Lưu trữ Blog

19 tháng 10, 2014

Tuổi già là thời sung sướng nhất


Vui thú tuổi già. Ảnh: Internet

Tuổi già là thời sung sướng nhất

Trần Hữu Dũng . 

Khi đã lớn tuổi, thì con người được nhiều tự do hơn, được thong thả hơn để sống.  Không còn phải như em bé bị cha mẹ ép buộc, bây giờ thì muốn làm chi thì làm, muốn thức khuya dậy sớm gì, cũng chẳng còn ai la mắng dọa nạt, rầy la.  Nếu vợ vì thương, sợ mất sức khỏe, thì cũng cằn nhằn chút chút thôi, mình không nghe thì cũng chẳng bị roi đòn gì. 


Không còn phải khổ công học tập, lo lắng cho tương lai mai sau, chẳng phải học thêm chi cho mệt trí, biết quá nhiều, biết quá đủ rồi.  Nếu đã nghỉ hưu, thì học thêm làm chi.  Nếu còn đi làm, thì cũng đã rành nghề, quen tay quen việc, làm việc dễ dàng. 

Khi già tình yêu cũng không còn là mối bận tâm, không quan trọng quá, chưa nghe báo đăng các cụ già trên dưới sáu mươi tự vẫn chết vì thất tình.  Tội chi mà chết vì tình trong tuổi già, vì cũng sắp thấy Diêm Vương rồi, việc chi mà đi sớm hơn.  Khôn quá rồi, chết vì tình yêu là nông nỗi. 

Đời sống tình cảm của tuổi già êm đềm hơn, ít đau đớn ít sôi động, và bình lặng.  Tuổi già rồi, các ông không còn tính chuyện mèo mỡ lăng nhăng, khỏi phải lo lắng sợ vợ khám phá ra chuyện giấu giếm mà nhà tan cửa nát.  Đỡ tốn tiền quà cáp, đỡ tốn thì giờ lui tới các nơi bí mật.  Hồi hộp, đau tim.  Các bà khỏi phải lo chuyện đi đánh ghen, không còn cần phải chăm chút nhan sắc làm chi nữa, vì như chiếc xe cũ rệu, có sơn phết lại cũng xộc xệch, cũng méo mó.  An tâm và chấp nhận, thì khỏi băn khoăn mà vui. 

Cũng có một số ít những cặp vợ chồng già đem nhau ra tòa chia tay, vì khi già cả hai đều trở thành khó tính.  Hậu quả của ly dị trong tuổi già không trầm trọng như khi còn trẻ, vì con cái đã lớn, đã tự lập, không còn ảnh hưởng nhiều đến tương lai chúng và tương lai của chính mình.  Vì còn sống bao lâu nữa mà lo lắng chi cho nhiều.  Xa được ông chồng khó tính, độc tài là mừng.  Dứt được bà vợ đanh đá, bạc ác là phải sung sướng.  Khỏe trí. 

Tuổi già, cố giữ cho còn có nhau, khi đã đến nước ly dị, thì hai bên đều đúng, đều có lý.  Đây là hành động tự cứu mình, và cứu người ra khỏi cảnh khổ lúc cuối đời, khi mà mộ bia đã thấp thoáng trước mắt, không còn bao nhiêu ngày nữa. 

Có điều ít ai nghĩ đến, là càng già, thì càng dễ tìm một người bạn đời để nối lại, để an ủi nhau trong tuổi xế chiều.  Vì chung quanh họ, có thiếu chi người đứt gánh nửa đường.  Chồng chết, vợ chết, ly dị.  Vấn đề là không sao tìm được một người có chung nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa, nhiều chia sẻ như người phối ngẫu cũ. 

Tình già cũng nhẹ nhàng, thong thả, ít khổ đau, ít sôi nổi hơn tình khi còn trẻ trung.  Sức lực cũng có còn bao nhiêu mà ghen tương nhau chi, mà lo lắng chi cho thêm mệt, những người lớn tuổi kinh nghiệm và biết rõ như vậy.  Nhiều người trẻ, sau khi gia đình tan vỡ thì xuống tinh thần, uống ruợu đánh bài tìm quên, đôi khi không phải vì họ quá thương yêu người cũ mà tự hủy hoại đời mình, mà chính vì họ tự thương thân, tự ái bị xúc phạm, và rồi sa lầy vào ruợu chè cờ bạc.  Người lớn tuổi thì suy nghĩ khác.  Họ nghĩ rằng ta cũng đã gần đất xa trời rồi, có sống thêm bao lâu nữa mà sầu khổ cho mệt.  Mất củ khoai lang, thì kiếm củ khoai mì bù vào. 

Tuổi già biết giá trị tương đối của tình yêu nên không tìm tuyệt hão, không tìm lý tưởng, và nhờ vậy không bị thực tế phũ phàng làm vỡ mộng, đau khổ.  Khi già rồi, có ai hỏi tuổi, thì cũng không cần giấu diếm, không cần sụt đi năm bảy tuổi làm chi.  Sướng lắm.  Vì có sụt tuổi, cũng không giấu được những nếp nhăn, mà chẳng có ích lợi gì.  Nếu tự cọng thêm cho mình chừng chục tuổi, thì không chừng được thiên hạ nức nở khen là còn trẻ, trẻ quá, và họ mơ ước được như mình. 

Các ông có vợ đẹp, khi lớn tuổi cũng đỡ lo bọn dê xồm dòm ngó, lăm le dụ dỗ vợ mình.  Con người, ai mà không nhẹ dạ, ai mà không ưa lời nói ngon ngọt êm tai, ai mà không có khi thiếu sáng suốt.  Vợ chồng cũng có khi bất hòa, buồn giận nhau, và những khi nầy, lòng người dễ chao đảo lắm.  Bởi vậy, các ông đỡ nghe các bà hăm he ly dị, hăm he bỏ nhau.  Tuổi nầy các bà cũng thừa khôn ngoan để biết những tên ngon ngọt, hứa hẹn nhiều, thường chỉ là những tên phá đám, chứ không thể tin tưởng được.

Đàn bà có chồng hào hoa, đẹp trai, khi lớn tuổi cũng bớt lo, vì các ông cũng bớt máu nóng, bớt chộn rộn và khôn ngoan hơn thời trẻ trung.  Biết kềm chế hơn, và biết rõ giá trị hạnh phúc gia đình cần gìn giữ hơn là chơi ngông.

Tuổi già, vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi, chịu dựng nhau giỏi hơn, quen với cái thói hư tật xấu của nhau.  Không còn thấy khó chịu nhiều nữa.  Dễ dung thứ cho nhau, chấp nhận nhau, vì họ biết rõ bên cạnh cái chưa tốt của người bạn đời, còn có rất nhiều cái tốt khác. 

Vợ chồng, khi đó biết bao nhiêu là tình nghĩa, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu thân thiết, cho nên hạnh phúc hơn, vui hơn. 
Tình yêu trong tuổi già thâm trầm, có thì giờ bên nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn.  Cũng có nhiều ông bà già ưa cãi vã nhau, cũng dễ hiểu, khi đó tai của cả hai ông bà đều lãng, người nầy nói một đường, người kia hiểu nẻo khác, cho nên buồn nhau giận nhau, không gây gổ sao được?

Tuổi già, thì tất cả mộng ước điên cuồng của thời trẻ trung đã tan vỡ, đã lắng xuống, không còn khích động trong lòng, không còn thao thức nhức nhối.  Họ biết sức mình đến đâu, và không tội chi mà ôm cao vọng cho khổ thân.  Họ còn biết thêm rằng, nếu những cao vọng điên cuồng ngày xưa mà có thành đi nữa, thì e cũng chỉ là hư không, chẳng đáng gì. 

Khi tuổi già, thì biết khôn ngoan mà an phận, biết vui với bình thường.  Biết đâu là hạnh phúc chân chính.  Nhiều người già rồi mới tiếc suốt một thời son trẻ không biết sống, phí phạm thời gian theo đuổi những huyễn mộng, làm đau khổ mình, làm điêu đứng người khác. 

Tuổi già, vui khi thấy mình hết nông nỗi, nhìn đời bằng cái tâm tĩnh lặng hơn.  Ai khen không hớn hở mừng, ai chê không vội vã hờn giận.  Vì biết rõ mình không có gì xuất chúng để thiên hạ khen nịnh.  Và biết mình cũng có nhiều cố tật không chừa được, đáng chê.  Chê thì chê, khen thì khen.  Khen cũng thế, mà chê cũng thế, thì ta vẫn là ta, là một kẻ già, đáng được khoan thứ hơn là trách móc. 

Lúc nầy, không còn muốn làm giàu, không bị con ma tham lam thúc bách để kiếm và tích trữ cho nhiều tiền nhiều bạc.  Con cái cũng đã lớn, không phải chi tiêu nhiều thứ, thì tiền bạc, chỉ cần đủ sống thôi, cũng là thỏa nguyện.  Họ cũng không cần se sua, tranh hơn thua với ai, tinh thần họ vui vẻ, dễ chịu và khỏe khoắn hơn. 

Mối lo âu về tài chánh cũng nghẹ gánh.  Bởi khi đó, nhiều người đã tích trữ được một số tiền nhỏ.  Nhà cửa cũng đã có.  Nợ nhà, nợ xe cũng ít đi, hoặc không còn nữa.  Con cái cũng đã lớn, không còn là gánh nặng cho mình.  Chúng nó đã có nghề nghiệp, đã làm ăn được.  Chắc chắn tương lai chúng khá hơn mình nhiều.  Người già không chi tiêu nhiều, ăn cũng ít đi rồi, chơi cũng không còn phung phí dại dột như tuổi trẻ. 

Khi già, thời gian mới là thực sự của mình, vì không còn phải chạy ngược chạy xuôi kiếm sống nữa.  Không còn bị bó buộc bởi trách nhiệm bổn phận.  Có thể ngồi mơ mộng hàng giờ trên ghế đá công viên, thưởng thức thiên nhiên tuyệt thú, có thể tìm được an bình tuyệt đối, không như thời còn trẻ, đi nghỉ mát, mà thỉnh thoảng cũng bị công việc nhà ám ảnh, nhắc nhở. 

Tuổi già về hưu, là một mong ước của gần như của tất cả mọi người.  Nhiều người gắng làm sao kiếm cho nhiều tiền để dược về hưu sớm hơn.  Nhiều thanh niên, ngày về hưu còn xa lắc, xa lơ mà vẫn mơ ước.  Người Mỹ, trẻ già chi cũng nghĩ đến hưu trí.  Hưu trí trong tuổi già là một phần thưởng của tạo hóa, của xã hội.  Cho sung sướng, nghỉ ngơi.  Già là nghỉ ngơi, là khỏe khoắn. 


Hạnh phúc tuổi già. Ảnh: Internet
Hạnh phúc tuổi già. Ảnh: Internet
 
Mỗi buổi sáng nằm dài trên giường, sáng nào cũng là chủ nhật trong tuần, muốn dậy lúc mấy giờ cũng được, muốn nằm cho đến trưa đến chiều cũng không sao.  Nằm thoải mái, không ai chờ, ai đợi, không có việc gì gấp gáp phải làm, ngoại trừ cái bọng tiểu nó thúc giục, không cho mình nhịn lâu thêm được nữa.  Thế thì sao mà không sung sướng?

Nếu chưa về hưu, còn đi làm việc, thì cái tâm của người lớn tuổi cũng nhẹ nhàng, ít bị những sức căng, bị áp lực đè nén.  Vì tài chánh cũng quan trọng, nhưng không quá quan trọng đến nỗi khi thất nghiệp thì mất xe, mất nhà, mất vợ mất con như những người còn trẻ.  Khi này, nhiều thứ trong cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tiền bạc cũng không quá nhiều.  Vả lại, già rồi, kinh nghiệm công việc nhiều, cho nên giải quyết mọi sự trong dễ dàng, thong thả. 

Bạn đồng sự cũng có chút nể nang, phần vì tuổi tác, phần vì kinh nghiệm.  Có trường hợp, còn có việc thì tốt, mất việc thì mừng hơn, vì có lý do chính đáng để về hưu cho khỏe.  Vì nếu việc có hoài, việc lại dễ dàng, thì tiếc, không muốn về hưu.  Tuổi lớn, không cần thăng tiến, không cần đua chen với ai, cho nên tinh thần thoải mái, được bạn bè chung quanh thương mến hơn.  Những người về hưu rồi, trở lại làm việc, thì đi làm, như đi chơi, chứ không phải “đi cày” như nhiều người khác quan niệm.  Vui thì làm tiếp, chán thì về nhà nghỉ ngơi. 

Người lớn tuổi, thì sức khỏe xuống, bệnh hoạn ồ ạt đến tấn công, không ai thoát khỏi bệnh hoạn.  Nhưng họ lại cảm được cái sung sướng của một ngày khi bệnh thuyên giảm.  Một ngày khi cảm thấy gân cốt ít nhức mỏi hơn, dễ chịu trong từng khớp xương hơn.  Ngưới trẻ đâu có thấy được những nỗi sung sướng này? Vì họ chưa kinh nghiệm, chưa trải qua, nên chưa biết.  Họ có sức khỏe, nhưng họ không biết đó là sung sướng, cho nên, xem như chẳng có giá trị gì.  Anh chị xem, nếu anh chị có một tảng ngọc to bằng cái bàn nằm trong vườn, mà anh chị không biết đó là chất ngọc, thì không biết quý, không biết mình sung sướng có tảng ngọc, mà chỉ quý và sướng vì viên ngọc nhỏ xíu nằm trên chiếc nhẫn mà thôi.  

Có người viết sách rằng, tuổi già, buổi sáng ngủ dậy, nghe xương cốt đau nhức mà mừng, vì biết mình chưa chết.  Tôi thêm rằng, biết mình còn sống là mừng, biết mình đã chết nhẹ nhàng, càng mừng hơn. 

Nầy anh chị có nhớ câu chuyện Thượng Đế khi đuổi tổ phụ loài người là ông Adam và bà Eva xuống trần gian, có chỉ mặt mà phán : “Từ nay chúng mi phải đổ mồ hôi trán mới có hạt cơm vào mồm”.  Đó là câu nguyền rũa độc địa nhất, là lời phán ý nghĩa nhất, là con người phải sống trong nhọc nhằn.  Sách Phật cũng có viết đời là đau khổ, và tu để tránh khổ.  Đó, đời nầy đáng sống lắm, nhưng cũng nhiều khổ đau lắm.  Bởi vậy nên tôi nói, được sống là mừng, mà được chết, cũng mừng.  Tôi đi đám ma ông bạn già, thấy gia đình khóc lóc, rên rỉ thảm thương, con cháu mếu máo kể lể.  Tôi cười trong bụng, nghĩ rằng bọn nầy không biết luật của tạo hóa.  Có sinh thì có diệt.  Chúng nó muốn thân nhân của chúng sống đời đời sao? Biết đâu chỉ là khởi điểm của một cuôc rong chơi.  Nầy, tôi đọc cho anh chị nghe một đoạn thơ của anh bạn tôi:

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó … 
Ai thay da mãi mãi sống muôn đời ?
Kẻ trước, người sau xếp hàng xuống mộ,
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi … 
Khi tuổi già, thì xem cái chết như về.  Ai không phải chết mà sợ.  Sống qua khỏi tuổi năm mươi, là đã lời lắm.  Tuổi trung bình của con người trên thế giới này chưa được con số năm mươi.Thì mình nên tự xem như được sống thêm đời thứ hai. 

Đời trước đã hoàn tất, có cả khổ đau lẫn hạnh phúc.  Đời sau nầy, thì chắc chắn là sung sướng hơn hạnh phúc hơn đời trước.  Vì đã từng trải, đã gom được kinh nghiệm của đời trước, để thấy đâu là hạnh phúc chân thật, đâu là phù du huyễn hão.  Chết là về.  Nhưng chỉ sợ không về được đến nơi đến chốn, mà như chiếc xe hư máy dọc đường.  Làm khổ chủ xe, bắt nằm liệt mê man, không sống mà cũng không chết, đó mới là cái đáng sợ.  Tôi biết vậy, nên đã làm di chúc, khi nào tôi bị mê ba ngày, thì xin rút ống cho tôi đi.  Đi về bình an.

Này, anh chị nghĩ sao về ông bác sĩ mà người ta đặt cho tên là bác sĩ tử thần? Già rồi tôi không nhớ rõ tên, hình như ông ta tên là “Ki-Vô-kiên” (Kevokian — THD) phải không? Cái tên gần gần như vậy.  Theo tôi, thì ông nầy là một vị Bồ Tát, cứu độ cho chúng sinh mau qua khỏi khổ đau, để bị ra tòa, bị tù tội.  Chỉ có cái tâm Bồ Tát thật lớn mới làm được việc đó.  Tôi cố tìm một cái ảnh ông ta để thờ sống, mà không có.  Tôi nghĩ, trong tương lai, luật pháp sẽ không ngăn cấm việc cho người đau đớn ra đi sớm hơn, vì đàng nào cũng chết, tại sao phải kéo cái đau đớn ra dài hơn mới được chết.  Trừng phạt người ta hay sao?

Trong tuổi già, người ta biết ơn sự nhiệm mầu của tạo hóa.  Có bộ máy nào, không phải là gang thép, bạch kim, mà chạy một mạch sáu bảy chục năm không ngưng nghỉ, mà vẫn còn hoạt động như quả tim, buồng phổi, trái thận, cái bao tử, não bộ.  Có hệ thống ống dẫn nào hoạt động sáu bảy chục năm mà chưa thay thế như các mạch máu của hệ thống tuần hoàn.  Thì dù có rò rỉ van tim, chất mỡ đọng nghẹt trong vài ba mạch máu, thì cũng là sự thường tình, và mừng là còn sống, còn sinh hoạt được.  Dù có phải liền liền đi vào cầu tiểu mỗi ngày nhiều lần, thì họ vẫn sung sướng là cái vòi xài mấy chục năm mà vẫn chỉ mới rò rỉ sơ sơ.  Mấy cái vòi nước trong nhà, bằng kim khí cứng, không rỉ sét, thế mà năm bảy năm đã phải thay rồi…

Bài trên viet-studies


Hiểu đời



NGỌC PHƯƠNG NAM. Dạy và học Thung dung đã đạt một triệu lượt người đọc. Trong đó Đọc Hiểu đời của Chu Dung Cơ là một trong số những bài viết được nhiều người xem. Tôi đọc lại bài này và càng thấm thía lời ông: “ Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn. Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình , biết đủ thì lúc nào cũng vui. Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui. Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui… Ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao…’’


HIỂU ĐỜI

Chu Dung Cơ

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.
Qua một ngày mất một ngày.
Qua một ngày vui một ngày.
Vui một ngày lãi một ngày.


Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. 

Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn.

Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! 


Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền.

Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó


“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già. 

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.

Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn, 

Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi. 

Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.
Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.

Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. 

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn. 

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc). 

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui. Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.


Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình. 

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong. 

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già. 

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”. 

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống…).

Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh).
Người khôn phòng bệnh (chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống).


Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh … Tất cả đều là muộn. 

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh. 

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc. 

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào. 

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. 

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt. Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu chấm hết thật tròn.
 

Lời bình của Hoàng Kim

THUNG DUNG. Chu Dung Cơ khi lên nhậm chức thủ tướng Trung Quốc, trước họa tham nhũng và chống đối, ông đã làm “Bàng Đức mang quan tài ra trận”. Dịp đó, chuyện cực ngắn Trung Quốc loan truyền câu chuyện vui “Con chim ngập trong đống phân”. Không hiểu sao, liên tưởng thân phận của những người bị vùi dập trong cách mạng văn hóa nay nhờ ơn tri ngộ của Đặng Tiểu Bình kéo lên từ tủi nhục, tôi lại thấy lo cho ông. Liệu ông có quá “đại ngôn” để rước họa vào thân. Sau này, khi thấy ông xuất xử đúng mực, hợp lý,”dĩ công vi thượng” (đặt việc công lên trên) “tận nhân lực” (làm hết mình) và khéo lui đúng lúc thì mới thấy ông quả là người hiểu đời. Vương Mông, người cùng thời với ông, viết “Triết lý nhân sinh của tôi” dài mà không thừa. Ông (Chu Dung Cơ) thì viết “Hiểu đời” ngắn mà không thiếu. Tôi thích nhất câu” Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn”. Nhưng sao ông lại chỉ nói đến người già trong khi những lời ông đáng suy ngẫm cho lớp trẻ lắm chứ?.
 
BÀNG ĐỨC MANG QUAN TÀI RA TRẬN

Bàng Đức và Mã Đại là những tướng giỏi của Mã Siêu. Trước đó, Mã Siêu trả thù cho cha là Mã Đằng bị Tào Tháo giết hại đã khởi binh Tây Lương cùng Hàn Toại là người em kết nghĩa của cha đánh thắng Tào Tháo nhiều trận lừng lẫy nhờ sự dũng cảm thiện chiến. Sau vì Mã Siêu bị trúng kế ly gián của Tào Tháo nên thua. Mã Siêu rốt cục lại rơi vào kế của Khổng Minh nên cùng Mã Đại về hàng Lưu Bị. Bàng Đức thế cô buộc phải hàng Tào Tháo. 

Từng trãi chiến trân và biết dung nạp nhân tài, Tào Tháo đã không phân biệt đối xử mà trọng đãi Bàng Đức hết mực. Bàng Đức cảm ơn tri ngộ của Tào Tháo nên quyết lấy cái chết để báo đền . Ông đã khiêng quan tài ra trận quyết tử chiến với Quan Vũ, một danh tướng khét tiếng vũ dũng mà mọi tướng lĩnh của Tào Tháo đều e ngại khi đối trận. Sau này, Bàng Đức bị Quan Vũ giết chết. 

Nhiều năm sau, Quan Vũ, Lưu Bị, Khổng Minh lần lượt chết, Hán Trung nhà Thục bị nhà Ngụy (họ Tào) thôn tính, con cháu của Bàng Đức đã truy lùng, tận diệt dòng họ của Quan Vũ để báo thù. 

Thủ tướng Chu Dung Cơ sau này cũng đã làm người đời liên tưởng “Bàng Đức mang quan tài ra trận”.

CON CHIM NGẬP TRONG ĐỐNG PHÂN

Trời quá lạnh, một con chim bị cóng rơi xuống cánh đồng.
Trong lúc chim nằm bất động, một con bò đi qua đại tiện lên thân mình nó. 

Chim được phân bò ủ ấm dần, tỉnh lại, thấy ấm áp và hạnh phúc, nó cất tiếng hót vui mừng. 

Một con mèo đi qua, nghe tiếng chim hót liền tìm kiếm và phát hiện chim giữa đống phân, mèo bới phân kéo chim ra ăn thịt.

Bài học:

1. Không phải ai ỉa vào mình cũng là kẻ thù của mình.
2. Không phải ai kéo mình ra khỏi đống phân cũng là bạn mình.
3. Khi đang ngập ngụa trong đống phân thì tốt nhất là ngậm cái mồm lại

(GS Mai Văn Quyền: Không phải của mình mà của Hà Triều Hiệp đấy! chuyện cực ngắn của Tàu đấy !)

Thư Tôn Vận Tuyền




DẠY VÀ HỌC. Lời cha mẹ căn dặn con cái thường sâu sắc, thân tình và giản dị. Đó là những lời mà họ đã chiêm nghiệm các bài học thất bại và thành công trao lại cho con. Tôn Vân Tuyền là nhà kinh tế chính trị danh tiếng của Đài Loan. Ông có công lớn trong việc chuyển đổi nền kinh tế chủ yếu nông nghiệp thành cường quốc xuất khẩu. Ông đã đúc kết chín lời khuyên dạy con. Tôi may mắn được đọc thư này khi đến thăm blog của thầy Nguyễn Lân Dũng, đúng lúc tôi đang nếm trãi cái rét cắt da khi cùng chuyên gia và đồng nghiệp đi tìm chọn điểm tạo giống sắn lai ở vùng núi cao phía Bắc và đang bùi ngùi Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác. Cám ơn thầy Lân Dũng đã tạo duyên may cho em được tuyển chọn lưu trữ những lời sâu sắc này.

MỘT LÁ THƯ ĐÁNG ĐỌC

Nguyễn Lân Dũng

Tôn Vận Tuyền (孫運璿, Sun Yun-Suan, 10/11/1913 - 15/2 /2006), một nhà kinh tế, một chính trị gia Đài Loan, xuất thân là kỹ sư, quê ở Bồng Lai, Sơn Tây (Trung Quốc). Ông tốt nghiệp ngành Công nghệ điện tại Đại học Công nghệ Harbin (Harbin Institute of Technology). Từ năm 1937 đến 1940 ông làm việc tại Hội đồng tài nguyên quốc gia (National Resources Commission). Ông được gửi đi tu nghiệp tại Tennessee Valley Authority (Hoa Kỳ) từ năm 1943 đến 1945. Ông làm Bộ trưởng gần 20 năm ở các Bộ Giao thông vận tải, Truyền thông và Kinh tế . Ông là Bộ trưởng Bộ Kinh tế từ năm 1969 đến 1978, sau đó được bầu làm Thủ tướng Đài Loan (Premier of the Republic of China ) từ năm 1978 đến 1984. Ông có công xây dựng Mười dự án siêu cấu trúc, trong đó có sân bay quốc tế Chiang Kai-shek International, Nhà máy Điện hạt nhân số 1, đường cao tốc Quốc gia Tôn Dật Tiên (Sun Yat-sen National Expressway) Viện nghiên cứu Công nghiệp Quốc gia (Industrial Technology Research Institute) và Công viên Công nghệ khoa học Tân Trúc (Hsinchu Science-based Industrial Park)... Nhờ những biến đổi có tính cách mạng này mà từ những năm 60 của thế kỷ trước, Đài Loan đã trở thành nơi xuất khẩu mạnh mẽ các loại hàng dệt may, giầy dép, đồ nhựa, nông sản phẩm, công nghệ hóa dầu, thiết bị cơ khí và đặc biệt là các linh kiện điện tử. Ông được coi là một trong những người tạo ra sự bứt phá về Công nghệ và Kinh tế ở Đài Loan .

Ngày 24 tháng hai năm 1984 ông bị đột quý do xuất huyết não và sau khi phục hồi chỉ có thể ngồi trên xe lăn. Tháng 2 năm 2006 do bị biến chứng, ông đã qua đời tại Đài Bắc, hưởng thọ 92 tuổi . Ngoài các trước tác về Kinh tế, Chính trị, tôi quan tâm đến một bức thư ông để lại cho các con của ông. Một bức thư giản dị nhưng thật chân tình và sâu sắc. Tôi xin phép được giới thiệu lại cùng các bạn bức thư này:

KIẾP SAU (NẾU CÓ) DÙ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG,
CŨNG KHÔNG CÒN DỊP GẶP LẠI NHAU ĐÂU

".... Tôn Vận Tuyền đã để lại những lời căn dặn như sau:



Các con thân mến,

Viết những điều căn dặn này, cha dựa trên ba nguyên tắc như sau :

1. Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.

2. Cha là Cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!

3. Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, Nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.

Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời :

1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời nầy, không ai có bổn phận phải đôi xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc các con phải biết ơn, trân quý, các con cũng nên thận trọng một chút, vì người đời thường làm việc gì cũng có mục đích của nó, chớ có vội vàng cho là bạn tốt của mình ngay.

2.Không có người nào mà không thể thay thế được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu ,bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý nầy, thì sau nầy trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.

3. Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phi thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi!. Cho nên, nếu ta càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng mình cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.

4.Trên đời nầy chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác nầy tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi. Nều người yêu bất diệt rời bỏ con rồi, hãy chịu khó nhẫn nại một chút, để thời gian dần dần trôi qua, để tâm tư mình từ từ lắng đọng, cái đau khổ cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi. Không nên cứ ôm ấp cái ảo ảnh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi luy vì thất tình.

5. Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, giáo dục là vũ khi trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp với bàn tay trắng, nhưng không thể trong tay không có tấc sắt. Nên nhớ kỷ điều nầy !

6. Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau nầy. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nữa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình. Sau nầy các con có đi xe Bus công cộng hay đi Auto nhà, các con ăn soup vây cá hay ăn mi gói, đều là trách nhiệm của các con.

7. Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình. Mình đối xử người ta thế nào, không có nghiã là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế , nếu không hiểu rõ được điều nầy, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình.

8.Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều nầy chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được. Trên thế gian nầy không có cái gì là miễn phí cả.

9. Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp nầy chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau, kiếp sau (nếu có), dù ta có thương hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu.



17 tháng 10, 2014

Kết quả mới phát triển giống sắn KM419


HỌC MỖI NGÀY. Anh Trần Văn Xẻn ở Mỹ, tác giả bài viết Trách nhiệm của giới truyền thông mà tôi tâm đắc gọi điện hỏi tôi vì sao tôi chưa vào cảm nhận. Tôi xin lỗi anh vì quá bận. Tôi say mê về với ruộng đồng. Ở đó có nhiều nông dân và sinh viên. Ở đó có cây lương thực, bát cơm của nhiều người nghèo và nghiệp của đời tôi. Ở đó có giao thoa giữa văn hóa, giáo dục và khoa học. Nông dân ưa nghe những điều gần gũi và thiết thực với họ. Hôm nay trên trang Học mỗi ngày, tôi  xin trò chuyện về bài Kết quả mới phát triển giống sắn KM419. Sử dụng giống sắn năng suất cao và kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp bền vững là một trong những giải pháp chính để nâng cao năng suất sắn, thu nhập cho nông hộ và góp phần giảm thoái hóa đất,  bất cập của phát triển sắn hiện nay   

Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn KM419

    Hoàng Kim1, Trần Ngọc Ngoạn2, Nguyễn Thị Trúc Mai4, Nguyễn Bạch Mai8, Võ Văn Quang3, Nguyễn Phương1, Hoàng Long3, Nguyễn Minh Cường1, Đào Trọng Tuấn1, Nguyễn Thị Lệ Dung1, Trần Công Khanh3, Nguyễn Minh Hiếu2, Nguyễn Văn Bộ5,  Nguyễn Thị Cách4, Nguyễn Trọng Hiển5, Lê Huy Hàm6, Hernan Ceballos7, Manabu Ishitani7
    
Trong sách:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Diễn đàn Khuyến nông và Nông nghiệp lần thứ 18. Chuyên đề: Một số giải pháp phát triển sắn bền vững. Tây Ninh ngày 26-8-2013, trang 58-83 (đã bổ sung thêm những kết quả mới khảo nghiệm toàn quốc và chuyển giao giống sắn mới, kỹ thuật thâm canh).
    
Địa chỉ liên hệ: 1)  Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh (NLU); 2) Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (TUAF); 3) Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS); 4) Trường Đại học Nông Lâm Huế (HUAF); 5) Trường Đại học Tây Nguyên (TTN); 6) Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS); 7) Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam (AGI) ; 8) Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT)

Tóm tắt

Giống sắn KM 419 được chọn tạo từ tổ hợp lai BKA900 x KM 98-5. Đặc điểm giống: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 34,9-54,9 tấn / ha (vượt 27,7- 29.6% so với KM94), hàm lượng tinh bột 27,8 - 30,7%, năng suất tinh bột 10,1 -15,8 tấn /ha, năng suất sắn lát khô 15,6-21,6 tấn/ha (so với KM94 hàm lượng tinh bột 25,0- 28,4 %, năng suất tinh bột 6,4-9,5 tấn/ ha, năng suất sắn lát khô 6,4-9,5 tấn/ha). Giống sắn KM419 có chiều cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, rất thích hợp với chế biến và thị trường, nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá. Giống sắn KM419 đã được khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất và phát triển rộng tại Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên,… được nông dân các địa phương ưa chuộng và phát triển nhanh trong sản xuất với tên gọi sắn giống cao sản siêu bột Nông Lâm. Đặc biệt tại tỉnh Tây Ninh, KM419 là giống sắn chủ lực được trồng trên 50% diện tích sắn của toàn tỉnh mang lại bội thu năng suất và hiệu quả cao về kinh tế xã hội. Giống sắn KM419 được Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với các Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên đề nghị đặc cách công nhận giống chính thức, định hướng ưu tiên sử dụng cho vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ  và vùng trung du miền núi phía Bắc. 

Từ khóa: giống sắn KM419,  cao sản siêu bột Nông Lâm, chọn tạo giống sắn

  
RESULT OF DEVELOPING THE CASSAVA VARIETY KM419


Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Bạch Mai, Võ Văn Quang, Nguyễn Phương, Hoàng Long, Nguyễn Minh Cường, Đào Trọng Tuấn, Nguyễn Thị Lệ Dung, Trần Công Khanh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Thị Cách, Nguyễn Trọng Hiển, Lê Huy Hàm, Hernan Ceballos, Manabu Ishitani



Summary

The cassava variety KM 419 was developed from the cross combination BKA900 x KM 98-5.  KM 419 has the advantage of short duration  with fresh root yield 34.9 – 54.9  ton/ ha (higher than KM 94 about 27.7- 29.6% ), good root shape with white flesh, high adaptability to various production conditions, starch content 27,8 - 30,7%, starch yield about 10,1 -15,8 ton/ha and root dry matter content about 15,6-21,6 ton/ha for 7-10 months after planting ( KM94 starch content 26,0-28,3 %, starch yield about 6,4- 9,5 ton/ha and root dry matter content about 9,0- 13,2 ton/ha for 9-11 months after planting). KM419 was moderately susceptible to cassava bacterial blight. Production area of KM419 in the Tây Ninh, Dong Nai, Dak Lak, Phu Yen in 2013 was up to more than 50,000 ha. KM419 was proposed by the Nong Lam University in Ho Chi Minh city (NLU) and Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry to be main production in the Southeast, Central Highland, North and South Central Coast and Northeast & Northwest of Vietnam.


Key words: Cassava  KM419, high starch yield, cassava breeding, Vietnam.

1. Đặt vấn đề
Cây sắn có tiềm năng to lớn là cây trồng của thế kỷ 21 để làm lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, nhiên liệu sinh học, chế biến tinh bột dùng làm bún miến, mì ăn liền, sirô, nước giải khát, bao bì, hồ vải, màng phủ sinh học (FAO 2013)

Thị trường sắn Việt Nam
hiện có nhu cầu cao và sắn đã trở thành một trong bảy ngành hàng xuất khẩu triển vọng. Việt Nam là nước xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn đứng thứ hai trên  thế giới sau Thái Lan với thị trường chính là Trung Quốc. Toàn quốc hiện có 13 nhà máy nhiên liệu sinh học đang đi vào hoạt động với tổng công suất trên 1.067,7 triệu lít cồn / năm cần nguyên liệu 6,5 triệu tấn sắn củ tươi và 68 nhà máy chế biến tinh bột với tổng công suất 2,4 triệu tấn tinh bột sắn cần nguyên liệu 8,8 triệu tấn sắn củ tươi.  

 
Diện tích sắn Việt Nam năm 201
3 đạt  544,30 nghìn ha, năng suất  17,90 tấn/ ha, sản lượng 9,74 triệu tấn (FAOSTAT 2014). So với năm 2000, sản lượng sắn đã tăng 4,98 lần, năng suất sắn đã tăng gấp đôi, chủ yếu do áp dụng các giống sắn mới và quy trình thâm canh. Những giống sắn phổ biến ở Việt Nam là KM94, KM140, KM98-5, KM98-1, SM937-26 với tỷ lệ tương ứng 75,54 %, 5,40%, 4,50%, 3,24%, 2,70% của tổng diện tích thu hoạch sắn năm 2010 (Hoang Kim, Nguyen Van Bo et al. 2011). Giống sắn tốt đã góp phần hiệu quả nâng cao năng suất thu nhập cho các nông hộ và mở rộng ngành hàng sắn Việt Nam (Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim và tập thể 2013c, Hoang Kim et al. 2014).

 
Giống sắn tốt đã góp phần hiệu quả trong sắn Việt Nam thành tựu và bài học (Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim và tập thể 2013c). Sản xuất sắn cấp thiết đòi hỏi tiếp tục chọn tạo và phát triển những giống sắn mới phù hợp với chế biến nhiên liệu sinh học và tinh bột để bổ sung và thay thế cho giống sắn công nghiệp KM94
tuy năng suất cao thích ứng rộng nhưng hiện bị thoái hóa, nhiễm bệnh chồi rồng làm giảm năng suất và nhược điểm cây cao, tán không gọn, chỉ số thu hoạch thấp, khó tăng mật độ trồng. Đề tài “Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học” mục tiêu nhằm xác định được giống sắn tốt có năng suất củ tươi, năng suất bột và năng suất sắn lát khô cao, thân đẹp, nhặt mắt, tán gọn để làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học. Giống sắn KM419 đã đáp ứng tốt yêu cầu trên. 

2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Vật liệu


Giống sắn KM419 được chọn tạo theo phương pháp phả hệ  từ tổ hợp lai BKA900 x KM98-5 từ năm 2005. Giống sắn BKA900 hạt đầu dòng có nguồn gốc EMBRAPA, Brazil nhập nội từ CIAT (Colombia) (Bảng 1).
Giấy phép nhập khẩu giống sắn của Bộ Nông nghiệp & PTNT số 991/CV-NN-TT, Phiếu nhập khẩu số No 298491 (Hình 1) số lượng nhập nội 12.034 hạt sắn (gồm nhiều giống tại phụ lục 1). Giống BKA900  chọn từ hạt nguồn CIAT có năng suất cao hơn giống BKA900 nhập từ CATAS. 

Giống sắn BKA900 đầu dòng có đặc điểm: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 35,1 - 50,4 tấn / ha, hàm lượng tinh bột 26,3 - 27,9%, năng suất tinh bột 7,8 -10,1 tấn /ha. Giống sắn BKA900 có chiều cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, lá xanh, ngọn xanh tím, cọng phớt đỏ, dạng củ đẹp và rất đồng đều, thịt củ màu trắng, thích hợp với chế biến và thị trường. Giống sắn BKA900 có nhược điểm: hàm lượng tinh bột thấp hơn KM98-5, KM94, thân sắn khó bảo quản giống, nhiễm bệnh cháy lá trung bình.
Giống sắn KM98-5
là con lai của tổ hợp Rayong 90 x KM98-1 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) chọn tạo và giới thiệu (Trần Công Khanh, Hoàng Kim và ctv. 2010). Giống sắn KM98-5 được tạo dòng và chọn dòng tự phối  theo phương pháp của CIAT. Giống sắn KM98-5 có đặc điểm thời gian thu hoạch từ 7- 10 tháng sau khi trồng. Năng suất củ tươi 27,1 -34,5 tấn/ ha, hàm lượng tinh bột 26,1-28,5% (bình quân 27,5%), năng suất tinh bột 7,8- 9,8 tấn/ ha, cao hơn đối chứng KM94 khoảng  6,3- 18,3 %. Thân hơi cong ở phần gốc, phân nhánh nhẹ, nhặt mắt, thích hợp với điều kiện sinh thái các tỉnh phía Nam. Dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, thích hợp với chế biến và thị trường.



2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp lai tạo và quy trình, sơ đồ chọn tạo nhân giống sắn KM419

Giống sắn KM419 được lai tạo của tổ hợp BKA900 x KM98-5 bằng phương pháp cổ truyền và chọn lọc theo phương pháp phả hệ. Quy trình chọn tạo giống sắn KM419 được thực hiện theo quy trình công nghệ chọn tạo và nhân giống sắn lai (Hoàng Kim 2003) bao gồm tám bước (Hình 2):


1) Quản lý nguồn gen và lựa chọn cặp lai;

2) Tạo dòng bố mẹ và duy trì giống gốc;

3) Lai hữu tính và thu hạt sắn lai tổ hợp BKA900 x KM98-5 theo phương thức thụ phấn có kiểm soát, thu được 6.389 hạt sắn lai;

4) Gieo ươm hạt lai và tuyển chọn dòng F1 chọn 612 dòng.

5) Khảo sát đơn luống SYT và tuyển sơ bộ PYT1, PYT2 đối với 45 dòng sắn tốt.

6) So sánh giống sắn NVT1, NVT2 và khảo nghiệm cơ bản RYT kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD). Mỗi giống trồng 32 m2 ba lần nhắc lại. Thu hoạch củ, tuyển chọn giống sắn tốt đáp ứng mục tiêu đã định lúc 10 tháng sau trồng.

7) Khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm sản xuất tại các vùng sinh thái. Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp với giống mới chọn tạo, xác định lượng phân bón, mật độ khoảng cách trồng,  thời gian thu hoạch hợp lý cho một số giống sắn tiêu biểu trên đất đỏ và đất xám Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, phương thức xen canh sắn lạc và các cây họ đậu, xây dựng mô hình trình diễn và tập huấn cho mạng lưới cộng tác viên. 

8) Sản xuất và cung ứng giống sắn gốc cho trên 360 ha cho các công ty, dự án, mạng lưới người nông dân giỏi.

Sơ đồ lai và hình ảnh đặc tả giống sắn BKA900, KM98-5,  KM419 được thể hiện tại Hình 3.
 
2.2.2 Phương pháp khảo nghiệm và phát triển giống sắn KM 419.Quy phạm khảo nghiệm giống sắn: Thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống sắn QCVN 01-61: 2011/BNNPTNT. Các thí nghiệm đều được bố trí chính quy theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (Random Completed Block Dezign – RCBD), một hoặc hai yếu tố, ba lần nhắc lại. Diện tích ô thí nghiệm 8m x 4m = 32 m2. Công thức phân bón cho sắn là 10 tấn phân chuồng + 90 kg N + 60 kg P2O5 + 120 kg K2O (kg/ha), mật độ trồng 10.000 - 12.500 cây/ ha.

Cách chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
: 1) Thực hiện sáu yếu tố liên kết thành công 6M, mười biện pháp chính để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp 10T và liên kết bốn nhà; 2). Thiết lập mô hình canh tác sắn bền vững cùng nông dân đánh giá giống và kỹ thuật canh tác trực tiếp trên đồng ruộng (Establishment of Demonstration Fields and FPR-Farmer Participatory Research) 3) Bảo tồn và phát triển sắn theo hướng bền vững (Hoàng Kim, Nguyễn Văn Bộ và tập thể 2013c).Chỉ tiêu theo dõi và xử lý phân tích thống kê: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá theo phương pháp chuẩn của CIAT. Xác định hàm lượng tinh bột bằng cân chuyên dùng Reinmahn. Sử dụng các phần mềm MSTATC, SAS 9.1 để xử lý Anova và phân hạng các số liệu thống kê theo Duncan ở mức ý nghĩa 1% hoặc 5% dựa trên kết quả để đánh giá giống sắn. Phân tích tính thích nghi và chỉ số ổn định của các giống sắn theo mô hình của Eberhart và Russel (1966)



2.2.3. Địa điểm và thời gian thực hiện.

Việc nhập nội nguồn gen và
lai tạo giống do TS. Hoàng Kim chủ trì thực hiện tại IAS thuộc dự án giống Bộ Nông nghiệp & PTNT “Phát triển giống sắn 2001-2005” (Hoang Kim 2007, 2008, 2010a, 2010b). Công tác tạo dòng và chọn giống sắn được thực hiện tại NLU thuộc đề tài thường xuyên Bộ Giáo dục và Đào tạo“Tuyển chọn các dòng sắn lai đơn bội kép nhập nội từ CIAT 2007-2008” (Hoàng Kim và tập thể 2009). Từ kết quả đánh giá 98 giống sắn triển vọng đã chọn được giống sắn KM419 (Hoang Kim et al. 2010).

Khảo nghiệm giống sắn tác giả, xây dựng mô hình và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh giống sắn KM419 tại vùng sinh thái Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ thuộc các đề tài
: IAS “Tuyển chọn giống và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng sắn đạt năng suất cao ổn định tại Tây Nguyên 2004-2006” (Trần Công Khanh, Hoàng Kim 2007); CIAT-VAAS-NLU “Khai thác cây nhiên liệu sinh học chịu hạn sắn, jatropha, lúa miến, để nâng cao sinh kế và thu nhập cho các nông hộ sản xuất nhỏ ở Việt Nam 2009-2010” (Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Rod Lefroy et al. 2011). SHT “Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đăk Lăk” (Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Minh Anh, Hoàng Kim và ctv. 2013).  HUAF “Nghiên cứu tuyển chọn giống sắn ngắn ngày và kỹ thuật thâm canh, rãi vụ nhằm phục vụ cho việc phát triển cây sắn bền vững ở tỉnh Phú Yên” (Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu và Hoàng Kim 2014).

Khảo nghiệm giống sắn Quốc gia thuộc đề tài độc lập cấp Nhà nước “Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học”. Kết quả khảo nghiệm giống sắn KM419, xây dựng mô hình và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh giống sắn KM419 với các giống sắn mới tạo tuyển được công bố tại “Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống sắn tại bốn vùng sinh thái 2011-2013” (Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Trọng Hiển, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2014) và các luận văn thạc sĩ đã hoàn thành:  Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học (Nguyễn Thị Lệ Dung 2011); “Xác định giống sắn năng suất cao và lượng phân bón NPK thích hợp cho canh tác sắn tại vùng Đông Nam Bộ” (Đào Trọng Tuấn 2013); “Khảo nghiệm giống sắn và xác định lượng phân kali, khoảng cách trồng thích hợp cho giống sắn KM419 tại Tây Ninh” (Nguyễn Minh Cường 2014) .  

3. Kết qủa và thảo luận

3.1 Đánh giá nguồn gen giống sắn, đặc điểm giống sắn KM419

Nguồn gen giống sắn tại Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) năm 2008 có tổng số 344 mẫu giống sắn, trong đó có 31 giống sắn địa phương, 38 giống sắn tác giả triển vọng, 275 giống sắn tuyển chọn (từ 96.148 hạt sắn lai nhập nội của CIAT,  37.210 hạt sắn lai hữu tính tạo dòng đơn bội kép tại Việt Nam theo phương pháp CIAT bởi Letini, Z. and H. Ceballos. 2003, Ceballos, H. et al. 2007, và 6.240 hạt sắn chiếu xạ đột biến bằng tia Gamma nguồn Cobalt 60) (Bảng 1).



Kết quả đánh giá nguồn gen 98 giống sắn tuyển chọn (Phụ lục 1) đã xác định được 12 giống sắn triển vọng, trong đó có giống sắn KM419 (Bảng 2) đạt năng suất sắn lát khô, năng suất sắn củ tươi, năng suất tinh bột vượt trội hơn hẵn so với giống sắn KM94 (Hoàng Kim và ctv. 2009, Hoang Kim et al. 2010)

3.2 Đặc điểm chọn lọc của giống sắn KM419 (ở Bảng 3 và Hình 3).


3.3. Kết quả khảo nghiệm tác giả

Kết quả khảo nghiệm cơ bản chín giống sắn triển vọng tại đất xám Tây Ninh, đất nâu vàng Đồng Nai và đất đỏ Đồng Nai năm 2011 (Bảng 4, Bảng 5, Bảng 6) đã xác định được năm giống sắn tốt triển vọng cho vùng Đông Nam Bộ  là KM419, KM414, KM397, KM325, KM228. Giống sắn KM419 đạt năng suất củ tươi 45,9 tấn/ha, năng suất sắn lát khô 17,7 tấn/ha, năng suất tinh bột 13,1 tấn/ha, dạng cây đẹp, thẳng, tán gọn, nhặt mắt, củ đồng đều được nông dân ưa chuộng hơn cả (Nguyễn Thị Lệ Dung 2012).

 
Kết quả khảo nghiệm cơ bản mười giống sắn tại hai thí nghiệm ở nhà máy nhiên liệu sinh học Bình Phước (Bảng 7, Bảng 8) đã xác định được sáu giống sắn KM419, KM414, KM140, KM397, KM444, KM325, HB60 đạt năng suất củ tươi, năng suất sắn lát khô, năng suất tinh bột vượt trội hơn hẵn giống sắn KM94. Giống sắn KM419 dẫn đầu năng suất cả hai thí nghiệm, ít bệnh, thích hợp trồng dày.
Kết quả khảo nghiệm cơ bản tám giống sắn triển vọng trên đất nâu vàng Phú Yên (Bảng 9): Giống sắn KM419 đạt năng suất củ tươi 34,90 tấn/ha, năng suất sắn lát khô 13,80 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 27,35%, năng suất tinh bột 9,54 tấn/ha, chỉ số thu hoạch cao 63,9%, dạng cây đẹp, cây thẳng tán gọn, nhặt mắt, củ đồng đều. Giống sắn KM419 triển vọng nhất, được nông dân ưa chuộng (Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu, Hoàng Kim 2014).
 
Kết quả khảo nghiệm cơ bản tám giống sắn triển vọng trên đất đỏ và đất nâu vàng Eakar và Krông Bông (Đăk Lăk) (Bảng 10 và Bảng 11): Giống sắn KM419 có năng suất củ tươi, năng suất tinh bột và năng suất sắn lát khô cao nhất, khác biệt rất có ý nghĩa, vượt trội hơn hẵn năng suất tinh bột so với giống đối chứng KM94, thích hợp cho chế biến tinh bột. Giống sắn KM419 đã được tuyển chọn để xây dựng mô hình thâm canh và bổ sung vào bộ giống sắn hiện tại. (Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Minh Anh, Hoàng Kim 2013).



3.4. Kết quả khảo nghiệm quốc gia

Kết quả khảo nghiệm quốc gia 14 giống sắn trên đất đỏ và đất xám Đồng Nai năm 2011 và năm 2012, Bảng 12 và Bảng 13 cho thấy:
 

 
Năm giống sắn tốt triển vọng SVN5 (KM419), SVN1 (KM414), SVN2 (KM397), SVN3 (KM325) và SVN7 (KM444=HL2004-18) được tuyển chọn qua hai vụ khảo nghiệm quốc gia tại Đồng Nai. Giống sắn KM419 dẫn đầu năng suất củ tươi 40,2 - 46,3 tấn/ ha, năng suất tinh bột 11,9 - 13,2 tấn bột/ha.


Kết quả khảo nghiệm bộ giống sắn Quốc gia tại Trảng Bom, Cẩm Mỹ (Đồng Nai) và Bù Đăng (Bình Phước) trong đề tài Đào Trọng Tuấn 2013: “Xác định bộ giống sắn năng suất cao và lượng phân bón NPK thích hợp cho canh tác sắn ở vùng Đông Nam Bộ” tại Bảng 14, Bảng 15 và Bảng 16 đã cho thấy:
 
 


Hai giống sắn KM419 (SVN5) và KM444 (SVN7= HL2004-28) có năng suất củ tươi, hàm lượng tinh bột và tỷ lệ sắn lát khô cao, dạng thân thẳng, tán gọn, củ đều là hai giống tốt nhất được tuyển chọn để bổ sung vào bộ giống sắn hiện tại.


Kết quả khảo nghiệm bộ giống sắn Quốc gia tại Tây Ninh trong đề tài Nguyễn Minh Cường 2014:“Tuyển chọn giống sắn và xác định lượng phân kali, khoảng cách trồng thích hợp cho giống sắn KM419 tại Tây Ninh” cũng kết luận: KM419, KM444 và KM397 là ba giống sắn tốt nhất (Bảng 17).
“Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống sắn tại bốn vùng sinh thái năm 2011-2013”, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Trọng Hiển, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2014 đã xác định:  Các giống sắn có tiềm năng đạt năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao thích hợp với vùng trung du, miền núi phía Bắc: HL2004-28; HL2004-32; KM419; vùng Bắc Trung Bộ HL2004-28; KM419; HL2004-32; vùng Nam Trung Bộ: HL2004-28; OMR35-8, GM155-7 vùng Đông Nam Bộ: KM419; HL2004-28; KM414. Trong các giống sắn có tiềm năng, giống sắn KM419 luôn dẫn đầu về năng suất tại vùng Đông Nam Bộ và được nhân rộng ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Phú Yên, Đăk Lăk, Bình Phước, Ninh Thuận ...

3.5 Kết quả khảo nghiệm sản xuất
Tại ba tỉnh
Đồng Nai, Tuyên Quang, Nghệ An năm 2013, kết quả khảo nghiệm sản xuất giống sắn KM419 được thể hiện ở Bảng 18. Trên quy mô sản xuất rộng, giống sắn KM419 đã đạt năng suất củ tươi 39,0 - 43,0 tấn/ ha, bình quân 40, 8 tấn/ ha vượt 27,8% so với giống sắn KM94 năng suất 31,9 tấn/ ha.

 
Tại tỉnh Đăk Lăk, giống sắn KM419 được khảo nghiệm sản xuất và xây dựng mô hình trên quy mô 12 ha ở các xã Cư Pui, Hòa Phong, Cư Kty (huyện Krông Bông), Ea Tyh, Ea Sar (huyện Ea kar) từ tháng 6/ 2012 đến tháng 6/ 2013. Kết quả Hình 4 và Bảng 19 cho thấy:
Giống sắn KM419 của 12 nông hộ đã đạt năng suất thực tế 20,0-46,5 tấn/ ha, bình quân 38,83 tấn/ha, vượt 71,58% so với giống sắn KM94 (đạt bình quân 22,62 tấn/ha). Lãi thuần trồng sắn KM419 ở Đăk Lăk đạt bình quân 32,93 triệu đồng/ ha, tỷ suất lợi nhuận bình quân 0,89. (Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Minh Anh Hoàng Kim và tập thể 2013).   

Tại ba tỉnh
Tây Ninh, Phú Yên, Ninh Thuận năm 2013, kết quả khảo nghiệm sản xuất sắn giống KM419 được thể hiện ở Bảng 20 và Phụ lục 5. Trên quy mô sản xuất rộng, giống sắn KM419 đã đạt năng suất bình quân 41,6 tấn/ ha, vượt 30,4% so với giống sắn KM94 năng suất 31,9 tấn/ ha.



Tây Ninh là tỉnh điển hình chuyển đổi
diện tích sắn KM419 mang lại bội thu năng suất và sản lượng sắn (Bảng 21). Toàn tỉnh Tây Ninh hiện trồng giống sắn KM419 chiếm trên 50 % tổng diện tích sắn , còn lại là KM94, KM98-5.



Giống sắn KM419 được sản xuất nhân lên rất nhanh chóng
và hiện đã trồng phổ biến tại các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Đắk Lắk, Phú Yên, … với tổng diện tích thu hoạch năm 2013 trên 50.000 ha.
Hình 5: Khảo nghiệm sản xuất và xây dựng mô hình KM419 tại các địa phương. Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh trên đã  đề nghị công nhận chính thức giống sắn KM419 đặc cách (Phụ lục 6).

Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác sắn KM419 theo hướng bền vững
đã được đúc kết trong các công trình của Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu, Hoàng Kim 2014, Đào Trọng Tuấn 2013, Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Minh Anh, Hoàng Kim và ctv 2014, Nguyễn Minh Cường 2014. Tài liệu và video có trên Mười kỹ thuật thâm canh sắn trang Cây Lương thực. Giải pháp chính là thâm canh, trồng dày, xen lạc và thời điểm thu hoạch hợp lý; cần bón 8-10 tấn phân hữu cơ + 100- 120 N + 60 P2O5 + 120 K2O (kg/ha, trồng KM419 khoảng cách 0,8 m x 0,8 m (mật độ 15.625 cây/ha) hoặc 1,0m x 0,7m  (mật độ 14.000 cây/ha) xen hai hàng lạc để đạt hiệu quả kinh tế .


Nguồn vật liệu đầu dòng KM419, KM94 được khai thác trong các công trình nghiên cứu tiếp nối của Phòng Thí Nghiệm Quốc tế Chọn giống Phân tử Sắn ILCMB VAAS CIAT ở Viện Di truyền Nông nghiệp (AGI) Hà Nội.   


Tuyển chọn giống sắn năng suất bột cao và chuyển giao kỹ thuật
thâm canh sắn thích hợp tại tỉnh Phú Yên
 


4. Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
Giống sắn KM 419 là con lai của tổ hợp BKA900 x KM 98-5. Giống sắn KM419 có đặc điểm: thời gian sinh trưởng 7-10 tháng, năng suất củ tươi 34,9-54,9 tấn / ha, hàm lượng tinh bột 27,6 - 30,7%, năng suất tinh bột 10,1 -15,8 tấn /ha, (so với KM94 đạt năng suất củ tươi 25,6- 34,0 tấn/ ha, hàm lượng tinh bột 25,0- 28,3 %, năng suất tinh bột 6,4-9,5 tấn/ ha). Giống sắn KM419 có chiều cây cao vừa phải, thân thẳng, tán gọn, nhặt mắt, lá xanh đậm, ngọn xanh, cọng phớt đỏ, dạng củ đồng đều, thịt củ màu trắng, rất thích hợp với chế biến và thị trường, nhiễm nhẹ đến trung bình bệnh cháy lá. Giống sắn KM419 có tính thích nghi rộng, được nông dân các địa phương ưa chuộng và phát triển nhanh trong sản xuất. Nhược điểm của giống sắn KM419 là nhiễm bệnh đốm nâu lá nhẹ đến trung bình và yêu cầu thâm canh nên đầu tư lượng phân bón 8-10 tấn phân hữu cơ + 120 N + 60 P2O5 + 120 K2O (kg/ha)/ha và trồng sắn KM419 với khoảng cách 0,8 m x 0,8 m (mật độ 15.625 cây/ha) hoặc 1,0m x 0,7m  (mật độ 14.000 cây/ha) xen thêm hai hàng lạc để đạt hiệu quả kinh tế.  

4.2. Đề nghị
Kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận chính thức giống sắn KM419 để phát triển trong sản xuất tại vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ và vùng trung du miền núi phía Bắc. 

5. Tài liệu tham khảo
1.Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 2011.QCVN01-61: 2011/ BNN PTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống sắn.


2. Nguyễn Văn Bộ, Hoàng Kim, Lê Quốc Doanh, Trần Ngọc Ngoạn, Bùi Chí Bửu, Rod Lefroy, Lê Huy Hàm, Mai Thành Phụng, Trần Viễn Thông 2013. Sắn Việt Nam thành tựu và bài học. Trong tài liệu DIỄN ĐÀN KHUYẾN NÔNG @ NÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 11 - 2013 Chuyên đề “Một số giải pháp pháp phát triển sắn bền vững” do Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia phối hợp với Sở Nông nghiệp &PTNT tổ chức tại  Trung tâm học tập sinh hoạt thanh thiếu nhi tỉnh Tây Ninh, ngày 26/8/2013

3. Chính phủ Việt Nam 2010. Lễ trao giải tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 19.1. 2010 Bản tin tiếng Anh và hình ảnh liên quan đến Giống sắn KM140, giải pháp khoa học công nghệ đoạt giải Nhất, Hội thi sáng tạo kỹ thuật toàn quốc VIFOTEC.


4. Cây Lương thực 2012a. Mười kỹ thuật thâm canh sắn (Quy trình canh tác sắn KM419) http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/07/muoi-ky-thuat-tham-canh-san.html

5. Cây Lương thực 2012b. Địa chỉ xanh trồng mì cao sản KM419 ở Đăk Lăk

6. Nguyễn Minh Cường 2014. Tuyển chọn giống sắn và xác định lượng phân kali, khoảng cách trồng thích hợp cho giống sắn KM419 tại Tây Ninh. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Trồng trọt, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 147 trang.

7. Nguyễn Thị Lệ Dung 2012. Đánh giá và tuyển chọn giống sắn làm nguyên liệu sản xuất tinh bột và nhiên liệu sinh học. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Trồng trọt, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 140 trang.

8. Hoang Kim, Le Huy Ham, Manabu Ishitani, Hernan Ceballos, Nguyen Van Bo, Tran Ngoc Ngoan, Kazuo Kawano, Reinhardt Howeler, Rod Lefroy, Nguyen Phuong, Hoang Long, Nguyen Thi Le Dung, Tran Cong Khanh, Vo Van Quang, Dao Trong Tuan, Nguyen Minh Cuong, Nguyen Van Vu and Nguyen Van Dong 2013b. Vietnam cassava breeding overview: the broad perspective. Presentation to Kickoff Meeting of a Cooperative Research Project under the East Asia Joint Research Program (e-ASIA JRP) at AGI, Hanoi on Jan.8 and 9, 2013.


9. Hoàng Kim, Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Thị Trúc Mai, Võ Văn Quang, Nguyễn Thị Lệ Dung, Nguyễn Phương, Hoàng Long, Nguyễn Minh Cường, Đào Trọng Tuấn, Nguyễn Thị Lệ Dung, Trần Công Khanh, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Thị Cách, Nguyễn Trọng Hiển, Lê Huy Hàm Hernan Ceballos, Manabu Ishitani 2013. Kết quả chọn tạo và phát triển giống sắn KM419. Trong tài liệu: Trong tài liệu DIỄN ĐÀN KHUYẾN NÔNG @ NÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 11 - 2013 Chuyên đề “Một số giải pháp pháp phát triển sắn bền vững” do Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia phối hợp với Sở Nông nghiệp &PTNT tổ chức tại  Trung tâm học tập sinh hoạt thanh thiếu nhi tỉnh Tây Ninh, ngày 26/8/2013; và trong tài liệu Hội nghị Khoa học Khoa Nông học 2012, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, ngày 20.12.2012. Trang 186-195

10. Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Rod Lefroy, Keith Fahrney, Hernan Ceballos, Nguyen Phuong, Tran Cong Khanh, Nguyen Trong Hien, Hoang Long, Vo Van Quang, Nguyen Thi Thien Phuong, Nguyen Thi Le Dung, Bui Huy Hop, Trinh Van My, Le Thi Yen, 2011. Cassava for biofuel in Vietnam. Paper presented at IFAD/ICRISAT Project Final Meeting “ Harnessing water –use efficient bio-energy crops for enhancing livelihood opportunities of smallholder farmers in Asia, Africa and Latin America" “Linking the poor to global markets: Pro-poor development of biofuel” supply chains Ho Chi Minh city, 14-15 April 2011.http://cassavaviet.blogspot.com/2011/04/cassava-for-biofuel-in-vietnam.html

11. Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Hoang Long, Nguyen Trong Hien, Hernan Ceballos and Reinhardt R.H., 2010. Current situation of cassava in Vietnam. In: A New Furture for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor, 8th Asian Cassava Research Workshop October 20 – 24, 2008 in Vientiane, Lao PDR.p. 100-112.

12. Hoang Kim, Nguyen Phuong, Hoang Long, Tran Cong Khanh, Hernan Ceballos,  Rod Lefroy, Keith Fahrney, Tin Maung Aye  and Reinhardt Howeler 2010. Recent progress in cassava breeding and the selection of improved cultivars CIAT, 2010. In: A new Future for Cassava in Asia: Its Use as Food, Feed and Fuel to Benefit the Poor. Proc. 8 th Regional Workshop, held in Vientiane, Lao PDR. Oct 20 - 24, 2008, papers 223 - 233.


13. Hoàng Kim, 2009. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Tuyển chọn các dòng sắn lai đơn bội kép nhập nội từ CIAT. Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, 125 trang


14. Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Reinhardt  R,H, and Hernan C., 2008. Current Situation of Cassava in Vietnam and the selection of cassava doubled haploid (DH) lines derived from CIAT.  In: Cassava meeting the challenges of the new millennium hosted by IPBO- Ghent University, Belgium 21-25 July 2008. SP03-16. pp. 63


15. Hoang Kim, Tran Ngoc Ngoan, Trinh Phuong Loan, Bui Trang Viet, Vo Van Tuan, Tran Cong Khanh, Tran Ngoc Quyen and Hernan Ceballos 2007. Genetic improvement of cassava in Vietnam: Current status and future approaches. In: CIAT 2007, Cassava research and development in Asia. Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. R.H. Howeler (Ed.). p. 118-124


16. Hoàng Kim, 2003. Công nghệ chọn tạo và nhân giống sắn lai. Trong sách: Công nghệ giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp, tập 2. GS. Ngô Thế Dân, TS. Lê Hưng Quốc (Chủ biên), trang 95-108
17. Kazuo Kawano 2009. Cassava and Vietnam: Now and Then (Cassava and Vietnam: Kazuo Kawano and NHK TV Trips Report)



18. Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Minh Hiếu, Hoàng Kim 2014. Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất cây sắn tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Tạp chí Nông nghiệp &Phát triển Nông thôn số 3+4/2014, trang 76-84.
19. Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Anh, Hoàng Kim 2014. Tuyển chọn giống sắn năng suất bột cao và chuyển giao kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp tại tỉnh Đăk Lắck. Tạp chí Nông nghiệp Phát triển Nông thôn (đang in). Báo cáo Tổng kết Dự án: Xây dựng mô hình sản xuất sắn theo hướng bền vững tại tỉnh Đắc Lăk . Tài liệu kèm băng DVD và tờ bướm Quy trình kỹ thuật canh tác sắn, Sở Nông nghiệp &PTNT Đăk Lak, 68 trang; 
http://cayluongthuc.blogspot.com/2013/07/xay-dung-mo-hinh-san-xuat-san-theo.html
20. Morante and J. Lopez. 2007b. The use of doubled-haploids in cassava breeding. In: R.H. Howeler (Ed.). Cassava Research and Development in Asia. Exploring New Opportunities for an Ancient Crop. Proc. 7th Regional Workshop, held in Bangkok, Thailand.  Oct 28 -Nov 1, 2002. pp.150-160. http://www.ciat.cgiar.org/asia_cassava 

21. Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Trọng Hiển, Nguyễn Thị Cách, Hoàng Kim 2014. Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống sắn tại bốn vùng sinh thái năm 2011-2013, Tạp chí Nông nghiệp Phát triển Nông thôn (đang in)

22. Đào Trọng Tuấn 2013. Xác định giống sắn năng suất cao và lượng phân bón NPK thích hợp cho canh tác sắn tại vùng Đông Nam Bộ. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Trồng trọt, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 135 trang.

Video yêu thích

Cassava in Vietnam: Save and Grow
Tây Ninh hướng đến thâm canh cây mì bền vững


Cassava in Vietnam: Save and Grow  DakLak 1
Đăk Lăk  hướng đến thâm canh sắn bền vững


Cassava in Vietnam: Save and Grow  DakLak 2
Đăk Lăk  hướng đến thâm canh sắn bền vững

Cassava in Vietnam: Save and Grow  DakLak 3

Đăk Lăk  hướng đến thâm canh sắn bền vững



http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam,  Chào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,  Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống,  Thơ cho con 

Người theo dõi