoản. Vì, đã quên mình là người lạ, người Pháp, hết sức thông thạo đến ăn sâu trong máu thịt tiếng Mnông Gar, nhưng đồng thời ông vẫn là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo, để chỉ cần hai tiếng “mau prum” nghe như trong mơ đã đánh thức ngay nhà dân tộc học trong ông dậy. “Mau prum” có nghĩa là đá Chàm. Và là nhà dân tộc học thành thạo, ông biết người Chàm chưa bao giờ đặt chân lên vùng đất Krông Nô này suốt lịch sử. Nghĩa là người thanh niên kia đã thấy một điều gì đó rất lạ mà anh ta không hiểu được trong ngày đi làm đường hôm nay. Anh kể: trong khi lao động sáng nay, các anh đã phá một ụ đất để nắn lại con đường trước đây bị uốn cong, và tìm thấy trong ấy mười một phiên đá lạ, rất dài, mà người Mnông khi gặp bất cứ vật cổ nào mà họ không thể hiểu và họ tin là bí ẩn, thiêng liêng thì đều coi đó là của người Chàm xưa… Sáng hôm sau Condo cùng người thanh niên đi đến hiện trường, quan sát kỹ, nhận ra đấy là những phiến đá đã được đẽo gọt bởi bàn tay con người, một vật cổ, có thể là tiền sử… Những phiến đá ở làng Dnut Lieng Krak, cách Sar Luk khoảng 10 km, được Condominas phát hiện năm 1949, gửi về viện Nhân chủng học Paris, được các chuyên gia nhân học, khảo cổ học, nhạc học nghiên cứu tỉ mỉ, xác nhận là một bộ đàn đá tiền sử (đúng ra là hai bộ, thiếu mất một thanh), cực kỳ đặc sắc, là bộ đàn đá tiền sử đầu tiên tìm được trên thế giới, có niên đại khoảng ba nghìn năm …



Nguyên Ngọc và Georges Condominas. Ảnh: Đoàn Huy Giao

Condominas rất ít khi nhắc lại chiến công khảo cổ học từng làm chấn động thế giới ấy của ông. Ông chỉ nói: “Dân tộc học là một loại hình sống”, vậy thôi. Thế đấy!

… Từ Sar Luk, Condominas mang về cho thế giới khoa học (và cả văn học) tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô”, ra mắt ở nhà xuất bản Mercure de France, nơi chỉ chuyên in tác phẩm văn học của những văn hào lớn như Verlaine và Rimbaud, và cuốn sách lập tức được nhà nhân học hàng đầu Claude Lévy-Strauss coi là “đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó với hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay”. Ít lâu sau, cuốn sách thứ hai về Sar Luk của ông ra đời, cũng hết sức độc đáo, cuốn “L’exotique est quotidien” (có thể dịch là “Kỳ lạ mỗi ngày”), bút ký tự thuật cảm động và uyên bác về sự nghiệp hay cuộc đời “dân tộc học là một loại hình sống” của ông …

Hôm nay chúng ta tiễn đưa về cõi vĩnh hằng một nhà bác học lớn, một người bạn lớn của Việt Nam, đặc biệt của các dân tộc Tây Nguyên, người, tôi tin vậy, cho đến giờ phút cuối cùng vẫn không ngớt nỗi nhớ dằng dặc và nội lo đau đáu về Tây Nguyên của chúng ta, của ông. Vì Tây Nguyên đối với ông đã trở thành “một loại hình sống”.

Hãy biết yêu và lo như ông.

19-7-2011

Nguyên Ngọc

14 tháng 7, 2011

Vũ Quần Phương : Đừng tưởng khen là dễ



HỌC MỖI NGÀY. Vũ Quần Phương phân tích "Nghề tán dương văn chương": Đừng tưởng khen là dễ. Khen cho đúng là khó lắm. Nhưng không thể vì khó mà khen bừa. Càng không nên coi khen là món chiêu đãi nhau không tốn kém mà sung sướng lại tràn trề, hạnh phúc cả đôi bên. Rồi thì khen cả cái không đáng khen. Khen không đúng có hại cho xã hội, như việc khen ông lang ta chữa được bệnh chó dại cắn. Nhiều người bị chó cắn sợ tiêm huyết thanh, đến ông lang cắt thuốc. Kết quả: những ai bị dại, chết cả. Những người được chữa khỏi, quả có bị chó cắn nhưng không phải chó dại. Người khen có thiện ý nhưng không thấu đáo thành có hại cho cộng đồng là thế. Việc đáng tiếc, nhưng không ai nỡ bắt tội người khen bừa.Còn người được khen, dù là khen sai, thì không hề cáu giận hay kiện tụng gì mà còn rất cám ơn, có khi còn tình nguyện cung phụng bia rượu suốt đời. Vì vậy trong đời người ta hay khen. Từ khen động viên cổ vũ đến khen nịnh kiếm lời.

NGHỀ TÁN DƯƠNG VĂN CHƯƠNG

Vũ Quần Phương


Hiện nay, rộng rãi lời khen nhất có lẽ là giới văn học nghệ thuật. Tìm được cuốn văn cuốn thơ đọc được lúc này không dễ, ấy thế mà đọc các bài giơi thiệu, phê bình hoặc điểm sách thì thấy nhan nhản lời khen. Nếu chỉ đọc những lời thẩm định này mà đừng đọc tác phẩm thì ai cũng đinh ninh nước ta đang là cường quốc văn chương. Các nhà văn vốn yêu ngưòi và yêu nhau thì cái việc vu nhau lên là có tài, bạn đọc cũng chỉ mỉm cười và tự rút lấy kinh nghiệm mà chọn sách.

Nói là mỉm cười vì chẳng lẽ lại ha ha mà cười, dù rằng có lúc đáng phải cả cười mới hả. Tôi biết một anh làm báo và thỉnh thoàng cũng đi chạy vài cái quảng cáo. Có ông thủ trưởng đang nắm một ngành kinh tế ăn nên làm ra. Lương bổng quà cáp quá hậu hĩnh, thủ trưởng có của ăn của để, hứng chí xoay sang làm thơ. Ông không có năng khiếu văn chương, nhưng được cái hăng hái đến hãi hùng. Thơ ông, người đọc thì buồn cười vì thấy nó ngô nghê nhưng người viết thì chan chứa hy vọng. Anh bạn làm báo của tôi, sau khi nghe thơ của ông thủ trưởng kia xong, lại trợn ngay mắt lên mà rằng:
-Thơ hay thế mà anh không cho in thì anh có tội với dân tộc

Vị thủ trưởng ngước nhìn ông nhà báo vùa hồ nghi, bẽn lẽn vừa tràn đầy hì vọng. Ông nhà báo thì ráo riết khen và có cái vẻ nghiêm trang như vừa phát hiện ra loài thú hiếm của nước nhà. Thế là thủ trưởng ta thành nhà thơ. Mỗi năm in vài ba tập. Tập nào cũng có người khen. Người khen quanh quẩn vẫn mấy ông nhà báo kiêm nhiệm chạy quảng cáo ăn hoa hồng. Mà thủ trưởng lại là người có quyền cho hàng nắm quảng cáo. Sau dăm sáu năm thủ trưởng có ngót hai chục tập thơ. Nhiều tập in trên giấy quý, bìa cứng. Sách không bán, chủ yếu để tặng, tặng không hết thì giữ lại cho muôn đời con cháu mai sau. Người ta lại xui ông thuê các nhạc sĩ phổ nhạc, thuê ca sĩ nổi tiếng hát, tổ chức các đêm thơ nhạc (có múa minh hoạ) của ông ở Hà Nội, Sài Gòn, miền núi...trên sân khấu nhà hát lớn sang trọng, trên hội trường uỷ ban huyện thị, trên màn ảnh nhỏ. Có nhà thơ, chuyên nghiệp hẳn hoi, bỗng hăng lên, không biết vì tình thơ hay tình bạn nhậu, lại coi ông như một hiện tượng quý hiếm của văn chương nước nhà, viết thành bài đăng báo, báo Nhân Dân, mới khiếp chứ. Chuyện khôi hài đã thành long trọng. Không biết sẽ còn đi đến đâu. Giời đất này, biết thế nào. May mà... May là may cho văn chương, chứ với đương sự thì là chuyện bất hạnh. Ông thủ trưởng này ra toà, không phải vì làm thơ mà vì chuyện ăn liều tiêu liều, coi tiền của nhà nước như của mình. Ông đi tù. Và lạ thay, chuyện nọ xọ chuyện kia, người ta bỗng phát hiện ra thơ ông hoá ra rất dở, đã thế lại in nhiều. Trong đám người chê ông lại có cả những vị từng sửng sốt khen ông.

Khen ông như trước đây là vu cáo ông có tài, là xui dại ông tốn tiền mất sức, làm khổ vợ con.
Chê thơ ông lúc ông vận hạn này cũng là tệ bạc, bỏ bạn lúc khốn cùng. Nghĩ tội cho ông. Trong lĩnh vực này cũng phải sòng phẳng: làm thơ dở đâu phải là đặc quyền của các nhà thơ nổi tiếng. Tội ông trong cõi văn chương này chỉ là ngây thơ và háo danh. Hai tội ấy thì đáng giận mà cũng đáng thương. Tội là thuộc về mấy tay bợm nó bốc ông lên để ông cho nó hợp đồng quảng cáo, để ông tài trợ tiền nong việc này việc khác. Ông chỉ là kẻ mắc lừa tốn công tốn của, mang tiếng với đời. Tội ấy tăng nặng vì nó góp phần làm rối loạn tiêu chí thẩm định văn chương trong thiện hạ. Nhưng hào phóng coi nhau là thiên tài cũng có cái vui, không tốn kém gì mà người cứ lâng lâng say sưa như ngồi uống rượu với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi...Thỉnh thoảng có buồn có bực là buồn bực với bà con hàng xóm hay đám đồng liêu trong cơ quan chưa nhìn mình như nhìn Nguyễn Trãi Nguyễn Du. Nên tội ấy cũng chỉ đáng chê cười chứ không ai đòi xử tù kẻ khen văn chương văng mạng.

Khen không chỉ cho thấy tài năng người được khen mà còn cho thấy bản lĩnh, nhân cách người khen là thế.

Nguồn: Lê Thiếu Nhơn Blog .

7 tháng 7, 2011

Học theo những con người ưu tú



HỌC MỖI NGÀY. Trần Đăng Khoa, Hàm Châu, Tạ Bích Loan, Nguyễn Thị Ngọc Hải đều là những người ham tìm tòi viết về những người đương thời. Học những con người ưu tú, học người tốt việc tốt, đó là lối học giản dị và tiết kiệm thời gian để thành người tử tế. Xin chép lại một số trích đoạn trong bài viết “Tôi vui vì được làm người sai vặt!” của Song Phạm về nhà văn, nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải: "Tôi mê những con người ưu tú, đó là tài sản tinh thần của dân tộc, nếu không khai thác sẽ bị mất đi theo thời gian. Hơn nữa, đây là sở trường và niềm hứng thú bất tận của tôi. Tôi đam mê lục lọi tâm hồn con người để tìm cho ra vẻ lạ lẫm, âm thầm, dung dị rất riêng họ. Tôi thích nhặt nhạnh vẻ đẹp ấy. Viết chân dung thì khó nhất là tái hiện được con người với cá tính, tác phong, tâm hồn, ngôn ngữ. Tôi dồn sức vào việc đó, vì nghĩ mình cũng chỉ làm được những “chớp đèn flash” mà thôi. " Mỗi ngày vẫn cằm cụi viết, mỗi năm đều đặn cho ra đời mấy trăm bài báo với các vấn đề thời sự, và chủ yếu là “đơn đặt hàng” từ các báo. Thế nhưng hỏi thành công nhất trong cuộc đời của chị là gì? Chị lại cười: “Đó là hai thằng con giỏi và tử tế!”. Ngoài ra, niềm vui lớn nhất của chị còn là việc thấy học trò của mình trưởng thành.

Nhà báo, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải

“TÔI VUI VÌ ĐƯỢC LÀM NGƯỜI SAI VẶT!”


Song Phạm thực hiện


“Nghề báo là nghề thải người rất nhanh, lạc hậu rất nhanh và không đợi tuổi nếu không phấn đấu. Tôi không có tướng để làm ông nọ bà kia, nhưng sung sướng vì được làm một nhà báo “ra hồn”. Tôi vui vì từng tuổi này mà vẫn chưa bị nghề thải đi, đuổi đi, vẫn còn được làm “bà loong toong”, làm người sai vặt cho xã hội và vẫn còn… được việc!”



Người “tò mò một cách chân thành”


Với nick name và địa chỉ email “nghe qua ai cũng cười” - “bà loong toong” tâm sự: “Một hôm thằng cháu nội 10 tuổi hỏi tôi “Bà ơi! Có phải bà lạc hậu lắm rồi không?”. Tôi cười “Đúng rồi! Vì bà đã già. Mà ai già rồi cũng bị lạc hậu. Và người ta phải chiến đấu để cho cái lạc hậu nó chậm đến, bà cũng vậy. Nhưng vì sao cháu hỏi thế?”. Thằng cháu đáp: “Vì cháu thấy bà cái gì cũng sợ!”.

Thật vậy, tôi có bệnh sợ người, bệnh nay của nhà văn Nam Cao, tôi yêu người tử tế nhưng lại rất sợ những người quỷ quái. Tôi còn sợ đám đông. Trước đây đứng trước đám đông là tôi run và nói dại. Sau này ngoài nghề báo, nghề văn, tôi còn được mời đi giảng dạy, công việc đòi hỏi phải thường xuyên nói trước đám đông, nên dần tôi cũng quen đi. Nghề báo cần dạn dĩ và biết phớt lờ, chúng tôi hay nói vui đây là nghề “đeo thẻ mặt trơ”. Tôi thấy mình không thích hợp nhưng lại rất yêu nghề, chính nghề báo đã rèn giũa, mang lại nét tính cách mới cho tôi”.

Với 45 năm cầm bút, nhà văn, nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải đã có hơn 10 đầu sách thuộc nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự... Được cho là “nhà văn hàng đầu của thể loại ký nhân vật” bởi sở trường phỏng vấn, trò chuyện, khắc họa chân dung. Tác phẩm mới nhất của chị Tò mò một cách chân thành tập hợp 24 bài phỏng vấn những người nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Khải, giáo sư Trần Hữu Dũng, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, nhà báo Kim Hạnh, bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, giáo sư, nhà nghiên cứu Larry Berman, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, thi sĩ Hoàng Cầm... Và quyển Sốc văn hóa tập hợp những bài báo, những câu Chuyện nhà tôi trên tờ Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần lâu nay chị phụ trách với bút danh Quảng Yên.

Kẻ “đam mê lục lọi tâm hồn con người”…

Đặc biệt với tác phẩm xuất sắc viềt về “nhà tình báo và nhà báo của thế kỷ 20” Phạm Xuân Ẩn - tên người như cuộc đời, chị đã phải mất 10 năm đi lại, tìm hiểu, trao đổi, trò chuyện, sưu tầm tài liệu… quyển sách đã 2 lần đoạt giải thưởng về viết tiểu thuyết và ký, được tái bản nhiều lần và đến nay vẫn không ngừng được dư luận quan tâm. Nhà văn, giáo sư, nhà nghiên cứu Mỹ Larry Berman, người từng sang Việt Nam 25 lần, tác giả quyển Điệp viên hoàn hảo (trong đó có Phạm Xuân Ẩn) nói: “Trong tất cả những người viết về cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn, thì bà là người hiểu rõ về chủ nghĩa nhân văn của ông ấy hơn ai hết”.

Riêng với nghề báo, chị đã trải qua nhiều cương vị công tác, từ phóng viên, biên tập, tổng thư ký tòa soạn (báo Phụ nữ Việt Nam). Hiện ở tuổi 67, hàng ngày chị vẫn tất bật với cả ba nghề: làm báo, viết văn và giảng dạy báo chí, vẫn được cộng tác, giữ mục cho một số tờ báo lớn, chị còn là một trong các chị Hạnh Dung của báo Phụ nữ TPHCM hàng chục năm qua.

“Tôi không có nét tính cách của một nhà báo hiện đại, nên luôn phải rượt đuổi theo các đồng nghiệp vì nỗi lo mình bị bỏ lại, bị lạc hậu. Chẳng nói đâu xa, mỗi ngày tôi đều phải học hỏi ngay chính các nhà báo trong… nhà mình!”. Cả nhà chị đều làm báo, chồng chị hiện là Tổng Biên tập tạp chí Người Đô thị, hai người con thì anh cả là Trần Hà Nguyên (dịch giả quyển hồi ký Đời tôi - My life của Bill Clinton), hiện phụ trách trang tin tức Yahoo Việt Nam, anh con út Trần Hồng Nguyên là họa sĩ minh họa và trình bày báo Sài Gòn Tiếp Thị.

“Tôi thấy nhà báo hiện đại giỏi tiếng Anh, vi tính và giao tiếp, nhưng cái thiếu của họ chính là sự trải nghiệm, là góc nhìn. Một số nhà báo có phông nền yếu, thậm chí không hiểu rõ bản chất công việc, vấn đề mình đang viết… họ thừa tự tin nhưng lại thiếu kiến thức. Ngoài ra, nghề báo là nghế sáp vào lửa, giáp mặt với lửa, nhưng tôi thấy nhiều phóng viên bây giờ ít chịu đi, ít chịu phấn đấu để trở thành nhà báo giỏi, mà lại thích hoặc bị làm “quan báo”, không ít tòa soạn “quan báo” nhiều hơn cả phóng viên…”.

Nói về sự dấn thân, chị kể trong đời làm báo chị cũng từng bị nhân vật từ chối gặp, có lần còn bị giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê chê bài viết… ngắn quá, không nói hết ý của ông, và chị đã không ngần ngại lấy bài học đáng nhớ đó để giảng dạy thực tế cho sinh viên.

“Vi tính dù rất hữu ích và hỗ trợ cho các nhà báo rất nhiều, nhưng đồng thời nó cũng lấy đi của họ rất nhiều. Cụ thể nó làm họ ngại đi, lười đi, ít năng động, xông xáo cần có của một nhà báo. Có lẽ chính vì vậy mà báo chí bây giờ ít bài hay. Báo chí có thể làm rất xuất sắc chức năng phát triển kinh tế, phục vụ cho doanh nghiệp, PR, quảng cáo, quảng bá sản phẩm... Nhưng đó mới chỉ là một trong những chức năng của báo chí, theo tôi, tính chiến đấu mới chính là một phẩm chất thiêng liêng” – chị khẳng định.

“Bây giờ đi đâu cũng thấy nhà báo. Có hôm đang chui trong đống quần áo si-đa cũng bắt gặp nhà báo, một cô phóng viên - học trò: Chào cô ạ!”. Rồi chị say sưa nói về các nhà báo tương lai, rằng sinh viên báo chí dù được học lý thuyết, rằng phóng sự điều tra là “thể loại cao cấp của báo chí, là công cụ giám sát xã hội, là mục đích, là phẩm chất của nghề báo, làng báo”… các giải báo chí hàng năm cũng đánh giá và tưởng thưởng cao nhất cho thể loại này. “Thế nhưng bây giờ thật hiếm hoi, thật khó tìm ra một bài phóng sự điều tra lớn và sâu sắc. Nhà báo dấn thân cho nghề, chịu đựng thất bại, cay đắng, đau đớn vì nghề bây giờ rất ít. Một số ảo tưởng về nghề, số khác hầu như chỉ chọn công việc kiếm tiền nhanh”…

“Khi nào trời còn cho sức khỏe, các tờ báo còn sai vặt, tôi còn loong toong!”


Có người hỏi chị nhà văn gì mà không chịu hư cấu, không biết hư cấu, không viết những bộ tiểu thuyết hoành tráng, mà cứ bám người thật việc thật, viết chân dung nhân vật như một nhà báo, bằng văn phong báo chí. Chị cười: “Nếu sáng tác văn chương mà tưởng tượng của nhà văn không bằng tưởng tượng của người đọc thì viết làm gì? Tôi mê những con người ưu tú, đó là tài sản tinh thần của dân tộc, nếu không khai thác sẽ bị mất đi theo thời gian. Hơn nữa, đây là sở trường và niềm hứng thú bất tận của tôi, tôi đam mê lục lọi tâm hồn con người để tìm cho ra vẻ lạ lẫm, âm thầm, dung dị rất riêng họ. Tôi thích nhặt nhạnh vẻ đẹp ấy. Viết chân dung thì khó nhất là tái hiện được con người với cá tính, tác phong, tâm hồn, ngôn ngữ. Tôi dồn sức vào việc đó, vì nghĩ mình cũng chỉ làm được những “chớp đèn flash” mà thôi.

Mỗi ngày vẫn cằm cụi viết, mỗi năm đều đặn cho ra đời mấy trăm bài báo với các vấn đề thời sự, và chủ yếu là “đơn đặt hàng” từ các báo. Thế nhưng hỏi thành công nhất trong cuộc đời của chị là gì? Chị lại cười: “Đó là hai thằng con giỏi và tử tế!”. Ngoài ra, niềm vui lớn nhất của chị còn là việc thấy học trò của mình trưởng thành. “Ví dụ Nam Phương - chỉ là một phóng viên tập sự của báo Tuổi Trẻ, nhưng đã xung phong một mình “tả xung hữu đột” trong vụ động đất tại Nhật Bản vừa qua. Đó là phần thưởng, là “món hời” trong cuộc đời làm báo và giảng dạy của tôi!”.

Chị nói chị không dại dột mà học theo đời sống hay lời nói của các vĩ nhân vì rất khó, nhưng chị thích suy ngẫm về câu nói nổi tiếng của nhà văn Mỹ Jack London: “Tôi muốn chết trong trạng thái kiệt sức”. “Ông không muốn mang chút năng lượng thừa nào sang thế giới bên kia. Bạn bè, đồng nghiệp hỏi sao tôi không chịu nghỉ ngơi, đi chơi cho thoải mái; họ nói tôi có thiếu thốn gì nữa đâu sao cứ làm hoài? Tôi nói vì tôi là “bà loong toong” mà! Khi nào đời không còn cần người sai vặt nữa thì tôi mới hết làm! Tôi nghĩ tôi phải “sống gấp” bằng cách làm việc nhiều. Khi nào trời còn cho sức khỏe, tôi còn làm. Khi trời hết cho, tôi sẽ về vườn đuổi gà!”

BOX:

Tác phẩm:

Tò mò một cách chân thành - NXB Phụ Nữ 2011.
Hồ sơ chiến tranh Việt Nam - Chân dung các nhà tình báo (trọn bộ 3 tập, NXB Công an Nhân dân 2010.
"Sốc" Văn hóa - NXB Phụ Nữ 2010.
Trần Quốc Hương, người chỉ huy tình báo - NXB CAND 2004.
Đại tướng Mai Chí Thọ - NXB CAND 2005.
Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời - NXB CAND 2002, tái bản nhiều lần.

…

Nguồn: Viet-Studies

HỌC MỖI NGÀY

2 tháng 7, 2011

Đọc và suy ngẫm hai bài báo



HỌC MỖI NGÀY. Bức tường xanh vĩ đại và Ðảng Cộng sản Trung Quốc hoàn thành ba sứ mệnh lớn trong lịch sử 90 năm là hai bài báo đáng suy ngẫm trên Nhân Dân Online.

Theo dự báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của LHQ (FAO), mỗi năm châu Phi có khoảng hai triệu ha rừng bị biến mất do sa mạc xâm lấn những vùng đất đai màu mỡ. Dự báo, đến năm 2050, thời tiết tiếp tục khô hạn sẽ khiến khoảng hai phần ba diện tích đất canh tác châu Phi bị cát ở sa mạc xâm thực. Dự án 'Bức tường xanh vĩ đại' có vốn đầu tư 600 triệu đô la Mỹ, rộng khoảng 15 km, dài hơn 7.100 km, đi qua 11 quốc gia châu Phi, nối Thủ đô Ða-ca của Xê-nê-gan bên bờ Ðại Tây Dương với quốc gia nhỏ bé Gi-bu-ti bên bờ Biển Ðỏ. Tại Hội nghị chống biến đổi khí hậu toàn cầu ở Cô-pen-ha-ghen (Ðan Mạch) năm 2010, Tổng thống Xê-nê-gan A.Oa-đê đã nhấn mạnh, cây xanh là giải pháp hữu hiệu nhất để chống sa mạc hóa và kêu gọi các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu tìm ra những loài cây có khả năng chống chọi thời tiết khắc nghiệt ở vùng sa mạc. Những loài cây trồng trong vành đai xanh này như táo, xoài chịu được khí hậu khô hạn và sẽ làm chậm quá trình xói mòn đất. Dự án cũng bao gồm việc khôi phục những cánh rừng nguyên sinh, những thảm thực vật, hệ động vật tại các khu rừng quốc gia có 'bức tường xanh' đi qua (Hình Một vạt rừng chống sa mạc hóa ở Xê-nê-gan, Báo ND)

Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Trung Quốc, sáng 1-7, lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc (1-7-1921 -1-7-2011) đã được tiến hành trọng thể tại Ðại lễ đường nhân dân ở Thủ đô Bắc Kinh với sự tham gia của các nhà lãnh đạo Ðảng và Nhà nước Trung Quốc, cùng khoảng 6.000 đại biểu đến từ khắp cả nước. Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư BCH T.Ư ÐCS, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã nêu bật ba sứ mệnh lớn mà ÐCS Trung Quốc đã hoàn thành trong lịch sử 90 năm của Ðảng. Trước hết, dựa vào dân, Ðảng đã hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ mới, giành độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân; thứ hai, Ðảng đã hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và thiết lập nền tảng XHCN cơ bản; thứ ba, Ðảng đã tiến hành một cuộc đại cách mạng mới bằng công cuộc cải cách và mở cửa, sáng tạo, kiên trì giương cao và phát triển CNXH với những đặc sắc Trung Quốc. Tổng Bí thư Hồ Cẩm Ðào nhấn mạnh: 'Các đảng viên Ðảng CS Trung Quốc tin tưởng rằng những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác là chân lý không thể đảo ngược', do đó cần tiếp tục giương cao và vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó cho phù hợp tình hình thực tiễn của Trung Quốc và thời đại hiện nay. Ông khẳng định con đường đi lên CNXH với những đặc sắc Trung Quốc là 'con đường duy nhất' để Trung Quốc đạt được hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa và tạo ra cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân. Ông nêu rõ rằng trong tình hình hiện nay, ÐCS Trung Quốc hoàn toàn nhận thức được tính chất nghiêm trọng và nguy cơ của nạn tham nhũng, nên sẽ tăng cường những nỗ lực đấu tranh chống tham nhũng, coi đó là yếu tố quan trọng sống còn để giành sự ủng hộ của quần chúng đối với Ðảng và bảo đảm sự tồn vong của mình.



"Bức tường xanh vĩ đại"

Nhân Dân Online Cập nhật lúc 02:20, Thứ bảy, 02/07/2011 (GMT+7)

Tình trạng sa mạc hóa ngày càng nghiêm trọng ở khu vực gần sa mạc Xa-ha-ra đang khiến một vùng đất trồng trọt rộng lớn trở nên khô cằn và có nguy cơ đẩy nhiều người dân nơi đây vào cảnh nghèo đói.

Các nước châu Phi ở vùng Xa-hen đang nỗ lực xây dựng một 'bức tường xanh vĩ đại' nhằm phát triển rừng, dựng một hàng rào bảo vệ đất trồng trọt khỏi sự 'xâm chiếm' của sa mạc lớn nhất thế giới này.

Khu vực Xa-hen là vùng ranh giới giữa sa mạc Xa-ha-ra ở phía bắc với vùng đất màu mỡ hơn ở phía nam. Sự biến đổi khí hậu, thời tiết khô hạn và diện tích rừng bị giảm làm đất bạc màu, gây khủng hoảng lương thực tại khu vực này. Theo dự báo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của LHQ (FAO), mỗi năm châu Phi có khoảng hai triệu ha rừng bị biến mất do sa mạc xâm lấn những vùng đất đai màu mỡ. Dự báo, đến năm 2050, thời tiết tiếp tục khô hạn sẽ khiến khoảng hai phần ba diện tích đất canh tác châu Phi bị cát ở sa mạc xâm thực.

Năm 2007, Liên minh châu Phi (AU) đã phê chuẩn dự án 'đầy tham vọng' mang tên 'Bức tường xanh vĩ đại' đi từ tây sang đông, qua 11 quốc gia của châu lục này (gồm Buốc-ki-na Pha-xô, CH Sát, Gi-bu-ti, Ê-ri-tơ-ri-a, Ê-ti-ô-pi-a, Ma-li, Mô-ri-ta-ni, Ni-giê, Ni-giê-ri-a, Xê-nê-gan và Xu-đăng) nhằm tái phát triển rừng, chống tình trạng sa mạc hóa ngày càng nghiêm trọng ở vùng Xa-hen. Bức tường xanh này rộng khoảng 15 km, dài hơn 7.100 km, nối Thủ đô Ða-ca của Xê-nê-gan bên bờ Ðại Tây Dương với quốc gia nhỏ bé Gi-bu-ti bên bờ Biển Ðỏ. Tại Hội nghị về chống biến đổi khí hậu toàn cầu ở Cô-pen-ha-ghen (Ðan Mạch) năm ngoái, Tổng thống Xê-nê-gan A.Oa-đê đã thay mặt các nhà lãnh đạo châu Phi trình bày về dự án này. Tổng thống Oa-đê nhấn mạnh, cây xanh là giải pháp hữu hiệu nhất để chống sa mạc hóa và kêu gọi các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu tìm ra những loài cây có khả năng chống chọi thời tiết khắc nghiệt ở vùng sa mạc. Những loài cây trồng trong vành đai xanh này như táo, xoài chịu được khí hậu khô hạn và sẽ làm chậm quá trình xói mòn đất. Dự án cũng bao gồm việc khôi phục những cánh rừng nguyên sinh, những thảm thực vật, hệ động vật tại các khu rừng quốc gia có 'bức tường xanh' đi qua. Với khoản đầu tư khoảng 600 triệu USD, các nước châu Phi hiện đang gặp khó khăn về tài chính. Quỹ Môi trường thế giới cam kết viện trợ 119 triệu USD cho các quốc gia tham gia dự án.

Theo thống kê của LHQ, trên thế giới hiện có khoảng 30% diện tích đất khô hạn. Khoảng hai tỷ người sống phụ thuộc hệ sinh thái ở khu vực này, trong đó 90% nằm ở các nước đang phát triển. Hơn 40 năm qua, gần một phần ba đất trồng trọt trên thế giới bị thoái hóa, không thể sử dụng. Thế giới đã mất khoảng từ 20 đến 50 nghìn km2 đất do tình trạng sa mạc hóa. Hơn một tỷ người nghèo và những người đang sống ở các vùng đất khô cằn trên Trái đất có nguy cơ ngày càng đói nghèo, cản trở việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.

Sau diễn đàn về rừng được thành lập năm 2000, LHQ đã chọn năm 2011 là 'Năm quốc tế về rừng' với mục tiêu thúc đẩy quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững các loại rừng. Thông qua các hoạt động của năm nay, LHQ mong muốn mật độ che phủ rừng toàn thế giới sẽ gia tăng đáng kể. Việc quản lý rừng bền vững gồm các hoạt động bảo vệ, phục hồi trồng rừng và tái sinh rừng, cùng nỗ lực ngăn chặn suy thoái rừng. Trong bối cảnh LHQ kêu gọi toàn thế giới bảo vệ và phát triển rừng, dự án 'Bức tường xanh vĩ đại' của châu Phi là một trong những nỗ lực lớn của lục địa đen đóng góp vào chương trình chung toàn cầu nhằm cải thiện môi trường sống.

THÁI AN


Ðảng Cộng sản Trung Quốc hoàn thành ba sứ mệnh lớn trong lịch sử 90 năm


Nhân Dân Online Cập nhật lúc 02:11, Thứ bảy, 02/07/2011 (GMT+7)


Theo phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Trung Quốc, sáng 1-7, lễ kỷ niệm 90 năm thành lập Ðảng CS Trung Quốc (1-7-1921 -1-7-2011) đã được tiến hành trọng thể tại Ðại lễ đường nhân dân ở Thủ đô Bắc Kinh với sự tham gia của các nhà lãnh đạo Ðảng và Nhà nước Trung Quốc, cùng khoảng 6.000 đại biểu đến từ khắp cả nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư BCH T.Ư ÐCS, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã nêu bật ba sứ mệnh lớn mà ÐCS Trung Quốc đã hoàn thành trong lịch sử 90 năm của Ðảng. Trước hết, dựa vào dân, Ðảng đã hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ mới, giành độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân; thứ hai, Ðảng đã hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và thiết lập nền tảng XHCN cơ bản; thứ ba, Ðảng đã tiến hành một cuộc đại cách mạng mới bằng công cuộc cải cách và mở cửa, sáng tạo, kiên trì giương cao và phát triển CNXH với những đặc sắc Trung Quốc.

Tổng Bí thư Hồ Cẩm Ðào nhấn mạnh: 'Các đảng viên Ðảng CS Trung Quốc tin tưởng rằng những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác là chân lý không thể đảo ngược', do đó cần tiếp tục giương cao và vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó cho phù hợp tình hình thực tiễn của Trung Quốc và thời đại hiện nay. Ông khẳng định con đường đi lên CNXH với những đặc sắc Trung Quốc là 'con đường duy nhất' để Trung Quốc đạt được hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa và tạo ra cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân.

Ông nêu rõ rằng trong tình hình hiện nay, ÐCS Trung Quốc hoàn toàn nhận thức được tính chất nghiêm trọng và nguy cơ của nạn tham nhũng, nên sẽ tăng cường những nỗ lực đấu tranh chống tham nhũng, coi đó là yếu tố quan trọng sống còn để giành sự ủng hộ của quần chúng đối với Ðảng và bảo đảm sự tồn vong của mình...

Nhiều hoạt động như biểu diễn các bài hát cách mạng, giới thiệu những bộ sưu tập tranh ảnh, sách báo viết về Ðảng, trưng bày các tác phẩm nghệ thuật về Ðảng... cũng đã diễn ra trên khắp nước này nhân kỷ niệm 90 năm thành lập ÐCS Trung Quốc.


Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc
Nhân Dân Online Cập nhật lúc 01:40, Thứ bảy, 02/07/2011 (GMT+7)

Ngày 1-7, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc (1-7-1921 - 1-7-2011), Ðại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã tổ chức chiêu đãi trọng thể.

Ðến dự, có đồng chí Ðinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Ðảng, Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội, đại diện một số bộ, ban, ngành, cơ quan, đoàn thể...

Phát biểu tại cuộc chiêu đãi, Ðại sứ Tôn Quốc Tường bày tỏ sự cảm ơn và bày tỏ trân trọng sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của Ðảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp 90 năm qua của Ðảng Cộng sản Trung Quốc; nhấn mạnh, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước xã hội chủ nghĩa do Ðảng Cộng sản lãnh đạo, có nhiều điểm tương đồng, đều đứng trước trọng trách lãnh đạo phát triển đất nước. Ðại sứ khẳng định, Ðảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống với Ðảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam, nguyện cùng với phía Việt Nam tăng cường đoàn kết, mở rộng hợp tác, ủng hộ lẫn nhau, cùng phát triển, viết nên trang sử mới huy hoàng cho quan hệ 'đối tác hợp tác chiến lược toàn diện' Trung-Việt.

Trong lời phát biểu chúc mừng, đồng chí Ðinh Thế Huynh nhấn mạnh: 90 năm qua là chặng đường đấu tranh cách mạng vẻ vang của Ðảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc. Ngay từ khi mới ra đời, Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân Trung Hoa tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, thu được những thành tựu vĩ đại: hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ mới, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ðặc biệt, trong hơn 30 năm qua, Ðảng Cộng sản Trung Quốc đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân Trung Quốc thực hiện công cuộc cải cách mở cửa, giành được những thắng lợi to lớn.

Thay mặt Lãnh đạo Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đồng chí Ðinh Thế Huynh nhiệt liệt chúc mừng những thành tựu mà Ðảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã giành được trong 90 năm qua và tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc anh em nhất định sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa. Ðồng chí nhấn mạnh, mối quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước đã có những bước phát triển tốt đẹp, được nâng lên tầm quan hệ 'đối tác hợp tác chiến lược toàn diện'; và tin tưởng rằng, với sự nỗ lực chung của cả hai bên, mối quan hệ hữu nghị truyền thống đó sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển; hai bên cùng nhau giải quyết thỏa đáng những vấn đề do lịch sử để lại và những vấn đề mới nảy sinh, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.


NGỌC PHƯƠNG NAM, HỌC MỖI NGÀY

18 tháng 6, 2011

BS. Nguyễn Ý Đức: Thuốc ở trong rau



HỌC MỖI NGÀY. Kinh nghiệm dân gian ta vẫn thường nói: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. Nhưng thực ra, rau không chỉ là món ăn nhiều chất dinh dưỡng mà còn là những liều thuốc trị bệnh quý giá. Chẳng thế mà danh y Hải Thượng Lãn Ông của ta đã có nhận xét: “Nên dùng các thứ thức ăn /Thay vào thuốc bổ có phần lợi hơn” Và thánh tổ y học phương tây Hippocrates có đưa ra một đề nghị hết sức thuyết phục là “Hãy để rau là vị thuốc”. Mà những loại rau củ có vị đắng chứng tỏ các nhận xét này là rất đúng.

Trái Mướp Đắng màu xanh có bề ngoài gồ ghề ngộ nghĩnh đã được ghi trên sáu con tem biểu tượng cho sáu loại cây thuốc thiên nhiên có dược tính trị bệnh cao mà Liên Hiệp Quốc phát hành vào năm 1980.

Mướp đắng chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng căn bản như nước, đạm, carbohydrat, béo, sinh tố và một số khoáng chất với tỷ lệ khác nhau. Mướp đắng có thể dùng để ăn sống, nấu canh, xào với thịt bò, muối dưa, phơi khô làm trà pha nước uống...

Canh thịt heo bằm nhỏ nhồi vào mướp đắng là món ăn đặc biệt ở miền Bắc Việt Nam.

Mướp đắng hấp với tôm tươi, thịt nạc, mộc nhĩ, nấm hương, hành khô, mắm muối tiêu, xào với thịt.. tạo ra vị hơi đắng hòa với hương thơm mùi tôm thịt là món ăn giải nhiệt, bổ dưỡng.. Món xà lách mướp đắng cũng rất hấp dẫn, ăn vào mát cơ thể..

Mướp đắng được coi như có khả năng làm hạ đường huyết, hạ huyết áp, chữa ho, giảm đau nhức, sát trùng ngoài da, trừ rôm sẩy ở trẻ em.

Trong mướp đắng cũng có một hóa chất có khả năng ngăn ngừa sự thụ thai ở loài chuột.

Trên thị trường hiện nay có bán trà khổ qua, được giới thiệu là có thể giúp ngủ ngon, đại tiện dễ dàng, mát gan, bổ mật, giải nhiệt, giải độc trong cơ thể và khi dùng thường xuyên sẽ ngừa được các biến chứng của bệnh tiểu đường, sỏi thận, mật....

Actiso Đà Lạt là loại thảo mộc nổi danh ở nước ta. Nổi danh vì khí hậu luôn luôn mát lạnh nơi cao nguyên nhiều nắng khiến cho actiso có năng suất cao.

Actisô có nhiều chất dinh dưỡng như các sinh tố C, B, folacin, chất xơ và một vài khoáng chất như sắt, kali. Về phương diện ẩm thực, actisô thường được luộc, hấp cách thủy để ăn hoặc ninh với thịt gà, thịt lợn. Actisô có thể được dùng tươi, để đông lạnh hoặc đóng hộp.

Nhiều nghiên cứu cho biết Actisô có tác dụng bảo vệ gan, làm hạ cholesterol trong máu và đường huyết, kích thích sản xuất mật, giảm đau khớp xương, thông tiểu tiện.

Tại vài quốc gia, dung dịch chế biến từ actisô được dùng làm thuốc chích chữa các bệnh về gan. Trà Actisô là thức uống được rất nhiều người ưa dùng.

Theo nhiều nhà chuyên môn, actisô không gây tác hại cho cơ thể.

Diếp cá hoặc rau Giấp là món ăn ưa thích của bà con miền Nam.

Cách đây mấy chục năm, dân cư miền sông Hồng, núi Ngự vào giao lưu với Cửu Long Giang là rất lắc đầu “nhăn mặt” vì vị tanh tanh “lợm giọng” khi ăn phải cọng rau này. Vậy mà bây giờ, Nam Trung Bắc một nhà, nhiều người cũng đều ưa thích diếp cá.

Nhưng cái tanh tanh, béo béo của diếp cá lại rất “hiệp nhất” với cái tanh của những miếng cá còn tươi. Phải chăng đây là duyên tiền định với tên “diếp cá”. Trung Quốc gọi diếp cá là “Ngư Tinh Thảo” và tiếng Anh gọi là Fish Mint

Ở nước ta, diếp cá mọc hoang khắp vùng đất ẩm thấp và cũng được trồng làm rau ăn hoặc làm thuốc trị bệnh. Diếp cá có thể ăn sống hoặc dùng làm gia vị chung với các rau khác trong bữa ăn. Có người hầu như ghiền với diếp cá, thiếu nó như thiếu người tình hơi “bị” cho là chanh chua nhưng dễ thương.

Lá diếp cá ăn vào rất mát, có thể làm trĩ hậu môn xẹp xuống. Ngoài ra, diếp cá cũng được y học dân gian tại nhiều quốc gia dùng làm lợi tiểu tiện, hạ cao huyết áp, giảm ho, tiêu diệt vi khuẩn. Nghiên cứu tại viện y dược Toyama, Nhật Bản, cho hay diếp cá có chất chống oxy hóa rất mạnh quercetin có thể ngăn chặn nhiều loại ung thư và tăng cường tính miễn dịch..

Trong Lĩnh Nam Bản Thảo, danh y Hải Thượng Lãn Ông tóm tắt:

“Ngư Tinh Tảo gọi cây rau Giấp

Ấm cay, hơi độc, mùi hôi tanh

Ung thũng, thoát giang với đầu chốc

Đau răng, lỵ ngược chữa mau lành”.

Khát khô cả họng trong nắng tháng Bảy của Sài Gòn mà gặp một xe bán Nước Rau Má xanh mát thì cơn khát không những hết đi mà tâm hồn cón thấy sảng khoái.

Thực vậy, nghiên cứu tại Ấn Độ cho hay nước chiết rau má không những tăng khả năng trí tuệ của trẻ em có thương số thông minh (IQ) thấp mà còn làm người cao tuổi giảm bớt những quên này quên kia, giúp thị lực bớt nhạt nhòa.

Nhiều nghiên cứu khác còn gợi ý rằng rau má trị được cả bệnh vẩy nến, vết phỏng, vết thương, viêm khí quản, chống nhiễm trùng, chống độc, giải nhiệt, lợi tiểu.

Từ những năm 1960, Giáo sư Bửu Hội đã nghiên cứu tác dụng trị bệnh phong với rau má. Ngày nay, nhiều khoa học gia cho là chất Asiatioside của rau má có tác dụng tương đương với dược phẩm trị phong chính là Dapsone.

Rau má có tính lạnh cho nên người tỳ vị hàn, hay đi tiêu chảy, cần cẩn thận khi dùng.

Rau Đắng đã đi vào văn hóa âm nhạc trong những bài viết nhiều tình người, tình quê hương của nhạc sĩ Bắc Sơn từ rừng cao su Dầu Tiếng.

Nhăc phẩm “Còn thương rau đắng mọc sau hè” với tiếng hát Hương Lan, Như Quỳnh đã làm bao nhiêu khách ly hương khi nghe mà mắt nhòe ướt lệ.

“Ai cách xa cội nguồn

Ngồi một mình nhớ lũy tre xanh

Dạo quanh khung trời kỷ niệm

Chợt thèm rau đắng nấu canh”

Vì nhớ tới những lũy tre xanh nơi có người chị đầu bạc tóc ân cần nhổ tóc sâu cho chú em từ xa về thăm quê. Có những bà mẹ hiền luôn luôn chăm sóc miếng ăn, thức uống cho chồng cho con.

Rau đắng nấu canh với các loại cá, nhúng lẩu hoặc chấm mắm kho là những món ăn tuyệt hảo của bà con miệt đồng. Rau đắng còn có thể nấu với thịt heo bầm nhuyễn, với tép, với tôm…

Mới ăn rau có vị khá đắng, chỉ kém có khổ qua, nhưng ăn quen lại thấy ngòn ngọt, nhớ hoài.

Rau đắng cũng được dùng trong y học. Theo Giáo sư Đỗ Tất lợi, rau đắng được dùng làm thuốc lợi tiểu, bổ thận, giúp ăn ngon và giảm đau khi đắp lên nơi tê thấp, rắn cắn.


Kết luận

Nhà dinh dưỡng uy tín Hoa Kỳ Jean Carpenter phát biểu rằng “Trong thực phẩm có dược phẩm. Thay đổi dinh dưỡng có thể ngăn ngừa và giảm sự trầm trọng của bệnh tật”

Đây là lời khuyên khá hữu ích mà chúng ta cũng nên theo.



Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức, Texas- Hoa Kỳ

14 tháng 6, 2011

Đọc và suy ngẫm về nhà văn hóa Nguyên Ngọc



HỌC MỖI NGÀY. "Có thể buôn để làm giáo dục chứ không buôn giáo dục!" Nhà văn hóa Nguyên Ngọc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường Đại học Phan Châu Trinh đã trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên: "Chúng tôi muốn đi theo con đường đó (của Phan Châu Trinh), tìm mọi hình thức, đa dạng, năng động, sáng tạo “đi buôn”, để nuôi một ngôi trường nghĩa thục. Rất linh hoạt, nhưng để đi đến nghĩa thục. Đây là con đường rất khó khăn, nhưng chúng tôi quyết làm. Vì sao phải làm nghĩa thục? Tôi không tin một ngôi trường buôn bán giáo dục lại có thể tạo nên những con người như ta đang muốn tạo cho đất nước: trung thực, độc lập, tự chủ, sáng tạo, có trách nhiệm cao với xã hội, giỏi giang, thành đạt ở đời. Một con người như vậy chỉ có thể được tạo nên bởi một nền giáo dục trung thực".

CÓ THỂ BUÔN ĐỂ LÀM GIÁO DỤC CHỨ KHÔNG BUÔN GIÁO DỤC!

* Tại cuộc hội thảo "Chiến lược phát triển của trường ĐH Phan Châu Trinh trong giai đoạn mới" vừa tổ chức tại Hội An, ông có phát biểu: Muốn cải cách giáo dục một cách thực sự, cần phải thực hiện tư tưởng của nhà yêu nước Phan Châu Trinh "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". Ông có thể nói rõ hơn về nội dung này?

- Phan Châu Trinh chỉ ra rằng: chỉ trên cơ sở dân trí được khai sáng, dân khí bừng lên mạnh mẽ, mới có thể mưu tính “hậu dân sinh”, xây dựng những con người năng nổ, có bản lĩnh vững và kỹ năng giỏi, cho phát triển kinh tế và xã hội, cho dân giàu nước mạnh, đuổi kịp năm châu.

Vế đầu tiên trong phương châm của Phan Châu Trinh là Khai dân trí, vế cuối mới là Hậu dân sinh. Mở mang đầu óc con người đã, giải phóng họ ra khỏi sự u tối, trì trệ, tạo nên con người độc lập, tự chủ, sáng tạo (tạo Dân khí), rồi sau đó mới có thể nói đến có được một nghề giỏi giang, để đi đến giàu có, phát đạt (Hậu dân sinh). Trong thời hiện đại của chúng ta, chúng tôi hiểu khai dân trí là cố gắng trang bị cho người học một nền tảng tri thức nhân văn cơ bản, phổ quát, không chỉ để làm cơ sở vững chắc cho việc học sâu vào chuyên ngành, mà còn để cho con người ấy có được ý chí và khả năng tiếp tục tự học suốt đời để luôn tự chủ suốt đời (bởi người ta không thể ngồi ở nhà trường suốt đời, nhưng lại phải học suốt đời). Đi đôi với nền tảng tri thức nhân văn cơ bản, là các kỹ năng cần thiết, như: làm chủ vững chắc ít nhất một ngoại ngữ (tiếng Anh), có hiểu biết về tin học, có khả năng tự học, tự nghiên cứu, có tư duy phản biện lành mạnh, dám hỏi, biết hỏi, và biết tự mình đi tìm câu trả lời…

* Với tư cách là Chủ tịch HĐQT của trường ĐH mang tên nhà yêu nước Phan Châu Trinh, ông chọn cách đi của trường như thế nào trong tình hình hiện nay?

- Chúng tôi muốn làm một nghĩa thục, như Phan Châu Trinh từng làm. Nghĩa là không buôn bán giáo dục. Cuộc vật lộn trong hơn 3 năm qua của trường ĐH Phan Châu Trinh cũng chính là chung quanh vấn đề hướng đi này.

Hãy nhớ lại Phan Châu Trinh và các đồng chí tâm huyết nhất của ông thời bấy giờ. Các ông đi buôn để làm giáo dục nhưng không buôn giáo dục. Cụ thể: các ông lập Công ty Liên Thành, đi buôn đến cả nước mắm, để làm giáo dục khai dân trí, từ đó mà cứu nước (rất thú vị, Công ty Liên Thành được lập từ thời ấy đến nay vẫn còn và vẫn làm ăn phát đạt). Chúng tôi muốn đi theo con đường đó, tìm mọi hình thức, đa dạng, năng động, sáng tạo “đi buôn”, để nuôi một ngôi trường nghĩa thục. Rất linh hoạt, nhưng để đi đến nghĩa thục. Đây là con đường rất khó khăn, nhưng chúng tôi quyết làm.

Vì sao phải làm nghĩa thục? Tôi không tin một ngôi trường buôn bán giáo dục lại có thể tạo nên những con người như ta đang muốn tạo cho đất nước: trung thực, độc lập, tự chủ, sáng tạo, có trách nhiệm cao với xã hội, giỏi giang, thành đạt ở đời. Một con người như vậy chỉ có thể được tạo nên bởi một nền giáo dục trung thực. Như chúng ta đều biết, một căn bệnh hiểm nghèo đang gặm nhấm đến xương cốt xã hội chúng ta, là bệnh giả dối. Trong giáo dục, giả dối cũng đang tràn ngập. Chỉ có thể chống lại căn bệnh chết người ấy, cứu xã hội, cứu đất nước, bằng một nền giáo dục trung thực, những ngôi trường trung thực, con người trung thực từ trên ghế nhà trường. Một ngôi trường buôn bán giáo dục thì tức đã dối trá ngay từ đầu. Chỉ có những ngôi trường trung thực mới tạo nên được con người trung thực, cho xã hội trung thực.

Hiện các trường ĐH tư được xem như các công ty cổ phần, tức các hội buôn, ai muốn tham gia phải bỏ tiền, và ai nhiều tiền hơn thì chỉ huy tuyệt đối và toàn diện ngôi trường! Gần đây hiện tượng “bán trường” đang diễn ra ngày càng trắng trợn và phổ biến. Chúng tôi muốn thoát ra tình cảnh thê thảm đó.

* Hiện nay đa phần học sinh không thích dự thi vào các trường cao đẳng (CĐ) hay học nghề. Ông nghĩ gì về điều này?

- Tôi đã nghe nhiều trao đổi sôi nổi về các trường “đẳng cấp quốc tế” đang được nhà nước bỏ tiền rất lớn đầu tư để vào tốp nọ tốp kia. Hẳn đều tốt cả thôi. Duy chỉ có điều không thấy ai nhắc một câu, một chữ, đến các khoa học xã hội nhân văn!

Và tại sao không làm CĐ? Đúng hơn đây là mô hình ĐH cộng đồng 2 năm, có liên thông tốt, mềm với ĐH 4 năm. Trong hội thảo vừa qua, một chuyên gia có rất nhiều kinh nghiệm trong giáo dục và từng nghiên cứu sâu về ĐH Mỹ, cho biết: ở Mỹ có những ĐH rất lớn và lừng danh như Harvard, Princeton, MIT… nhưng bên ấy người ta tự hào nhất không phải là về các ĐH đó mà là về hệ thống ĐH cộng đồng của họ! Tôi cho rằng coi thường mô hình ĐH cộng đồng là một trong những sai lầm lớn của giáo dục Việt Nam. Chúng ta nghèo mà bao giờ cũng chỉ muốn “chơi sang”. CĐ (hay ĐH cộng đồng được liên thông tốt) vừa đảm bảo cho con người sớm có nghề, là việc hết sức thiết thực, đồng thời cũng là tạo đầu vào tốt cho ĐH. Miền Trung nghèo, rất nên suy nghĩ về điều này.

Và cũng cần nghĩ đến một hình thức dự bị ĐH, vì nhiều lý do: Với lối học và thi hiện nay, các em không qua được kỳ thi ĐH chưa hẳn tất cả đều là kém. Thậm chí những em có tư duy độc lập lại thường dễ bị trượt trong lối học và thi “thuộc lòng” còn chưa chữa được hiện nay. Cần tạo lại cơ hội cho các em. Mặt khác, lối học ở phổ thông hiện nay quả thật không chuẩn bị được tốt cho sinh viên vào ĐH, khiến ĐH thành một thứ “phổ thông cấp 4” (mà cũng là phổ thông tồi). Cần chuẩn bị lại cho các em cách học ĐH (đúng ra là cách học nói chung, kể cả ở phổ thông) mà chúng ta đã làm hỏng.

Mai Nhung (thực hiện)
(Báo Thanh Niên)

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC VÀ NỖI ƯU TƯ VĂN HÓA

Thỉnh thoảng, bạn đọc vẫn gặp nhà văn Nguyên Ngọc trên các báo, ông viết những bài viết ngắn, tâm huyết có tính chất trao đổi, mạn đàm. Thỉnh thoảng lại gặp ông ở một cuộc hội thảo, ở một giờ trao đổi về thể loại văn chương. Và nay thì những bài viết ấy được tập hợp trong một cuốn sách...


Có đọc Nghĩ đọc đường (NXB Văn nghệ) mới thấy trong nhà văn nổi tiếng Nguyên Ngọc luôn ẩn hiện một con người ưu thời mẫn thế. Trong tác phẩm của ông, gần như làm gì để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là câu hỏi và cũng là chủ đề nhất quán và xuyên suốt. Kiến giải những vấn đề văn hóa, bao giờ Nguyên Ngọc cũng có những ý kiến cá nhân hết sức độc đáo. Nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc, ông cho rằng "nên thử nghĩ lại về bản sắc, thế nào là bản sắc ?". Từ câu hỏi này, nhà văn đã tìm lại trong lịch sử và chứng minh rằng, bản sắc văn hóa dân tộc không phải là cái gì bất biến trong tiến trình vận động, nó luôn luôn là một sự tiếp biến, hội nhập. Và ở đây, một bài học lớn được rút ra là "Người ta chỉ có thể trở thành phong phú và cường tráng chính bằng khả năng hội nhập được với cái khác mình" và "Thay đổi được bản sắc của mình cũng là một biểu hiện sức mạnh tinh thần của một cộng đồng" (Nghĩ thêm về bản sắc). Thông qua một người bạn Philippines, Nguyên Ngọc đồng ý rằng văn hóa phải là cái thắng, cái phanh, cái hãm của xã hội : "Văn hóa là sự bình tâm của xã hội, là phần lương tâm sâu xa bền vững nhất của nó, phần tự vấn thường xuyên của con người, của xã hội, của dân tộc" (Anh bạn “ánh chớp" lặng thầm của tôi). Nói như vậy có nghĩa động lực văn hóa là động lực của sự thức tỉnh lương tâm con người trước những biến đổi rất nhiều dâu bể.

Hết sức bình tĩnh và công tâm, nhà văn Nguyên Ngọc đề cập đến những vấn đề cốt lõi nhất cần thay đổi trong chính sách giáo dục ở nước ta hiện nay - một bức xúc lớn mang tính thời sự. Ông cho rằng “xây dựng một nền giáo dục không phải để nhằm đào tạo nên những cái máy tinh xảo được nạp một bộ nhớ kiến thức khổng lồ... mà là tạo nên những con người tự do, biết và dám độc lập suy nghĩ, biết cách tự mình chiếm lĩnh lấy kiến thức, tự mình đi khám phá ra chân lý, lẽ phải”. Ông sâu sắc chỉ ra cái gọi là "hư học" của một nền giáo dục. Ông chỉ ra sự cần thiết phải xem xét “sự nặng nề” trong sách giáo khoa; đề nghị "về cơ bản bỏ thi, bỏ tất cả các kỳ thi ở các cấp, đặc biệt bỏ thi vào đại học"; xem xét và thay đổi toàn bộ quá trình giáo dục từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy và học ở từng cấp, tôn trọng sự phát triển tối đa của cá tính, bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội học tập, lưu ý đào tạo người tài mở cửa đại học cho số đông... với một trách nhiệm công dân nghiêm túc.


Một ngày bình yên. Ảnh :Tư liệu

Và như bấy lâu nay Nguyên Ngọc vẫn ưu tư, ông đã trở lại với một vấn đề hết sức nhạy cảm: sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Đây có lẽ là những trang viết hay nhất của cuốn sách. Với những luận điểm chặt chẽ khoa học và một tình yêu mãnh liệt dành cho đất và người Tây Nguyên, nhà văn Nguyên Ngọc đã chỉ ra những sai lầm rất lớn khi vùng đất Tây Nguyên bị vắt kiệt bởi nạn tăng dân số cơ học có khi lên đến 7%, bởi chính sách khoán rừng đến hộ gia đình không phù hợp. Những kế sách kinh tế sai lầm đã phá vỡ cơ chế xã hội đặc sắc đó là văn hóa làng - rừng của đồng bào Tây Nguyên. Rừng là không gian sinh tồn của làng, mất rừng là mất làng, đồng bào Tây Nguyên không hề có quan niệm tư hữu về cái gọi là hộ gia đình. Chính vì vậy, phát triển ổn định vùng đất Tây Nguyên phải nắm vững tổ chức xã hội của đồng bào Tây Nguyên, hiểu rõ sự bảo tồn không tách rời văn hóa rừng và làng.

Cũng từ góc độ văn hóa, tình yêu dành cho văn hóa Tây Nguyên, nhà văn Nguyên Ngọc đã đề cập hai thành tố văn hóa Tây Nguyên đặc sắc đó là căn phòng chung và sử thi. Dù gọi là nhà gươl (Cơtu), nhà rông (Bana, Xơđăng) hay nhà dài (Êđê)... thì căn phòng chung ấy là linh hồn của làng và tượng trưng cho tinh thần cộng đồng. Ông cho rằng, "giải pháp kiến trúc chẳng hạn cho các căn phòng trong một ngôi nhà Tây Nguyên hóa ra chẳng đơn giản tí nào, chẳng hề đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật hay thậm chí một vấn đề thẩm mỹ" vì "từ vị trí, diện tích cho đến trang trí, đều có căn nguyên và ý nghĩa văn hóa xã hội sâu xa" . Sử thi Tây Nguyên đã thực sự làm kinh ngạc thế giới kể từ phát hiện viên ngọc vô giá Trường ca Đam San những năm 20 của thế kỷ trước. Cho đến nay đã có hơn 200 bộ sử thi được sưu tầm, và người ta không thể giải thích được hiện tượng mật độ sử thi kỳ lạ này ở Tây Nguyên. Cũng theo nhà văn Nguyên Ngọc không chỉ kỳ lạ ở số lượng đồ sộ khó tưởng tượng, nó còn kỳ lạ vô cùng ở cách thức biểu hiện trong đời sống hằng ngày của người Tây Nguyên "khi kể sử thi, không phải người ta đọc lại một bản sử thi đã thuộc lòng mà người ta nhìn thấy, nhìn thấy tất cả những cái ấy, tất cả những nhân vật, những cảnh tượng ấy". Trái tim rung động bồi hồi, Nguyên Ngọc kể lại một đêm nghe sử thi để được "nhân cuộc sống của mình lên thêm vô số lần, sống thêm được bao nhiêu cuộc đời khác nữa".

Suốt một đời cầm bút với những năm tháng lăn lộn ở chiến trường sống và viết, rồi những năm tháng hòa bình nhiều trăn trở, suy ngẫm về văn hóa là nỗi lo canh cánh của nhà văn Nguyên Ngọc. Đọc Nghĩ dọc đường, bất chợt tôi nhớ những cánh rừng xà nu bị pháo bắn tan tành, nhưng rồi sau đó như có phép lạ, những chiếc chồi nhỏ lại mọc lên đâm thủng những vết cháy từ thân cây mẹ. Phải chăng sức sống của cây xà nu chính là biểu trưng của những giá trị văn hóa bền vững, và sức sống ấy chỉ bất diệt khi nó được gìn giữ và bảo tồn thường xuyên. Đây cũng là bức thông điệp phát đi từ trách nhiệm công dân của nhà văn gốc Quảng Nam, Nguyên Ngọc.

Xuân Hoàng
(Báo Quảng Nam)
http://baoquangnam.com.vn/van-hoa-van-nghe/van-hoa/1544-nha-van-nguyen-ngoc-va-noi-uu-tu-van-hoa.html

HỌC MỖI NGÀY, DẠY VÀ HỌC

5 tháng 6, 2011

Cà rốt, nhân sâm của người nghèo

Tác giả: Bs Nguyễn Ý Đức


1. CÀ RỐT, NHÂN SÂM CỦA NGƯỜI NGHÈO

HOCMOINGAY. Sâm là món thuốc quý trong y học đông phương mà ngày nay y học thực nghiệm Tây phương cũng phần nào công nhận. Nhưng sâm là dược thảo đắt tiền nên dân bạch đinh ít người có cơ hội sử dụng. Và các nhà y học cổ truyền đã khám phá ra một thảo mộc có giá trị tương tự như sâm để thay thế. Đó là củ cà rốt nho nhỏ, màu đỏ mà các vị lương y này coi như là một thứ nhân sâm của người nghèo.


Có lẽ vì là “nhân sâm của người nghèo”, nên cà rốt được tạo hóa đặc biệt ưu tiên ban cho dân chúng ở vùng đất sỏi đá Afghanistan từ nhiều ngàn năm về trước để dân chúng bồi bổ, tăng cường sức khỏe.

Từ mảnh đất nghèo khó đó, cà rốt được các đế quốc La Mã, Hy Lạp khi xưa biết tới giá trị dinh dưỡng cũng như y học. Họ mang về trồng làm thực phẩm và để chữa bệnh. Các danh y hai quốc gia này như Hippocrattes, Galen, Diocorides..đã lên tiếng ca ngợi cà rốt vừa là thức ăn ngon, vừa là dược thảo tốt để chữa bệnh cũng như tăng cường khả năng tình dục.

Trải qua nhiều thế kỷ, cà rốt du nhập tới các quốc gia khác trên khắp trái đất và là món ăn ưa chuộng của mọi người dân, không kể giầu nghèo. Người Tây Ban Nha mang cà rốt đến châu Mỹ vào thế kỷ thứ 15, rồi người Anh cũng mang theo khi họ đi chinh phục Mỹ vào thế kỷ thứ 16.

Hiện nay, Trung Hoa đứng đầu về số lượng sản xuất cà rốt, tiếp theo là Hoa Kỳ, Ba Lan, Nhật Bản, Pháp, Anh và Đức. Mỗi năm, Hoa kỳ thu hoạch trên 1,5 triệu tấn cà rốt, hơn một nửa được trồng ở tiểu bang California.

Cà rốt có nhiều mầu khác nhau như trắng, vàng, đỏ và tím đỏ. Loại cà rốt đầu tiên ỏ A Phú Hãn có mầu trắng, đỏ, vàng. Hòa Lan là quốc gia đầu tiên trồng cà rốt màu cam vào khoảng đầu thế kỷ 17.

Mầu của cà rốt tùy thuộc vào một số yếu tố như là: nhiệt độ nóng quá hoặc lạnh quá làm giảm mầu cà rốt; cà rốt thu hoạch vào mùa Xuân và Hạ có mầu xậm hơn là vào mùa Thu và Đông; tưới nước quá nhiều và nhiều ánh sáng làm giảm mầu cà rốt...

Cà rốt được trồng bằng hạt từ tháng Giêng tới tháng Bảy, nẩy mầm sau hai tuần lễ và có củ trong thời gian từ hai tới ba tháng.

Cà rốt có thể nhỏ síu bằng đầu ngón tay em bé hoặc dài tới ba gang tay, đường kính bằng cổ tay.

Cà rốt là tên phiên âm từ tiếng Pháp carotte. Tên khoa học là Dacus carota. Người Trung Hoa gọi là Hồ La Bặc. Theo họ, loại rau này có nguồn gốc từ nước Hồ, và có hương vị như rau la-bặc, một loại cải của Trung Hoa.

1.- Giá trị dinh dưỡng

Một củ cà rốt cỡ trung bình có 19 mg calci, 32 mg phospho, 233 mg kali, 7 mg sinh tố C, 7 gr carbohydrat, 5 gr đường, 2gr chất xơ, 1gr chất đạm, 6.000mcg sinh tố A, 40 calori, không có chất béo hoặc cholesterol.

Một ly (240ml) nước cà rốt lạnh nguyên chất cung cấp khoảng 59 mg calci, 103 mg phospho, 718 mg kali, 21 mg sinh tố C, 23 g carbohydrat và 18.000mcg sinh tố A. Thật là một món giải khát vừa ngon vừa bổ dưỡng.

*Cà rốt như thực phẩm

Vị dịu ngọt của cà rốt rất thích hợp với nhiều thực phẩm khác, cho nên có nhiều cách để nấu nướng cà rốt.

Cà rốt có thể ăn sống hay nấu chín với nhiều thực phẩm khác, nhất là với các loại thịt động vật. Người viết không dám lạm bàn. Chỉ xin thưa rằng: bò kho mà không có cà rốt thì chẳng phải bò kho. Cảm lạnh mà được một bát canh thịt nạc nấu với cà rốt, đậu hà lan thêm vài nhánh hành tươi, ăn khi còn nóng hổi thì thấy nhẹ cả người. Chả giò chấm nước mắm pha chua, cay, ngọt mà không có cà rốt thái sợi thì ăn mất ngon. Cà rốt cào nhỏ, thêm chút bơ ăn với bánh mì thịt nguội thì tuyệt trần đời...

Dù ăn cách nào, sống hay chín, cà rốt vẫn giữ được các chất bổ dưỡng. Đặc biệt khi nấu thì cà rốt ngọt, thơm hơn vì sức nóng làm tan màng bao bọc carotene, tăng chất này trong món ăn. Nhưng nấu chín quá thì một lượng lớn carotene bị phân hủy.

Cà rốt ăn sống là món ăn rất bổ dưỡng vì nhiều chất xơ mà lại ít calori. Cà rốt tươi có thể làm món rau trộn với các rau khác.

Cà rốt đông lạnh cũng tốt như cà rốt ăn sống hoặc nấu chín, chỉ có cà rốt phơi hay sấy khô là mất đi một ít beta carotene. Cà rốt ngâm giấm đường cũng là món ăn ưa thích của nhiều người.

Ăn nhiều cà rốt đưa đến tình trạng da có màu vàng như nghệ. Lý do là chất beta caroten không được chuyển hóa hết sang sinh tố A nên tồn trữ ở trên da, nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân, sau vành tai. Tình trạng này không gây nguy hại gì và màu da sẽ trở lại bình thường sau khi bớt tiêu thụ cà rốt.

*Nước vắt cà rốt là món thức uống tuyệt hảo.

Rửa sạch cà rốt với một bàn chải hơi cứng, đừng bỏ hết vỏ vì sinh tố và khoáng chất nằm ngay dưới vỏ. Sau khi ép, nên uống ngay để có hương vị tươi mát. Muốn để dành nước cà rốt, nên cho vào chai đậy kín để tránh oxy hóa rồi cất trong tủ lạnh. Nên lựa cà rốt lớn, chắc nịch với mầu vàng đậm hơn là loại vàng nhạt, để có nhiều caroten.

Có thể pha uống chung nước cốt cà rốt với nước trái cam, cà chua, dứa để tạo ra một hỗn hợp nước uống mang nhiều hương vị khác nhau.

Lá cà rốt cũng có thể ăn được, nhưng hơi đắng vì chứa nhiều kali. Lá có nhiều chất đạm, khoáng và sinh tố. Để bớt cay, trộn một chút giấm đường. Lá có tính cách sát trùng nên nước cốt lá cà rốt được thêm vào nước súc miệng để khử trùng.

2.- Công dụng y học

Cà rốt chứa rất nhiều beta carotene, còn gọi là tiền- vitamin A, vì chất này được gan chuyển thành sinh tố A với sự trợ giúp của một lượng rất ít chất béo.

Trong 100 gr cà rốt có 12.000 microgram (mcg) caroten, có khả năng được chuyển hóa thành khoảng 6000mcg vitamin A trong cơ thể. Trong khi đó thì lượng caroten do 100gr khoai lang cung cấp là 6000 mcg, xoài là 1,200 mcg, đu đủ từ 1,200 đến 1,500 mcg, cà chua có 600mcg, bắp su có 300 mcg, cam có 50 mcg caroten...

Nhà dinh dưỡng uy tín Hoa Kỳ Roberta Roberti đã liệt kê một số công dụng của cà rốt đối với cơ thể như: làm tăng tính miễn dịch, nhất là ở người cao tuổi, giảm cháy nắng, giảm các triệu chứng khó chịu khi cai rượu, chống nhiễm trùng, chống viêm phổi, giảm bớt mụn trứng cá, tăng hồng huyết cầu, làm vết thương mau lành, giảm nguy cơ bệnh tim mạch

Bản hướng dẫn về dinh dưỡng của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ vào năm 1995 có ghi nhận rằng ‘Các chất dinh dưỡng chống oxy hóa trong thực phẩm thực vật như sinh tố C, carotene, sinh tố A và khoáng selenium đều được các nhà khoa học thích thú nghiên cứu và quần chúng ưa dùng vì chúng có khả năng giảm thiểu rủi ro gây ra ung thư và các bệnh mãn tính khác’

Từ thời xa xưa ở Ấn Độ, Hy Lạp và La Mã, cà rốt, nước ép cà rốt, trà cà rốt đã được dùng để trị bệnh

*Cà rốt với bệnh ung thư

Beta carotene có tác dụng chống ung thư trong thời kỳ sơ khởi, khi mà các gốc tự do tác động để biến các tế bào lành mạnh thành tế bào bệnh. Beta carotene là chất chống oxi hóa, ngăn chận tác động của gốc tự do, do đó có thể giảm nguy cơ gây ung thư phổi, nhiếp hộ tuyến, tụy tạng, vú và nhiều loại ung thư khác.

Theo nhà thảo mộc học J.L.Hartwell thì cà rốt được dùng trong y học dân gian tại một số địa phương rải rác trên thế giới như Bỉ, Chí Lợi, Anh, Đức, Nga, Mỹ... để trị các chứng ung thư, mụn loét có tính ung thư, chứng suy gan và suy tủy sống.

Kết quả nghiên cứu tại Anh và Đan Mạch cho hay chất Falcarinol trong cà rốt có thể giảm nguy cơ ung thư. Bác sĩ Kirsten Brandt, giáo sư tại Đại học Newcastle và là một thành viên của nhóm nghiên cứu cho hay, họ sẽ tiếp tục tìm hiểu coi phải dùng một số lượng là bao nhiêu để hóa chất này có tác dụng ngừa ung thư. Giáo sư Brandt cũng tiết lộ là vẫn ăn cà rốt mỗi ngày.

*Cà rốt với ung thư phổi

Kết quả nghiên cứu của giáo sư dinh dưỡng Richard Baybutt và cộng sự tại Đại học Kansas, Hoa Kỳ, cho hay chất gây ung thư benzo(a)pyrene có thể gây ra thiếu sinh tố A trong cơ thể chuột và đưa tới bệnh emphysema. Ông kết luận rằng một chế độ dinh dưỡng có nhiều sinh tố A sẽ bảo vệ cơ thể đối với ung thư phổi và khí thũng phổi (emphysema).

*Cà rốt với hệ tiêu hóa

Súp cà rốt rất tốt để hỗ trợ việc điều trị bệnh tiêu chẩy, đặc biệt là ở trẻ em. Súp bổ sung nước và các khoáng chất thất thoát vì tiêu chẩy như K, sodium, phosphor, calcium, magnesium..

Một số bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhận xét rằng cà rốt làm bớt táo bón, làm phân mềm và lớn hơn vì có nhiều chất xơ. Do công dụng này, cà rốt cũng có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột già

*Cà rốt với thị giác

Cà rốt không ngăn ngừa hoặc chữa được cận thị hay viễn thị nhưng khi thiếu sinh tố A, mắt sẽ không nhìn rõ trong bóng tối. Cà rốt có nhiều beta caroten, tiền thân của sinh tố A. Ở võng mạc, sinh tố A biến đổi thành chất rhodopsin, mầu đỏ tía rất cần cho sự nhìn vào ban đêm. Ngoài ra, beta caroten còn là một chất chống oxy hóa rất mạnh có thể ngăn ngừa võng mạc thoái hóa và đục thủy tinh thể. Đây là hai trong nhiều nguy cơ đưa tới khuyết thị ở người cao tuổi.

Chúng ta chỉ cần ăn một củ cà rốt mỗi ngày là đủ sinh tố A để khỏi bị mù ban đêm.

Nhiều người còn cho là cà rốt với số lượng sinh tố A và Beta Carotene lớn còn có khả năng chữa và ngăn ngừa được các chứng viêm mắt, hột cườm mắt, thoái hóa võng mạc...

Một sự trùng hợp khá lạ là khi cắt đôi, củ cà rốt với các vòng tròn lan ra chung quanh trông giống như đồng tử (pupils) và mống mắt (iris). Như vậy phải chăng tạo hóa đã sắp đặt để con người nhận ra giá trị của cà rốt đối với cặp mắt...

*Cà rốt với bệnh tim

Nghiên cứu tại Đại học Massachsetts với 13,000 người cao tuổi cho thấy nếu họ ăn một củ cà rốt mỗi ngày thì có thể giảm nguy cơ cơn suy tim tới 60%. Đó là nhờ có chất carotenoid trong cà rốt.

*Cà rốt với cao cholesterol

Bác sĩ Peter Hoagland thuộc Bộ Canh Nông Hoa Kỳ cho hay chỉ ăn hai củ cà rốt mỗi ngày có thể hạ cholesterol xuống từ 10-20%.

Thí nghiệm bên Scotland cho thấy tiêu thụ 200 g cà rốt sống mỗi ngày, liên tục trong 3 tuần lễ, có thể hạ mức cholesterol xuống khoảng 11%.

Các nhà nghiên cứu tại Đài Loan cũng có cùng ý kiến.


*Cà rốt với bệnh tiểu đường

Theo S Suzuki, S Kamura, tiêu thụ thực phẩm có nhiều carotenoid có thể làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường loại 2 bằng cách tăng tác dụng của insulin.


*Cà rốt với phụ nữ

Với phụ nữ, cà rốt có thể mang tới nhiều ích lợi như làm giảm kinh nguyệt quá nhiều, giảm triệu chứng khó chịu trước khi có kinh, bớt bị chứng viêm âm hộ và nhiễm trùng đường tiểu tiện nhất là giảm nguy cơ loãng xương sau thời kỳ mãn kinh.

3.- Cà rốt trong đời sống

Các khoa học gia tại Đại học York bên Anh đã phân tách từ cà rốt một loại chất đạm đặc biệt có thể dùng để chế biến chất chống đông lạnh (antifreeze) . Nếu thành công, chất chống đông lạnh này sẽ rất hữu dụng ở trong phòng thí nghiệm để lưu trữ tế bào cho mục đích khoa học cũng như cho việc trồng thực vật khỏi bị đông giá.

Tại phòng thí nghiệm của Đại học Uwate, Nhật Bản, nhà nghiên cứu Hiroshi Taniguchi đã khám phá ra rằng, một vài loại rau như cà rốt ớt xanh, pumpkins...có thể được sử dụng để chế biến tia laser. Laser hiện nay dược dùng rất phổ biến trong mọi lãnh vực y khoa học.

Trong thế chiến II, phi cơ Đức quốc Xã thường oanh tạc Luân Đôn vào ban dêm để tránh bị phòng không Anh bắn hạ. Quân đội Anh lại mới sáng chế ra máy radar để tìm bắn máy bay địch vào ban đêm. Để dấu phát minh này, giới chức quân sự Anh nói rằng phi công của họ ăn nhiều cà rốt nên phát hiện được máy bay dịch rất rõ, ngày cũng như đêm. Quân đội Đức không tìm hiểu thêm vì tại nước họ cũng có nhiều người tin như vậy. Đây chỉ là một giai thoại mà thôi.

4.- Lựa và Cất giữ cà rốt

Mua cà rốt, nên lựa những củ còn lá xanh tươi, củ phải chắc nịch, mầu tươi bóng và hình dáng gọn gàng, nhẵn nhụi. Cà rốt càng có đậm mầu cam là càng có nhiều beta caroten. Tránh mua cà rốt bị nứt, khô teo. Nếu cà rốt không còn lá, nhìn cuống coi có đen không. Nếu cuống đen là cà rốt quá già.

Vì đa số đường của cà rốt nằm trong lõi, nên củ càng to thì lõi cũng lớn hơn và ngọt hơn.

Cà rốt là loại rau khỏe mạnh, chịu đựng được điều kiện thời tiết khó khăn nên có thể để dành lâu hơn nếu biết cách cất giữ.

Trước hết là đừng để thất thoát độ ẩm của rau. Muốn vậy, cất cà rốt ở ngăn lạnh nhất của tủ lạnh, trong túi nhựa hoặc bọc bằng giấy lau tay. Đừng rửa trước khi cất tủ lạnh, vì cà rốt quá ướt trong túi sẽ mau bị hư. Chỉ rửa trước khi ăn. Cất như vậy có thể để dành được hơn hai tuần lễ.

Đừng để cà rốt gần táo, lê, khoai tây vì các trái này tiết ra hơi ethylene làm cà rốt trở nên đắng, mau hư.

Nếu cà rốt còn lá, nên cắt bỏ lá trước khi cất trong tủ lạnh, để tránh lá hút hết nước của củ và mau hư.

Trước khi ăn, rửa củ cà rốt với một bàn chải hơi cứng. Ngoại trừ khi cà rốt quá già hoặc e ngại nhiễm thuốc trừ sâu bọ, không cần gọt bỏ vỏ.

Cà rốt có thể làm đông lạnh để dành mà vẫn ngon.

Trước hết, phải trụng cà rốt trong nước sôi. Đây là cách để dành đông lạnh cho tất cả các loại rau. Trụng như vậy sẽ ngăn cản tác dụng làm mất hương vị, cấu trúc của thực phẩm.do các enzym có sẵn trong rau.

Sau khi trụng trong nước sôi độ mươi phút, lấy cà rốt ra, cho vào bao nhựa rồi để ngay vào ngăn đông đá.


5.- Kết luận

Cà rốt là món ăn khá rẻ tiền so với lượng dinh dưỡng quý giá mà rau cung cấp. Nhiều người ít ăn cà rốt chỉ vì thiếu hiểu biết đầy đủ về giá trị dinh dưỡng của thực phẩm này. Mặt khác, tập quán ăn uống vốn được thành hình từ thói quen lâu ngày. Cà rốt là loại cây trồng mới được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ trước, nên đối với phần đông người Việt, nhất là những người ở xa thành phố, vẫn chưa quen thuộc với việc sử dụng cà rốt thường xuyên trong ngày.



Xin nhắc lại một số đặc tính của cà rốt:

-Cà rốt có hương vị thơm ngọt, có thể ăn chung với thực phẩm khác

-Cà rốt có thể ăn sống hoặc nấu chín

-Trẻ em rất thích ăn cà rốt vì hương vị nhẹ nhàng của cà rốt

-Cà rốt sống mang đi cắm trại hoặc ăn giữa ngày snack rất tiện

-Giá cà rốt tương đối rẻ, lại có sẵn quanh năm

-Cà rốt có nhiều sinh tố A, beta caroten, sinh tố A cần cho làn da, mắt, tóc, sự tăng trưởng và phòng chống bệnh nhiễm. Beta caroten có khả năng giảm thiểu các bệnh kinh niên như tim mạch, ung thư

-Cà rốt có nhiều chất xơ, giảm cholesterol và bệnh đường ruột

-Cà rốt cung cấp rất ít calori, nên ăn nhiều không sợ bị mập phì

Nếu biết tận dụng loại thực phẩm này với các đặc tính như trên, chắc chắn chúng ta sẽ nâng cao tình trạng sức khỏe cũng như phòng ngừa được hầu hết các bệnh do thiếu vitamin A.

BS. Nguyễn Ý Đức, Texas

5 phút thư giản:

El verdadero Baile del Perro.flv

Người theo dõi