Lưu trữ Blog

30 tháng 1, 2009

Gặp gỡ đầu xuân ông Trần Hữu Dũng

HOCMOINGAY Quốc Phương BBC Việt ngữ đã gặp gỡ đầu xuân ông Trần Hữu Dũng, giáo sư giảng dạy kinh tế học tại Đại học Wright State, ở Dayton, Ohio, Mỹ; GS. Trần Hữu Dũng cũng là chủ bút của trang Viet-studies và trang mạng Arts & Letters Daily. Trả lời câu hỏi đầu xuân về tương lai của Việt Nam, ông nói: "Tôi nghĩ rằng lẽ dĩ nhiên Việt Nam sẽ còn thay đổi. Tôi là người có tinh thần Á Đông. Người Tây Phương nghĩ tới đường tiến lên, tiến hoài, còn Á Đông nghĩ tới những lúc lên lúc xuống. Tôi không bi quan, cũng không lạc quan. Mình trong thời điểm nào thì lo cho thời điểm đó. Tôi nghĩ rằng nước Việt Nam sẽ tồn tại mãi mãi, còn lúc lên lúc xuống là chuyện thường tình thôi." (Hình GS. Trần Hữu Dũng )

Đón Tết nguyên đán Kỷ Sửu đang về, BBC Việt ngữ tới gõ cửa 'nhà điểm tin' trên mạng, chủ nhân của trang điểm báo tư nhân Viet-studies.info, Giáo sư Trần Hữu Dũng ... Mời quý vị theo dõi sau đây trao đổi của ông Trần Hữu Dũng với BBC.

Ăn Tết Nguyên đán

Ở chỗ tôi ở có ít người Việt Nam nên không tổ chức gì nhiều, nhưng chúng tôi ở trong trường Wright State University cũng tổ chức tết cho các em sinh viên. Cũng có tổ chức ăn uống, múa hát cho các em ở trường.

Trang Viet-studies chỉ có một mình tôi làm thôi, vì vậy rất tốn thì giờ. Tôi là người multi-task, tức là làm nhiều việc một lúc, nhảy đi nhảy lại. Nhưng vì nếu tôi không làm trang này thì tôi cũng vẫn đọc báo, mà tôi ngủ rất ít, nên công việc điểm báo không có gì là nhiều với tôi.

Những bài được chọn chủ đề mùa Xuân hay Tết dịp này ư? Không, thực ra tôi thích bài nào thì đưa bài đó lên điểm tin thôi. Nhưng tôi cũng e là mấy tuần tết này, báo chí nghỉ nhiều, nên bài vở có thể ít đi so với lúc bình thường.

Dự định cho năm tới thì năm nào tôi cũng bận rộn hết. Riêng năm nay thì rất nhiều công việc.

Ngoài Viet-studies ra, tôi còn bận dạy học, ngoài ra tôi còn làm cho một số báo Mỹ. Năm tới có thể tôi sẽ có ít thời giờ cho Viet-studies, vì có nhiều việc đang làm, các sách vở đang viết, phải bỏ thời giờ làm cho xong.

Tôi đã hứa với một số báo đài và phải viết bài cho họ, chẳng hạn những câu chuyện về kinh tế, chuyện về Trung Quốc, về nước Mỹ, và đó là những việc tôi sẽ tiến hành trong những ngày tháng tới. Có lẽ năm tới tôi sẽ tốn nhiều thời giờ về viết lách kinh điển, 'academic' kinh tế học.

'Team-work khó làm'

Có dự định làm công việc tập thể (team-work) hay chính thức hoá trang Viet-studies hay không? Không, đây là một việc làm theo sở thích (hobby) của tôi, nên tôi không định làm một việc gì lớn.

Ngoài ra, làm team-work rất khó khăn vì tôi đã có kinh nghiệm làm tập thể. Mỗi lần làm gì đó phải thông qua team-work mất thì giờ lắm.

Thành ra một mình tôi làm, tôi chịu trách nhiệm hết. Tôi đã làm tờ báo Mỹ, mỗi lần tôi làm gì, phải thông qua ban biên tập, rất mất thì giờ. Đây cũng là ưu điểm mà có thể cũng là nhược điểm.

Về tờ Thời Đại mới và chủ đề của chuyên mục Hội thảo Mùa hè thì năm nay tôi sẽ phải dành nhiều thời gian, hiện tôi đang kêu gọi anh em viết bài và chúng tôi sẽ phải quyết định chủ đề cuộc hội thảo.

Có cần hàm vị để viết bài cho Thời đại mới hay không? Tôi xin trả lời là không cần, miễn là anh em nghiên cứu nghiêm túc về bài vở thôi, tôn chỉ của chúng tôi như vậy.

Trang Viet-studies theo tôi được biết ở Việt Nam truy cập dễ dàng. Ở một số địa phương truy cập hơi chậm nhưng đó là vấn đề kỹ thuật chứ không phải là chính sách của Nhà nước. Rất may được hồng ân của Nhà nước, truy cập vào trang được dễ dàng.

Từ sau khi Talawas đóng cửa, tôi không rõ là độc giả hay vào các trang nào khác, cá nhân tôi thì ngoài Viet-studies, tôi hay cộng tác với tờ Diễn đàn ở Paris. Những tờ khác trên mạng, thỉnh thoảng tôi cũng vào nhưng tôi không có thì giờ nhiều.

Rất ngại dự báo

Về kinh tế, tôi là một trong số hiếm những người Việt Nam rất ngại và dè dặt trong chuyện tiên đoán này nọ. Tôi thấy có nhiều người ở Việt Nam cũng như ở nơi khác tiên đoán không có bằng cớ.

Tôi không dám tiên đoán gì hết, nhưng tôi thấy tình trạng kinh tế thế giới trong vài tháng tới, ít nhất là tới tháng 5/2009, càng ngày càng khó khăn, tình trạng kinh tế rất là xuống. Ở Việt Nam tôi không dám bình luận chính sách có phù hợp hay không, nhưng tôi thấy còn lúng túng lắm và không biết người ta sẽ làm thế nào.

Có vẻ như gói cứu trợ và kích cầu của nhà nước Việt Nam đưa ra là mờ nhạt đối với nội dung cứu trợ an sinh xã hội? Tôi đồng ý như vậy. Tôi không nhất trí lắm với việc kích cầu. Tôi không rõ các chi tiết hậu trường và động cơ của những ai đứng sau trong việc kích cầu này, nhưng xem ra đây là để 'kích cung' nhiều hơn.

Liệu bà Hillary Clinton có làm cho chính sách Việt Nam của ông Obama gần hơn với đường lối Clinton trước đây? Có hai cách nhìn, thứ nhất có cách nhìn chính sách của Mỹ đối với Việt Nam như là chính sách của chính Washington với Hà Nội, và cách nhìn thứ hai nhìn chính sách này như là hệ quả của chính sách Mỹ đối với Trung Quốc. Tôi đang suy nghĩ về cả hai cách nhìn này.

Về những gì ông đại sứ Mỹ ở Việt Nam phát biểu mới đây, tôi nghĩ là ông ấy chỉ nói một cách sơ sơ, ngoại giao thôi. Tôi chưa thấy có gì thay đổi nhiều trong chính sách với Việt Nam của ông Obama so với thời ông Bush.

Còn về chính sách trong nước, kiểm soát báo chí và truyền thông của Việt Nam thời gian qua và việc ông Tô Huy Rứa vào Bộ Chính trị, tôi đồng ý là có sự 'siết lại'. Tuy nhiên phải thấy rằng kiểm duyệt không chỉ riêng có ở Việt Nam. Tại Arab Saudia cũng có kiểm duyệt.

Rất tiếc! Nhưng nói công bằng thì không chỉ riêng ở quốc gia cộng sản mới kiểm duyệt.

'Không nên kiểm duyệt'

Còn quan điểm chính sách riêng của tôi thì tôi cho rằng không nên bao giờ có kiểm duyệt. Tôi cho là bao giờ cũng phải có tự do ngôn luận hoàn toàn. Cho nên tôi không đặt ra câu hỏi kiểm duyệt là phù hợp hay không phù hợp.

Nhưng có vẻ nhà cầm quyền ở Việt Nam buộc phải kiểm duyệt vì họ lo lắng cho quyền lợi và vị trí của họ bị ảnh hưởng? Đúng thế, ngay Trung Quốc cũng vậy thôi. Nhưng liệu có khác biệt gì giữa các kiểm duyệt đó? Tôi nghĩ là có và tôi đã viết một bài ở hội thảo ở Nha Trang năm ngoái. Tôi nghĩ sinh hoạt trí thức ở Trung Quốc họ được phép thoáng hơn ở Việt Nam.

Tôi về Việt Nam năm ngoái và được nghe nhiều ý kiến của anh em trí thức, nhiều ý kiến rất hay, nhiều người cũng rất bức xúc, chỉ có điều là nói công khai thì không được.

Về giáo dục, đừng hỏi tôi về chuyện tại sao số lượng các tiến sĩ cần đào tạo cho Việt Nam thời gian tới đây không nhiều hơn hay ít con số 20 nghìn. Xin hỏi ông Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân thì đúng hơn, tôi không biết được. Còn ở Việt Nam hiện nay mọi người bàn nhiều về giáo dục, vì lĩnh vực này ở Việt Nam đang bị khủng hoảng.

Có nhiều vấn đề quá nên ai cũng bức xúc, ai cũng có con cái trong nhà đi học, nên ai cũng quan tâm. Tình trạng giáo dục, theo tôi quan sát, nếu không đi xuống thì cũng không khá hơn được một chút nào hết. Đó là điều hiển nhiên mà ai cũng hiểu được.

'Nghe cổ điển cả ngày'

Tôi phải làm một lúc nhiều việc, nhưng về các thú vui riêng thì tôi vẫn nghe nhạc. Tôi nghe nhạc cổ điển 24/24 tiếng. Lúc nào cũng nghe. Tôi có hai cách nghe. Cách thứ nhất là nghe một tác giả từ A tới Z, đầu tới cuối. Và thứ hai là nghe nhiều dàn nhạc biểu diễn cùng một tác phẩm để so sánh.

Có tuần tôi bỏ ra cả tuần để nghe một trăm mấy chục bản symphony của Haydn. Một tuần khác tôi nghe tất cả các tác phẩm của Beethoven.

Trở lại trang Viet-studies, nhân đây tôi cũng nhờ BBC Việt ngữ chuyển lời cảm ơn của tôi tới các độc giả và cũng xin lỗi là tôi không thể trả lời được hết các email mà mọi người gửi cho tôi.

Cuối cùng, trả lời câu hỏi đầu xuân về tương lai của Việt Nam, tôi nghĩ rằng lẽ dĩ nhiên Việt Nam sẽ còn thay đổi. Tôi là người có tinh thần Á Đông. Người Tây Phương nghĩ tới đường tiến lên, tiến hoài, còn Á Đông nghĩ tới những lúc lên lúc xuống.

Tôi không bi quan, cũng không lạc quan. Mình trong thời điểm nào thì lo cho thời điểm đó. Tôi nghĩ rằng nước Việt Nam sẽ tồn tại mãi mãi, còn lúc lên lúc xuống là chuyện thường tình thôi.

Giáo sư Trần Hữu Dũng giảng dạy kinh tế học tại Đại học Wright State, ở Dayton, Ohio, Mỹ. Ông tham gia biên tập trang mạng Arts & Letters Daily và đồng thời là tác giả của trang Viet-studies có nội dung cập nhật báo chí, tin tức trong và ngoài nước về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá Việt Nam

(BBC Việt ngữ)

24 tháng 1, 2009

Lễ nhậm chức khơi dậy niềm hy vọng


Lê Quỳnh
BBCVietnamese.com, Washington DC

HOCMOINGAY. Trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống, chữ "tôi" chỉ dùng ba lần, trong lúc đại từ "chúng ta" xuất hiện hơn 60 lần, vừa để hứa hẹn một chính quyền "của nhân dân" mà cũng là lời kêu gọi nhân dân góp sức. Ông kêu gọi người Mỹ trở lại với những giá trị "cũ" mà cha ông đã dựa vào để dựng xây nước Mỹ: "sự chăm chỉ và trung thực, dũng cảm và công bằng, rộng lượng và tò mò, trung thành và yêu nước". Cái người Mỹ phải có là "một thời kỳ mới của tinh thần trách nhiệm, sự nhận diện của từng người Mỹ rằng chúng ta có nhiệm vụ với bản thân, quốc gia và thế giới". Ảnh: Tổng thống Barack Obama đọc diễn văn nhậm chức, báo hiệu thời kỳ mới


Cuối cùng thì ông Barack Obama đã chính thức trở thành vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, trong một buổi lễ nhấn mạnh niềm hy vọng, sự đoàn kết dân tộc và rằng Hoa Kỳ vẫn sẽ là lãnh đạo của thế giới.

Dẫu đã biết rằng ngày 20.01.2009 là ngày lịch sử không chỉ của nước Mỹ mà cả thế giới, đã được thông báo sẽ có từ 1.5 - 2 triệu người đổ về trung tâm dự lễ, thì khi viết những dòng này, tôi vẫn còn trong cảm giác ngất ngây vì chưa bao giờ trải qua một ngày hội chính trị như vậy.

Ngày hội

Buổi sáng sớm, tôi đến ga Metro để đón tàu điện vào trung tâm. Tại ga, số lượng người đông tới mức theo sự sắp xếp của cảnh sát, chúng tôi phải chầm chậm đi bộ khoảng 40 chục mét, rồi...đi vòng trở lại thêm 40 mét nữa trước khi vào được ga.

Toàn bộ thời gian từ lúc có mặt ở ga cho đến khi bước qua được cổng soát vé là 56 phút.

Có vài người "nhanh tay, lẹ chân", lợi dụng khi cảnh sát không để ý, đã tách hàng, lẻn vào dòng người đi trước. Nhưng hầu hết đều ngoan ngoãn đi từng bước, vui vẻ nói cười và chụp hình kỷ niệm.

Đến lúc tôi ra được khu vực ngoài trời National Mall, nơi dân chúng đổ về để chứng kiến giây phút Obama tuyên thệ, các đường phố chật cứng người. Nhiệt độ thì dưới âm, và thực ra ta chẳng nhìn thấy gì khi dõi mắt về phía khu vực lễ đài Capitol.

Chả thế mà bài xã luận trên Washington Post sáng nay nói đứng ngoài trời thì không thấy gì, không nghe được gì; sướng nhất là xem tivi.

Nhưng tờ báo vẫn thúc giục tất cả hãy Đi vì đây là "khoảnh khắc lịch sử phi thường".

Một gia đình gồm hai vợ chồng, hai con 8 và 15 tuổi, đã đi từ bang Oklahoma tới đây. Người chồng nói với tôi rằng lần cuối ông dự một lễ nhậm chức tổng thống là năm 1977 khi Jimmy Carter bước vào Tòa Bạch Ốc.

Hơn 30 năm sau, gia đình lên thủ đô vì giống như bao nhiêu người khác, họ nói chưa khi nào họ lại tưởng tượng sẽ có một tổng thống Mỹ da đen.

Khi buổi lễ chưa bắt đầu, tôi đã thấy quanh mình có người khóc, giọt nước mắt của hạnh phúc và hy vọng.

Khủng hoảng và hy vọng

Sau khi đã đặt tay lên cuốn Kinh thánh đọc lời thề nhậm chức, vào khoảng 12h10 giờ địa phương, Tổng thống Obama bắt đầu bài diễn văn nhậm chức.

Ông cảm ơn người tiền nhiệm Bush vì "về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về sự hào phóng và tinh thần cộng tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này."

Một lời cảm ơn khá lạnh nhạt, và liền lập tức, tân tổng thống chỉ trích đống bề bộn mà chính quyền Cộng hòa để lại.

Ông nói có những tổng thống tuyên thệ trong giai đoạn phồn vinh và hòa bình, nhưng "những lời tuyên thệ cũng thường vang lên trong lúc dông bão".

Tân tổng thống liệt kê những ví dụ của khủng hoảng mà Hoa Kỳ đang hứng chịu: chiến tranh, kinh tế suy yếu ("hậu quả của lòng tham và vô trách nhiệm của vài kẻ, nhưng cũng là sự thất bại tập thể khi không dám có lựa chọn khó khăn và chuẩn bị cho đất nước trước thời kỳ mới"), người dân mất nhà mất việc, hệ thống y tế tốn kém, trường học yếu kém...

Không kém phần nghiêm trọng là "tâm trạng mất niềm tin trên toàn đất nước - một tâm trạng sợ hãi đeo đẳng rằng sự đi xuống của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệkế tiếp sẽ phải hạ bớt tầm nhìn".

Bài diễn văn là sự cân bằng giữa thực tế đầy thách thức và niềm hy vọng mà tân tổng thống hứa hẹn đem lại.

Người xem vỗ tay khi ông nói "chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, cùng hướng tới một mục tiêu chung thay vì có xung đột và bất hòa".

Trách nhiệm người dân

Một thông điệp quan trọng, không chỉ trong bài diễn văn mà đã được ông Obama đề cập trong mấy ngày gần đây, đó là người dân Mỹ phải nâng cao tinh thần cộng đồng, trách nhiệm tập thể để phục hồi Giấc mơ Mỹ.

Phát biểu hôm thứ Hai ở một trường trung học, ông nói: "Chính phủ chỉ có thể làm đến mức nào thôi. Nếu chúng ta chờ đợi ai đó làm giúp, việc sẽ chẳng bao giờ xong".

Trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống, chữ "tôi" chỉ dùng ba lần, trong lúc đại từ "chúng ta" xuất hiện hơn 60 lần, vừa để hứa hẹn một chính quyền "của nhân dân" mà cũng là lời kêu gọi nhân dân góp sức.

Ông kêu gọi người Mỹ trở lại với những giá trị "cũ" mà cha ông đã dựa vào để dựng xây nước Mỹ: "sự chăm chỉ và trung thực, dũng cảm và công bằng, rộng lượng và tò mò, trung thành và yêu nước".

Cái người Mỹ phải có là "một thời kỳ mới của tinh thần trách nhiệm, sự nhận diện của từng người Mỹ rằng chúng ta có nhiệm vụ với bản thân, quốc gia và thế giới".

Bác bỏ sự hồ nghi của những người "có trí nhớ quá ngắn", ông Obama nhắc lại nước Mỹ đã luôn có thể vượt qua thách thức "khi trí tưởng tượng của mọi người được hòa trong một mục đích chung, điều cần thiết cho sự can đảm".

Ông khẳng định nước Mỹ vẫn giữ vị trí lãnh đạo thế giới, nhưng trong cử chỉ phê phán ngầm "cuộc chiến chống khủng bố" của ông Bush, ông nói Hoa Kỳ sẽ không lựa chọn một trong hai, "giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta".

Làm như thế, nước Mỹ sẽ xứng đáng với "bản hiến chương đảm bảo pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ".

Ông cũng ngầm hứa Hoa Kỳ sẽ dùng vũ lực có trách nhiệm khi nói "sức mạnh của chúng ta lớn mạnh dần là nhờ chúng ta đã sử dụng nó một cách cẩn trọng".

Lần đầu tiên trong một diễn văn nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Obama có thông điệp cho thế giới Hồi giáo: "Chúng ta tìm hướng đi tới mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau".

Trong tiếng vỗ tay của triệu người có mặt, tân tổng thống cũng nhắn gửi: "Đối với những kẻ muốn đạt mục tiêu bằng cách khủng bố và giết người vô tội,...các người không thể tồn tại lâu hơn chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các người."

Đây không phải là diễn văn xuất sắc nhất mà Barack Obama từng đọc; nó không đạt tới gần mức tuyệt hảo như bài nói tại đại hội đảng Dân chủ 2004 hay diễn văn chiến thắng hồi tháng 11 năm ngoái.

Điều này không có gì lạ, vì theo cố sử gia Arthur Schlesinger Jr, diễn văn nhậm chức tổng thống "là hình thức nghệ thuật tầm tầm. Nó ít khi là dịp cho tư tưởng độc đáo hoặc kích thích suy tư".

Có thể xét theo chiều dài lịch sử, diễn văn ngày hôm nay của vị tổng thống thứ 44 không độc đáo, nhưng chắc chắn nó "kích thích suy tư", không chỉ cho người Mỹ mà cả công dân từ các quốc gia khác.

Cho đến ngày 20.01, người ta xét đoán Barack Obama hầu như dựa trên ngôn từ của ông.

Sau diễn văn ngày hôm nay, tổng thống phải bắt tay vào hành động.

Thách thức trước mặt ông và nước Mỹ là vô cùng lớn, nhưng ngày hôm nay, bài diễn văn đem lại hy vọng rằng từ đây, tình hình sẽ khác.


THÁCH THỨC TRƯỚC MẶT TỔNG THỐNG OBAMA VÀ NƯỚC MỸ LÀ VÔ CÙNG LỚN


Nguyễn Xuân Nghĩa

Tổng thống Obama và Thiên hạ sự. Hạnh phúc là khi mình bước lên lầu… Nhìn từ bên ngoài, thế giới thở phào nhẹ nhõm vì cuối cùng rồi tám năm của George W. Bush cũng kết thúc. Dân Mỹ đã bầu lên một nhân vật được cảm tình của nhiều rất nhiều người tại nhiều quốc gia trên thế giới. Từ nay, thế giới có thể sẽ ứng xử với một lãnh tụ dễ thương hơn. Ðây là lúc Hoa Kỳ sẽ chuộc lại những lỗi lầm xưa. Nhưng, người lãnh đạo nước Mỹ chưa chắc đã nghĩ vậy. Và nhiều phần sẽ không làm như vậy.

Là một chính khách siêu hạng, và tay hùng biện có nhiều may mắn, Barack Obama đã thắng cử nhờ những hứa hẹn có khả năng thỏa mãn sự trông đợi của nhiều thành phần khác nhau. Mọi chính trị gia thành công để thành lãnh tụ đều phải hứa hẹn như vậy, dù đấy là những lời hứa mâu thuẫn. Khi cầm quyền, bí quyết thành công là thực hiện các lời hứa - và giải quyết các mâu thuẫn ấy - mà vẫn giữ được một khối người ủng hộ chiếm đa số.

Ðấy là vấn đề của mọi tổng thống.

Việc dung hòa quyền lợi hay đòi hỏi của nhiều khối cử tri khác nhau là bài toán nan giải cho tân tổng thống. Nan giải không kém - và là trọng tâm của bài này - là dung hòa quyền lợi của Hoa Kỳ với nhiều đòi hỏi hay trông đợi đầy mâu thuẫn của thế giới. Nếu có nền tảng ủng hộ đủ mạnh bên trong, Obama sẽ có tư thế mạnh để ứng phó với bên ngoài. Mà “bên ngoài” ấy đang là một thế giới khủng hoảng, nguy ngập không kém nạn suy thoái kinh tế tại Hoa Kỳ.

Trong khi nước Mỹ háo hức chờ đón ngày đăng quang của tân tổng thống, có hai vụ khủng hoảng đã tạm êm để rồi sẽ đặt ra những thách đố mới cho Barack Obama.

Vụ khủng hoảng về khí đốt giữa Liên Bang Nga và Ukraine đã lọt khỏi sự chú ý của dư luận Mỹ. Sau ba tuần đấu trí và thi gan về khí đốt bán cho Ukraine - làm cả Âu Châu phải rùng mình giữa mùa lạnh - Thủ Tướng Vladimir Putin của Nga đã đạt thỏa thuận với vị tương nhiệm của Ukraine là bà Yulia Timoshenko. Từ nay, Cộng Hòa Ukraine sẽ mua khí đốt của Tổng Công Ty Gazprom với giá thân hữu mà nước Nga đã chấp thuận cho các nước đồng minh - hay đồng chí - như Armenia hay Belarus. Hoặc cho Ukraine trước khi cuộc Cách Mạng Da Cam năm 2004 đã đưa xứ Ukraine về gần với Âu Châu.

Timoshenko là một trong hai lãnh tụ đã châm ngòi cho cuộc cách mạng dân chủ ấy. Người kia là Tổng Thống Viktor Yushchenko, nay đang chờ ngày về quê với tỷ lệ ủng hộ chưa đầy 3%.

Sau khi tấn công Georgia vào Tháng Tám năm ngoái, Liên Bang Nga tiếp tục đẩy ngược làn sóng dân chủ thân Tây Phương ra khỏi vùng phiên trấn cố hữu của mình. Việc Ukraine sẽ mua khí đốt với giá biểu hữu nghị cho thấy kế hoạch đưa Georgia và Ukraine vào Âu Châu và trở thành hội viên của Minh Ước NATO là chuyện xa vời. Nước Mỹ của Obama - hết là của Bush - vừa bị lột giáp và ở tại một địa bàn chiến lược. Ukraine rửa chân bên Hắc Hải là nơi hạm đội Nga có thể xuống tới Turkey, hay trổ ra Ðịa Trung Hải.

Nhưng nghiêm trọng hơn vậy, việc Putin lại “hòa dịu” với Timoshenko thật ra là kết quả của một… bóng hồng. Trong khi Obama chuẩn bị đi Chicago đáp chuyến xe hỏa gợi nhớ tới Tổng Thống Lincoln về thủ đô Washington, Thủ Tướng Putin đã có hai ngày gặp gỡ Thủ Tướng Angela Merkel của Ðức. Bà mai Angela này đã kín đáo dàn xếp vụ khủng hoảng. Ðức có mua khí đốt của Nga, nhưng không từ ống dẫn khí chạy qua lãnh thổ Ukraine, nên không bị tổn thất như cả chục quốc gia Âu Châu khác. Nhưng, Angela Merkel không muốn trở thành tuyến đầu chống Nga - như đã không đồng ý với việc đón Georgia và Ukraine vài NATO - và đang lãnh đạo “lực lượng thứ ba” sặc mùi hòa giải.

Khủng hoảng khí đốt tại Ukraine vì vậy che giấu một vụ khủng hoảng lớn hơn, sự rạn nứt tại Âu Châu, giữa Âu Châu cũ là các nước Tây Âu chủ hòa và Âu Châu mới là các nước Ðông Âu nay đang e ngại sẽ lại bị hy sinh nữa vì trôi ngược vào quỹ đạo của Liên Bang Nga, một hậu thân mới của Ðế Quốc Xô Viết.

Khi tranh cử, Obama chủ trương huy động sự hợp tác của Âu Châu và ông được dư luận Âu Châu công kênh lên tới trời xanh. Bây giờ, khi nhậm chức, ông sẽ thấy Âu Châu không có khả năng liên thủ với Hoa Kỳ - như Bush 43 đã trông đợi và thất vọng - để bảo vệ phân nửa của Âu Châu. Nói chi đến việc tăng cường quân số cho NATO trên trận tuyến Afghanistan?

Hay là việc xây dựng lại một kiến trúc tài chánh mới cho thế kỷ 21?

Ngoại Trưởng Tân Cử Hillary Clinton là người có viễn kiến. Tuần qua, trong cuộc điều trần trước Thượng Viện, bà nhẹ nhàng định nghĩa lại NATO - rất hợp khẩu vị Putin - và còn nhá cho thấy một chức năng mới của Minh ước: bảo vệ an ninh về năng lượng. Bao giờ NATO lo thêm chuyện giải trừ nạn nhiệt hóa địa cầu nữa thì mọi việc đều êm!

Lên đến đỉnh cao rồi, Barack Obama có mở màn cho việc giải giới NATO không? Tất nhiên là không. Nhưng làm sao dung hòa những đòi hỏi trái ngược ấy khi các đồng minh đều muốn thoái thác gánh nặng và chỉ thích làm ông Thiện chứ không làm ông Ác?

Nói về đồng minh thì Cộng Hòa Hồi Quốc Pakistan cũng bắt đầu giở quẻ.

Người ta chưa biết là khi nào xung đột Ấn Hồi sẽ bùng nổ sau vụ khủng bố tại Mumbai, nhưng đã thấy Pakistan hết muốn là đồng minh chiến lược của Mỹ tại chiến trường Afghanistan - ưu tiên đối ngoại của ứng cử viên Obama. Bộ Chỉ Huy Quân Khu Trung Ương CENTCOM do Tướng David H. Petreaus lãnh đạo có thể rút được một chân ra khỏi Iraq nhưng chưa biết sẽ xoay trở thế nào với Afghanistan khi các hội viên NATO tại Âu Châu ngần ngại đưa thêm quân. Bây giờ đường tiếp vận cho Afghanistan - qua ngả Pakistan - lại có thể bị tắc. Làm sao vận động được sự hợp tác của các nước Cộng Hòa Trung Á giáp giới với Afghanistan khi thợ vẽ Vladimir Putin còn khoanh tay ở đó?

Sau chuyện để mất Ukraine - là điều có thể xảy ra - Obama sẽ xử trí thế nào với Pakistan? Ông đã có vẻ học bài rất nhanh khi tuyên bố ngược vào tuần qua, rằng việc tiêu diệt trùm khủng bố al-Qaeda là Osama bin Laden không là một mục tiêu ưu tiên. Còn Pakistan? Có đưa quân vào đó để tiêu diệt hậu cứ của al Qaeda và Taliban không?

Mà nào chỉ có Pakistan?

Trong ba tuần khủng hoảng tại Ukraine - ba tuần Obama ráo riết chuẩn bị lễ đăng quang - Israel đã gây ra một cuộc khủng hoảng khác, khi ra tay gỡ ngòi nổ của lực lượng Hamas trong dải Gaza. Trong suốt thời gian đó, Obama khéo núp sau khẩu hiệu “Hoa Kỳ chỉ có một tổng thống tại chức mà thôi” để khỏi phải nêu ra quan điểm của mình.

Thế rồi hai ngày trước khi ông nhậm chức, Israel đơn phương quyết định hưu chiến.

Mục tiêu đã đạt là diệt trừ được bộ phận đầu não của phe cực đoan nhất trong lực lượng Hamas và phá hủy nhiều căn cứ tàng trữ hỏa tiễn mà đặc công Hamas vẫn bắn vào lãnh thổ Israel. Ly kỳ nhất là nhân chiến dịch tảo thanh, các đơn vị Israel đã diệt được các “cố vấn” của Iran trong lực lượng Hamas.

Tổng Thống Obama chưa cho biết đối sách của ông với Iran là thế nào, nhiều phần không thể là trực tiếp nói chuyện vô điều kiện như ông hứa hẹn khi tranh cử. Người ta cũng chưa biết Tehran sẽ nắn gân hay thử lửa tân Tổng thống ra sao. Nhưng dù chưa biết, hoặc chính là vì chưa biết, Israel sẽ không thụ động chờ đợi.

Sau “thắng lợi” tại Gaza, đảng Kadima của Ngoại Trưởng Tzipi Livni có hy vọng thắng cử tháng tới và tân Thủ Tướng Livni sẽ có thế mạnh để nói chuyện phải quấy với Iran. Và chưa chắc sẽ là đồng minh dễ bảo của Tổng Thống Obama…

Làm sao xây dựng được một quốc gia Palestine sống chung bên quốc gia Israel khi hai phe Palestine là Fatah và Hamas ở hai nơi biệt lập là Tây ngạn sông Jordan và Dải Gaza lại chưa chịu sống chung với nhau? Mà làm sao sống chung trên hai khu vực biệt lập?

Từ bên ngoài, mới chỉ điểm qua tình hình Âu Châu, Nam Á và Trung Ðông, với các điểm nóng là Ukraine, Paskistan và Israel, người ta đã thấy thực đơn khó nuốt cho tân tổng thống.

Ðây là ta chưa nói đến hàng loạt vấn đề khác.

Mexico có thể tan rã vì chính quyền bất lực bị sụp đổ trước các tổ chức ma túy nay đã trở thành những sứ quân có võ trang và tiền bạc. Trung Quốc đang chìm dần trong khủng hoảng và vừa bắn tiếng sẽ không châm tiền mua công khố phiếu của Mỹ để cấp cứu hệ thống tài chánh Hoa Kỳ! Các nước đồng minh và đối tác kinh tế của Mỹ đều tự chuẩn bị cho một trận chiến mậu dịch với chính quyền Obama nay đang cuốn vào trào lưu bào hộ mậu dịch.

Trong khi ấy, sau khi đẩy ngược làn sóng dân chủ, thợ vẽ Putin đã sẵn sàng tiến lên vùng Baltic phía Bắc Âu Châu và quay trở về Ðịa Trung Hải ở phía Nam. Biết làm thơ thì Obama không thể coi thường họa sĩ Putin (ông này vừa bán đấu giá một bức tranh được hơn triệu bạc!) Những người tài hoa như vậy thường dễ hiểu nhau lắm.

Barack Obama không thể lùi được. Hoa Kỳ sẽ không thể bọc xuôi về khuynh hướng tự cô lập…

“Hạnh phúc là khi mình bước lên lầu…” Ai đó đã ví von như vậy. Lên tới đỉnh cao, nhiều khi hạnh phúc làm mình chóng mặt và nổi hung. Tổng Thống Barack Obama có thể sớm nghĩ vậy khi an toàn cởi lễ phục bước vào phòng bầu dục, với một chồng hồ sơ trước mặt. Về đối nội, ông có thể vượt cạn và trở thành một Bill Clinton. Về đối ngoại, có khi ông sẽ là… Bush. Mà có quyền hung dữ hơn nhiều.

Thiên hạ có thể hiểu lầm về Obama chứ đừng nên hiểu lầm về nước Mỹ.

Nguyễn Xuân Nghĩa

20 tháng 1, 2009

Trích thư Tổng thống Mỹ Obama gửi các con


HOCMOINGAY. Tổng thống Obama đã viết cho các con gái:"Khi cha còn trẻ, cha đã nghĩ cuộc sống xét cho cùng là về bản thân mình, về việc mình sẽ đi trong thế giới này ra sao, trở nên thành đạt và có được những gì mình muốn. Nhưng rồi hai con đã đến với cuộc sống của cha với tất cả sự tò mò, tinh quái và những nụ cười luôn làm cha ấm lòng và toả sáng cuộc sống của cha mỗi ngày. Và bỗng nhiên, tất cả những kế hoạch to tát cha đặt ra cho bản thân dường như chẳng còn gì quan trọng. Cha nhanh chóng nhận ra rằng niềm vui lớn nhất của cuộc đời cha chính là niềm vui cha nhìn thấy trong cuộc đời các con. Và cha nhận ra rằng cuộc sống riêng của cha sẽ chẳng có ý nghĩa gì mấy nếu cha không thể đảm bảo rằng các con sẽ có được mọi cơ hội để hạnh phúc và thành công trong cuộc sống của các con." (Gia đình Obama. Ảnh: Corbis)


NHỮNG ĐIỀU CHA MUỐN CHO CÁC CON VÀ CHO MỌI TRẺ EM

Trích thư của Tổng thống Mỹ tân cử Barack Obama gửi
các con gái đăng trên tạp chí Parade ngày 14.1.2009


Malia và Sasha yêu quý,

Cha biết cả hai con đã rất vui vẻ trong hai năm qua với những chuyến vận động tranh cử, các buổi dã ngoại, các cuộc diễu hành và các hội chợ bang, ăn tất cả những món ăn vặt mà đáng nhẽ cha và mẹ các con không nên để các con ăn. Nhưng cha cũng biết rằng mọi việc không phải lúc nào cũng dễ dàng với các con và mẹ, và dù hai con đã rất thích khi có một chú cún mới, thì điều đó cũng chưa thể bù đắp được thời gian mà gia đình chúng ta phải xa nhau.

Cha biết trong hai năm qua cha đã bỏ lỡ những gì, và hôm nay cha muốn nói cho hai con biết thêm một chút về lý do tại sao cha lại quyết định đưa cả gia đình vào chuyến đi này.

Khi cha còn trẻ, cha đã nghĩ cuộc sống xét cho cùng là về bản thân mình, về việc mình sẽ đi trong thế giới này ra sao, trở nên thành đạt và có được những gì mình muốn. Nhưng rồi hai con đã đến với cuộc sống của cha với tất cả sự tò mò, tinh quái và những nụ cười luôn làm cha ấm lòng và toả sáng cuộc sống của cha mỗi ngày. Và bỗng nhiên, tất cả những kế hoạch to tát cha đặt ra cho bản thân dường như chẳng còn gì quan trọng. Cha nhanh chóng nhận ra rằng niềm vui lớn nhất của cuộc đời cha chính là niềm vui cha nhìn thấy trong cuộc đời các con. Và cha nhận ra rằng cuộc sống riêng của cha sẽ chẳng có ý nghĩa gì mấy nếu cha không thể đảm bảo rằng các con sẽ có được mọi cơ hội để hạnh phúc và thành công trong cuộc sống của các con. Tóm lại, các con gái của cha, đó chính là lý do tại sao cha tranh cử Tổng thống: vì những gì cha muốn cho các con và cho mọi trẻ em ở đất nước này.

Cha muốn tất cả trẻ em đều được học ở những ngôi trường tương xứng với tiềm năng của chúng, những ngôi trường sẽ thử thách chúng, truyền cảm hứng cho chúng, và khiến chúng luôn tò mò về thế giới quanh mình. Cha muốn chúng có cơ hội học đại học, kể cả khi cha mẹ chúng không giàu có. Và cha muốn chúng tìm được việc làm tốt, những công việc lương cao và có đầy đủ phúc lợi y tế, những công việc mà chúng vẫn có thời gian chơi với con cái và nghỉ hưu một cách đầy tự trọng.

Cha muốn chúng ta đẩy xa ranh giới của sự khám phá để các con có thể nhìn thấy những công nghệ và phát minh mới, những thứ sẽ cải thiện cuộc sống của chúng ta và làm cho hành tinh này sạch sẽ và an toàn hơn. Và cha cũng muốn chúng ta đẩy xa những ranh giới trong mỗi con người để vượt ra khỏi sự chia rẽ về sắc tộc và vùng miền, giới tính và tôn giáo vốn khiến chúng ta không thể nhìn thấy những gì tốt nhất ở mỗi con người.

Đôi khi chúng ta cũng phải đưa những thanh niên của mình ra chiến trận và những tình huống hiểm nghèo khác để bảo vệ đất nước chúng ta, nhưng khi làm vậy, cha muốn chắc chắn rằng điều đó chỉ vì những lý do tốt, rằng chúng ta đã cố gắng hết sức để hoà giải những khác biệt với các quốc gia khác một cách hoà bình, và rằng chúng ta làm mọi việc có thể để giữ cho các quân nhân của chúng ta an toàn.

Và cha muốn mỗi trẻ em đều hiểu rằng những người Mỹ can đảm đó không tự dưng chiến đấu vì những phúc lành đó mà không có lý do, rằng là công dân của đất nước này vừa có quyền lợi to lớn mà cũng có những trách nhiệm nặng nề.

Đó chính là bài học mà bà ngoại đã dạy cha khi cha bằng tuổi các con. Bà đã đọc cho cha nghe những dòng trong Tuyên ngôn độc lập và kể cho cha nghe chuyện về những con người đã đấu tranh cho sự bình đẳng, vì họ tin rằng những lời viết ra trong văn bản đó cách đây hai thế kỷ hẳn phải có ý nghĩa gì đó.

Bà đã giúp cha hiểu rằng nước Mỹ vĩ đại không phải vì nước Mỹ hoàn hảo, mà vì nước Mỹ luôn cố gắng hoàn thiện mình. Và những công việc còn dang dở để hoàn thiện sự đoàn kết của chúng ta chính là trách nhiệm của mỗi người. Đó là trách nhiệm mà chúng ta truyền lại cho con cháu, để mỗi thế hệ mới có thể nhìn thấy rõ hơn nước Mỹ mà chúng ta biết mình phải xây dựng nên.

Cha hy vọng cả hai con sẽ đảm nhận công việc đó, tìm ra điều đúng từ những điều sai trái các con nhìn thấy và làm việc để đem đến cho người khác những cơ hội mà các con đã có. Không phải chỉ bởi vì các con có nghĩa vụ phải trả ơn đất nước đã cho gia đình ta quá nhiều thứ, mặc dù đúng là các con có nghĩa vụ đó. Mà còn bởi vì các con có nghĩa vụ đối với bản thân mình. Bởi vì chỉ khi các con dấn bước đến điều gì đó lớn hơn bản thân, các con sẽ nhận ra tiềm năng đích thực của mình.

Đó là những điều cha muốn cho các con, được lớn lên trong một thế giới không có giới hạn đối với những ước mơ và không có thành công nào nằm ngoài tầm với, và trở thành những người phụ nữ giàu lòng trắc ẩn và tận tuỵ, góp phần xây dựng thế giới này. Và cha muốn mọi trẻ em đều có cơ hội học hành, mơ ước, lớn lên và thành đạt giống như các con. Đó chính là lý do tại sao cha đưa cả gia đình mình vào cuộc phiêu lưu lớn này.

Cha rất tự hào về hai con. Cha yêu các con hơn các con biết rất nhiều. Và mỗi ngày, cha đều biết ơn sự kiên nhẫn, bình tĩnh, thái độ và cả sự hài hước của các con khi chúng ta cùng nhau chuẩn bị cho cuộc sống mới trong Nhà Trắng.

Yêu các con,

Cha

(Tuần Việt Nam Theo Slate.com - Chung Hoàng dịch)

15 tháng 1, 2009

Kỷ niệm nhỏ về Võ đại tướng


Nguyễn Quang Lập

Cả ngàn người vụt đứng dậy vỗ tay như sầm rền, kéo dài hơn 10 phút, nhiều người khóc oà. Mình bật khóc nức nở, chạy ra khỏi hội trường đứng khóc, hét to ôi sướng quá trời ơi. Tối đó về nhà nằm lúc lúc lại bật khóc. Đang viết những dòng này cũng nước mắt như mưa.


Dân Quảng Bình ở Hà Nội hầu hết đã gặp cụ Võ, dân làm báo viết văn Quảng Bình hầu hết đã đến nhà cụ chơi, thế mà mình thì không.

Bữa trước ngồi nhậu với Trần Quang Đạo, Bảo Ninh, Nguyễn Hữu Quí, chúng nó hẹn đến chơi nhà cụ, mình không đi.

Anh Mỹ rất gần gũi cụ, xưa đã từng theo cụ cả năm trời vào cái thời lấy Tây Nguyên làm thủ đô kinh tế, với cô Hà lại là chỗ thân thiết, anh bảo mình đến chơi mấy lần, nhưng mình ngại, không đến.

Chẳng phải vì sợ mang tiếng thấy người sang bắt quàng làm họ, chỉ vì mình ngưỡng mộ từ lâu rồi, ngưỡng mộ thấm tận xương tủy, bây giờ gặp chẳng may vì lý do gì đó làm mình thất vọng thì chán lắm.

Đã có đôi ba người ở xa thì yêu quí kính trọng vô cùng, khi gặp cái là chán ngoét, đôi khi vì chuyện đó mà buồn cả tháng. Thành ra mình quyết định ở xa ngưỡng mộ cụ thôi.

Dân Quảng Bình, là nói dân sở tại, ai cũng có thể chê bai, kể cả bố mẹ, nhưng cụ Võ thì không, tuyệt nhiên không. Thế gian có ba người dân Quảng Bình thờ phụng đó là Chúa, Phật và cụ Võ.

Họp hội đồng hương năm nào cụ cũng đến, hễ cụ đến trễ tý là lại xôn xao, thì thào không biết có chuyện chi mà giờ này cụ chưa đến. Cụ nói nhỏ, người nghe thì đông, hầu hết chẳng nghe gì nhưng hễ cụ nói xong ai nấy đều hân hoan như vừa nghe xong thánh chỉ.

Chẳng phải thời cụ làm quan cụ lo lót được cho dân Quảng Bình. Mình hỏi nhiều ông quan to Quảng Bình cụ Giáp có bố trí được ghế này ghế nọ không, ai cũng thở hắt ra nói có mô. Hễ có việc gì của tỉnh người ta chạy đến chỗ nọ chỗ kia chứ chẳng bao giờ chạy đến cụ.

Thì Phật, Chúa tóm lại có lo được dân chút gì đâu nhưng có đánh chết dân vẫn không thôi thờ phụng. Cụ Võ cũng thế thôi.

Quý Doãn nói cụ đánh hai đế quốc to đã trợt mặt rồi, mình còn đòi hỏi cụ cái chi nữa.

Thời xưa các ông bộ chính trị đều có ảnh phóng to, lồng khung treo tường cả. Mình còn bé chẳng biết ông nào ra ông nào, chỉ duy nhất cụ là mình biết, bởi vì cụ là đại tướng. Con nít thì đại tướng là ghê gớm nhất còn mấy cái chức khác thì mặc kệ, chẳng quan tâm.

Sáu, bảy tuổi ngồi há mồm nghe anh Chanh, anh Út kể chuyện cụ, sướng rêm người.

Anh Chanh kể tướng Đờ Cát gọi điện cho Cụ Hồ xin tha. Cụ Hồ hỏi Đại tướng ý kiến chú ra răng? Đại tướng nói thưa Bác thằng mô tha thì tha chứ Đờ Cát thì dứt khoát không tha. Tụi mình vỗ tay rào rào nói đúng đúng không tha không tha.

Anh Út kể đội bóng đá nước mình đá với đội Trung Quốc, bị sút quả 11m, nếu bắt thì thủ môn sẽ vỡ ngực chết, không bắt thì thua. Trưởng đoàn gọi điện cho cụ Hồ hỏi thưa Bác có bắt không, cụ Hồ thương thủ môn chết tội, định nói thôi không bắt. Đại tướng ưỡn ngực rập chân nói thưa Bác dù chết Tổ quốc mình cũng không thể thua. Cả lũ nhảy lên reo hò đúng đúng, dù chết cũng không thua.

Rồi xúm lại hỏi anh Út cuối cùng mình có thắng không. Anh Út vênh mặt lên nói thắng chơ răng không thắng. Sướng muốn ngất luôn.

Đại khái cái gì Cụ Hồ cũng hỏi Đại tướng, cái gì Đại tướng cũng quyết định ngon lành, toàn trúng không thôi. Tâm hồn bé thơ của mình đầy ắp những chuyện như thế.

Mấy chục năm sau, hình như năm 1980, đang ăn cơm bỗng nghe tin cụ đựơc phân làm trưởng ban Sinh đẻ có kế hoạch, bỏ cơm nằm khóc rưng rức suốt cả buổi chiều . Tâm hồn bị tổn thương trầm trọng giống như thấy người ta đang làm nhục bố mình.

Năm sau, kỉ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, đài ngâm bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, mình ngồi phục xem người ta có ngâm câu: Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên Giáp/ sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp hay không. Hoá ra không.

Điên tiết mình đập tan cái đài của anh Đuya, sau phải vay tiền gần chết mua cái đài mới đền anh.

Năm 1984, đoàn kịch Quân đội dựng vở Bài ca Điện Biên, hình như kịch bản của Sĩ Hanh, Doãn Hoàng Giang đạo diễn. Nghĩ bụng chắc người ta chẳng mời cụ đến dự đâu. Hóa ra cụ đến. Bụng phục thầm quân đội quá xá, chỉ có quân đội gan mới to thế chứ chẳng ai dám đâu.

Mình đứng cuối hội trường hồi hộp chờ xem cái đoạn kết. Đoạn kết có chi tiết Chính uỷ mặt trận báo cáo chiến dịch thắng lợi, chỉ mỗi câu báo cáo đại tướng hay báo cáo đại tướng Võ Nguyên Giáp mà cãi nhau ỏm tỏi.

Anh Giang thì cứ tủm tỉm cười nói rồi mày xem anh xử lý thế nào.

Vở kịch quá dài, hơn 2 tiếng, xem mệt cả người, rồi cũng đến hồi kết. Khi tập thì anh Đoàn Dũng, trong vai chính uỷ mặt trận, chỉ quay điện thoại về chỉ huy sở mặt trận báo cáo với Đại tướng. Nhưng khi đó, anh Đoàn Dũng chạy vụt xuống đứng trước mặt cụ, rập chân ưỡi ngực chào.

Cụ bị bất ngờ, lúng túng đứng lên.

Anh Đoàn Dũng nói to, dõng dạc từng tiếng một: Báo cáo đại tướng Võ Nguyên Giáp, tổng tư lệnh mặt trận, chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn toàn thắng lợi. Tướng Đờ Cát đang ở trước mặt chúng ta.

Cả ngàn người vụt đứng dậy vỗ tay như sầm rền, kéo dài hơn 10 phút, nhiều người khóc oà.

Mình bật khóc nức nở, chạy ra khỏi hội trường đứng khóc, hét to ôi sướng quá trời ơi.

Tối đó về nhà nằm lúc lúc lại bật khóc. Đang viết những dòng này cũng nước mắt như mưa.

Nguồn :Blog nhà văn Nguyễn Quang Lập 30-12-08
Quà tặng xứ mưa - Blog của nhà văn Ngô Minh

Cảm nhận của anh Lê Mai:

Anh Văn thăm miếu Văn, tướng Võ yêu Văn, Văn trị Võ công, đời đổi mới!
Ái Quốc yêu đất Nước, vì Dân vì Nước, Nước giàu Dân mạnh, Bác thêm vui!

10 tháng 1, 2009

Nông thôn và cái "sinh khí mạnh mẽ lắm"


GS Tương Lai

Có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc, nơi nuôi dưỡng sự trong lành, ấm áp của tuổi thơ bao thế hệ Việt Nam, để đổi lấy những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, phô ra cái thị hiếu hạ cấp, đổi lấy một lối sống lai căng ngấu nghiến những cặn bã của văn minh đô thị chưa kịp tiêu hóa, những hàng rởm, hàng giả độc hại, đổi lấy những dòng sông đen ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước tưoi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam, nuôi dưỡng và bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc?


Đừng quên rằng, sức sống của làng quê cổ truyền hun đúc nên nền văn hóa làng tuy bị kìm hãm bởi những tập tục hủ bại và tiêu cực của lối sống tiểu nông, nhưng không vì thế mà không thấy được rằng “không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai. Cái văn hóa của tổ tiên ta đã gây dựng trong hai nghìn năm để sinh trưởng giữa những điều kiện tự nhiên ác liệt ở xứ này, tất phải có sinh khí mạnh mẽ lắm”.[1[

“Cái sinh khí mạnh mẽ lắm” ấy đã bừng phát, trào dâng như nước vỡ bờ làm nên Cách mạng Tháng 8, tiến hành các cuộc kháng chiến chông xâm lược đến từ nhiều phía để hôm nay dấn bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Rồi ngay trong sự nghiệp xây dựng đất nước, chỉ tính trong vòng hơn hai thập kỷ sau 1975, hai lần nông thôn và nông dân đã cứu nguy cho nền kinh tế đất nước khỏi sụp đổ. Một là, vào cuối năm 1980 với sự sụp đổ của Liên Xô và khối XNCN Đông Âu, và hai là, cuối 1990 với khủng hoảng ở các nước Đông Nam Á.

Cả hai lần, sản xuất công nghiệp, có lần cả dịch vụ đều sa sút, có lúc tăng trưởng âm, chỉ nhờ nông dân kiên cường và nhẫn nại trên mặt trận sản xuất, nông nghiệp phát triển, mới cứu được cho cả nền kinh tế đã đứng bên bờ vực.

Nông dân, với “văn hóa nông thôn” của mình chính là tác giả của Đổi Mới với “khoán chui” dẫn đến chỉ thị 100 của Ban Bí thư và 8 năm sau có nghị quyết của Bộ Chính trị về “khoán hộ’, trả lại quyền tự chủ cho hộ kinh tế gia đình nông dân, đem lại động lực cho sản xuất. Từ nông nghiệp và nông thôn mà đưa đến những khởi sắc cho đô thị và công nghiệp.

Thế là “cái truyền thống-nông thôn, nông nghiệp, nông dân” đã cứu cho “cái hiện đại - đô thị, công nghiệp” những “bàn thua trông thấy”, nhưng rồi sau đó, những thành quả của Đổi Mới thì dường như nông thôn chỉ được tí chút còn đô thị hưởng trọn!

Có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc, nơi nuôi dưỡng sự trong lành, ấm áp của tuổi thơ bao thế hệ Việt Nam, để đổi lấy những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, phô ra cái thị hiếu hạ cấp, đổi lấy một lối sống lai căng ngấu nghiến những cặn bã của văn minh đô thị chưa kịp tiêu hóa, những hàng rởm, hàng giả độc hại, đổi lấy những dòng sông đen ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước tưoi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam, nuôi dưỡng và bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc?

Chẳng nhẻ lại vô ơn đến thế với người nông dân sao? Những người “Mười cái nhất”: Cống hiến nhiều nhất. Hy sinh lớn nhất. Hưởng thụ ít nhất. Được giúp kém nhất. Bị đè nén thảm nhất. Bị tước đoạt nặng nhất. Cam chịu lâu dài nhất. Tha thứ cao cả nhất. Thích nghi tài giỏi nhất. Năng động khôn ngoan nhất.[2]

Cuối cùng, để đi tìm nguyên nhân của sự kiện “lễ hội phố hoa Hà Nội”, cần trả lời được câu hỏi nữa: Liệu có người dân thành phố nào không có một gốc gác nông thôn?

Thế là từ câu chuyện lễ hội phố hoa mở đầu cho năm 2009 với nhiều thách thức nghiệt ngã mà suy tư từ nỗi đau của hoa, hoa của Hà Nội ngàn năm văn vật. Xin được thưa rằng, ở đây chỉ là những hạt cát tạo thành phù sa của con sông cuộc sống, với ý thức rằng ức triệu hạt cát mới tạo thành phù sa, và chính từ phù sa ấy mà những tư tưởng nẩy mầm.

3 tháng 1, 2009

Trao đổi của Bùi Ngọc Tấn về tác giả và tác phẩm



Bùi Ngọc Tấn

CHÀO NĂM MỚI! ..."Tác phẩm Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hòang của tôi viết đã xong, đã gửi cho NXB Văn hóa Sài Gòn, nếu được duyệt in, tôi sẽ chuyển cho Hội xem, in lời cám ơn. May quá. (ảnh: Mắt trẻ thơ - Bùi Ngọc Tấn)

Đã từ lâu, chuyện đặt hàng thường được hiểu là lo cho thằng nhà văn chỗ ăn, chỗ nghỉ,dúi vào tay dăm triệu, dắt đi lang thang đâu đó, liêng láo trợn mắt nhìn qua nhìn lại, về, ly cụng côm cốp… và, viết đi…thế thì làm gì còn gọi là sự sáng tạo, là đỉnh cao của tác phẩm? Tôi không hiểu. May mà Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cho đến Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường cho đến những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp… không thấy ai đặt hàng hay chính tự thân các nhà văn này đã đặt hàng cho chính mình bằng những mệnh lệnh của trái tim? Cũng như tôi chưa thấy một tác phẩm đặt hàng nào mà trở nên nổi tiếng cả. Chả thế năm nào, nhà văn Phạm Thị Hoài từng nói đến một nền văn học minh họa của Việt Nam với những tác phẩm viết trong chiến tranh, nhưng tôi còn hiểu thời điểm đó chính là tổ quốc đặt hàng những nhà văn-người lính cầm bút viết phục vụ nhiệm vụ đánh giặc. Không hiểu như vậy có đúng không chị Hoài ơi, thời thế thế thời phải thế.

Một nhà văn viết theo đơn đặt hàng mà lại thành công, đó chính là Nguyễn Khải, như trong các tác phẩm của mình, ông cho biết như vậy. Văn Nguyễn Khải lạnh lùng đi vào từng chi tiết đọc đến ghê người, nó không có sự óng ả mềm mại, trau truốt…nhưng đấy lại là sự thành công của nhà văn này mà không dễ có người thứ hai được như thế. Riêng với nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, chị có nhiều tác phẩm ký thành công, được nhiều giải thưởng, trong đó một tác phẩm rất nổi tiếng đó là Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời. Thế nên cơ quan tôi rất yên tâm khi “đặt hàng” chị và bản thân tôi cũng tin vào tài năng cầm bút của chị, cũng là “chọn mặt gửi vàng” , ừ cũng là đặt hàng nhưng cũng chọn người mà đặt hàng chứ !"

28 tháng 12, 2008

Thu hút nguồn lực cho các trường đại học: Kinh nghiệm từ Trung Quốc



HOCMOINGAY. Trong khoảng từ năm 1978-2005, 770.300 người Trung Quốc đã đi du học và không đầy 1/4 số đó quay trở về. Tuy nhiên, đa số những người về nước sau khi tốt nghiệp đã hồi hương sau năm 2000, chỉ tính riêng trong năm 2005 là 35.000 người. Những người hồi hương thường nhắm tới quyền được giới thiệu các phương pháp giảng dạy mới, hướng dẫn nghiên cứu hoặc giám sát quá trình cải cách chương trình giảng dạy. Họ đã tìm thấy cơ hội của họ vào năm 1998, khi chính phủ trung ương công bố một dự án được lập ra nhằm chuyển hàng triệu USD vào một nhóm nhỏ các trường đại học ưu tú, nhằm giúp chúng nổi lên trên trường quốc tế. Chính phủ Trung Quốc đã cấp cho 9 trường đại học hàng đầu khoản đầu tư tương đương 120 triệu USD mỗi trường với quy định 20% trong tổng số tiền đó được dành để thuê cán bộ từ nước ngoài.Tuy nhiên, đổi mới không phải lúc nào cũng tới một cách dễ dàng. Tại các trường đại học ít danh tiếng hơn bên ngoài Thượng Hải và Bắc Kinh, những học giả hồi hương đối mặt với điều tiếng rằng họ đang quay trở về Trung Quốc vì thất bại ở nước ngoài. Khi ngày càng có nhiều học giả hồi hương, các chính sách tuyển dụng được siết chặt. Hy vọng lớn nhất cho việc giải quyết những khó khăn trên có thể nằm ở việc tiếp tục phát triển giáo dục sau đại học.Trước sức hút của một Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh, các học giả tu nghiệp ở nước ngoài vẫn tiếp tục trở về cùng với một bộ phận nhỏ nhưng ngày càng tăng các học giả ngoại quốc thích được làm việc ở đại lục. Thanh Bình - báo Việt Nam Net, đã dịch tài liệu "The Chronicle of Higher Education" về kinh nghiệm của Trung Quốc trong sự thu hút nguồn lực cho các trường đại học (ảnh HTN: Trường Đại học Sư phạm Hoa Trung)

Ngày càng có nhiều nhà học thuật Trung Quốc được đào tạo tại Mỹ trở về nước để giảng dạy và quản lý các chương trình đặc biệt của chính phủ do hàng loạt chính sách chào mời, ưu đãi nhằm lôi kéo của nhà chức trách địa phương. Là một giáo sư tại Trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania trong những năm 1990, Trịnh Vũ Thành từng kết thân với những học giả Trung Quốc khác và mơ ước ngày trở về quê hương.

Trước kia, tại Mỹ từng có rất ít giáo sư Trung Quốc trong lĩnh vực kinh doanh và họ đã lập nên một cộng đồng nhỏ, gắn kết bền chặt và thành công. Tuy nhiên, ông Trịnh và các bạn bè của mình cảm thấy rằng tài năng của họ có thể được phát huy tốt hơn ở nơi nào đó khác.

Ông Trịnh nhớ lại: "Chúng tôi nói với nhau rằng: Tại sao chúng ta không thể xúc tiến một trường kinh doanh ở Trung Quốc?". Trung Quốc đang phát triển rất nhanh chóng. Có rất nhiều thứ cần phải học hỏi và việc đào tạo kinh doanh thì chưa phát triển lắm. Chúng tôi đã tin rằng có thể đóng góp nhiều hơn nữa ở đó".

"Lật ngược tình trạng khô cạn chất xám"

Năm 2002, các học giả đã có được cơ hội của họ khi hai nhà quản lý Trung Quốc tới để chiêu mộ tất cả về nước nhằm quản lý một trường kinh doanh mới. Ông Trịnh đã ở Mỹ kể từ những năm 1980, khi ông rời Trung Quốc để theo đuổi bằng tiến sỹ tại Đại học Columbia. Tuy nhiên, ông đã không phải mất nhiều thời gian để cân nhắc về đề xuất của nhà chức trách Trung Quốc. Quay trở về quê hương Thượng Hải, ông trở thành Phó Hiệu trưởng Trường Quản lý kinh doanh Trường Giang, nơi hiện nay 27 trên tổng số 35 cán bộ của trường là các học giả Trung Quốc từng được đào tạo tại Mỹ.

Trường quản lý kinh doanh là một trong 3 chương trình đầy tham vọng của tỉ phú Hồng Kông Lý Gia Thành nhằm cải thiện giáo dục sau đại học của Trung Quốc, một phần thông qua việc thu hút con số không nhỏ trong hàng ngàn học giả Trung Quốc đã đi du học kể từ khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa hồi những năm 1980.

Các trường đại học Trường Giang là một ví dụ tiêu biểu nhất cho dự án tuyển dụng táo bạo, đem lại kết quả mà đôi khi người ta gọi là "sự lật ngược tình trạng khô cạn chất xám" của Trung Quốc. Trong một động thái được coi là thay đổi hẳn so với chính sách ban đầu về việc tu nghiệp ở nước ngoài, các chương trình của chính phủ Trung Quốc cũng như các trường đào tạo riêng lẻ hiện đang đưa ra mức lương và những quyền lợi cạnh tranh dành cho các ứng viên quan tâm tới việc trở về từ ngoại quốc.

Cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc, các chương trình đang thu hút một số lượng ngày càng lớn số học giả hồi hương. Trong khoảng từ năm 1978-2005, 770.300 người Trung Quốc đã đi du học và không đầy 1/4 số đó quay trở về. Tuy nhiên, đa số những người về nước sau khi tốt nghiệp đã hồi hương sau năm 2000, chỉ tính riêng trong năm 2005 là 35.000 người. Những người hồi hương thường nhắm tới quyền được giới thiệu các phương pháp giảng dạy mới, hướng dẫn nghiên cứu hoặc giám sát quá trình cải cách chương trình giảng dạy.

Đối lập với những suy nghĩ hồi còn ở Mỹ trong năm 1990, ông Trịnh miêu tả sự phấn khích rõ ràng của những người đồng nghiệp của mình ở trường Trường Giang. "Ở Mỹ, bạn chỉ là một trong số hàng ngàn người tới đó mà không mong muốn. Ở Trung Quốc, mỗi người trong chúng tôi đều chọn ở lại đây". Dòng người hồi hương đổ về Trung Quốc hiện đáng chú ý đến mức hiện tượng đó đã gây ra một phản ứng dữ dội. Xung đột văn hoá, sự oán giận của người dân địa phương và thậm chí đấu đá ngấm ngầm trong nội bộ những người trở về rất phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng các vấn đề này chỉ đang làm nảy sinh những ung nhọt sẽ biến mất theo thời gian nếu môi trường học thuật ở Trung Quốc tiếp tục được cải thiện.

Phụng sự tổ quốc

Trước đây, Chính phủ Trung Quốc không phải lúc nào cũng nhìn nhận các trường đại học ngoại quốc là lò đào tạo tài năng. Vào những năm 1980, khi các học sinh xuất sắc nhất Trung Quốc ào ạt sang Mỹ du học, các quan chức tại Uỷ ban giáo dục quốc gia, hiện là Bộ Giáo dục, đã vô cùng lo lắng. Năm 1988, nhà chức trách ủng hộ việc áp dụng các biện pháp kiểm soát hộ chiếu, đòi hỏi nhiều du học sinh Trung Quốc phải quay trở về nước để hoàn thành việc học tập của mình, khiến họ không thể có thêm những kinh nghiệm hữu ích và quan hệ ở ngoại quốc.

Tuy nhiên, khi tài năng tiếp tục bị rò rỉ ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc trong một thập niên tiếp theo, chính quyền trung ương đã thay đổi cách nhìn. Các quan chức tung ra hàng loạt khẩu hiệu chào đón, kêu gọi các du học sinh "phụng sự tổ quốc" từ nước ngoài. Để loại bỏ sự hoài nghi về quê hương, văn phòng đối ngoại thuộc Uỷ ban giáo dục quốc gia đã tài trợ cho các chuyến đi thuyết trình và nghiên cứu ngắn hạn của du học sinh về Trung Quốc. Người ta hy vọng rằng các học giả sẽ dần dần tăng cường mối quan hệ với Trung Quốc, hồi hương khi có những cơ hội phù hợp để thể hiện bản thân.

Những học giả nhớ quê hương đã tìm thấy cơ hội của họ vào năm 1998, khi chính phủ trung ương công bố một dự án được lập ra nhằm chuyển hàng triệu USD vào một nhóm nhỏ các trường đại học ưu tú, nhằm giúp chúng nổi lên trên trường quốc tế. Chính phủ Trung Quốc đã cấp cho 9 trường đại học hàng đầu khoản đầu tư tương đương 120 triệu USD mỗi trường với quy định 20% trong tổng số tiền đó được dành để thuê cán bộ từ nước ngoài.

Các nhà tài trợ tư nhân cũng tham gia đóng góp. Ngoài việc cung cấp tài chính cho các trường đại học Trường Giang, quỹ do tỉ phú Lý sáng lập còn tài trợ cho Chương trình các nhà nghiên cứu Trường Giang - chương trình cung cấp các khoản tiền thưởng hàng năm lên tới 100.000 NDT (15.000 USD) cho việc tuyển dụng các giáo sư đại học công lập từ ngoại quốc. Kể từ năm 1998, hơn 800 giáo sư Trung Quốc tu nghiệp ở nước ngoài, mà phần lớn trong số họ là người hồi hương, đã đảm nhận các cương vị trong nước thông qua chương trình này.

Theo David Zweig - giám đốc Trung tâm chuyên trách các quan hệ vượt phạm vi lãnh thổ Trung Quốc thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông kiêm tác giả nhiều bài viết về vấn đề "đảo ngược sự khô cạn chất xám", bản thân các trường đại học hiện nay cũng đã đứng ra điều hành những chiến dịch tuyển dụng của riêng họ. Ông Zweig cho biết, để cải thiện thứ hạng trong các bảng đánh giá quốc tế, các trường đại học "muốn có đội ngũ nhân viên có thể đăng tải bài trên các tạp chí phương Tây". Điều này sẽ dễ dàng hơn đối với các nhà nghiên cứu thành thạo tiếng Anh.

C.S. Khang, Hiệu trưởng Trường Khoa học môi trường thuộc Đại học Bắc Kinh, là một trong số các học giả từng được tuyển dụng theo cách như trên. Ông Khang sinh ra ở Đài Loan. Vào năm 2001, lúc đang chuẩn bị nghỉ hưu ở Viện Công nghệ Georgia - nơi ông đã giảng dạy và quản lý chương trình các ngành khoa học về khí quyển, vị giáo sư này đã bay về Bắc Kinh để hỗ trợ thành phố làm sạch không khí chuẩn bị cho Thế vận hội 2008.

Sát cánh cùng các nhà quản lý Đại học Bắc Kinh, ông Khang cuối cùng đã được chỉ định vào uỷ ban điều hành các nỗ lực của trường, nhằm sát nhập 3 khoa thành một trường trực thuộc. Thiếu cái mà ông gọi là "hành trang cá nhân" của những bộ óc được đào tạo trong nước, ông Kiang đã đoàn kết một trường đang chia rẽ quanh dự án. Ông Khang kể, Tô Trí Hồng - Chủ tịch trường Đại học Bắc Kinh khi đó, đã nói rằng: "Ông chính là người đã làm được chuyện đó. Tại sao ông không làm hiệu trưởng cơ chứ?".

Khi được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo một năm sau đó, ông Khang đã được trao quyền định hình tầm nhìn của trường mới. Ông đã giới thiệu chương trình mà ông gọi bằng tiếng Anh là "4 I": quốc tế hoá, phối kết hợp các phương pháp và tri thức khoa học, hội nhập và đổi mới. Ngay cả tên trường cũng là ý tưởng của ông, ông Khang cho biết.

Đã có một việc rắc rối là lương của ông Khang cao hơn 10-20 lần số tiền mà trường địa phương từng chi trả. Theo lời ông Khang, bản thân ông đã tìm cách từ chối ưu đãi đó nhưng các nhà quản lý đại học vốn đang háo hức được quảng bá sự hào phóng của họ tới những ứng viên hồi hương tiềm tàng khác đã nhất quyết việc này. Ông Khang cuối cùng đã ủng hộ một phần của số tiền đó cho một quỹ môi trường.

Chiến lược đã có hiệu quả. Ông Khang là vị hiệu trưởng đầu tiên của một trường trực thuộc Đại học Bắc Kinh từng tu nghiệp ở nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay tại Đại học Peking còn có những học giả khác như ông Khang, gồm có Trần Thế Di - Hiệu trưởng Học viện cơ khí, người từng giảng dạy ở Đại học Johns Hopkins và Di Nhượng - Hiệu trưởng Trường Khoa học cuộc sống, người từng được tuyển mộ từ Đại học Northwestern.

Đại học Thanh Hoa đối thủ cũng lôi kéo được các học giả hồi hương xuất sắc, ví dụ như nhà kinh tế Nghiêm Anh Di từ Đại học California ở Berkeley, hiện là Hiệu trưởng Trường Kinh tế và quản lý trực thuộc và Thạch Nghĩa Công - Phó Giám đốc Viện Dược sinh hoá, người trở về từ Đại học Princeton.

Trong khi đó, ông Khang đã sử dụng vị trí của mình để tạo ra một nghề nghiệp lên như diều gặp gió, bao gồm việc xuất hiện thường xuyên tại các Diễn đàn kinh tế thế giới, các cuộc gặp của CLB Rome cùng với một vị trí cố vấn trong tổ chức những bô lão toàn cầu của ông Nelson Mandela - nhóm quy tụ cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter, người từng được giải Nobel hoà bình Desmond Tutu đến từ Nam Phi và doanh nhân người Anh Richard Branson. Ông Khang nhấn mạnh: "Tôi đã có rất nhiều hoạt động quảng bá khắp toàn cầu, điều mà tôi chưa từng làm hồi còn ở Viện Công nghệ Georgia. Mọi người tới Bắc Kinh. Họ không ghé qua Atlanta".

Những trở ngại cho sự đổi mới

Tuy nhiên, đổi mới không phải lúc nào cũng tới một cách dễ dàng. Tại các trường đại học ít danh tiếng hơn bên ngoài Thượng Hải và Bắc Kinh, những học giả hồi hương đối mặt với điều tiếng rằng họ đang quay trở về Trung Quốc vì thất bại ở nước ngoài.

Năm 2003, ông Zweig phỏng vấn một số học giả đang làm việc tại Đại học Vân Nam ở thành phố tây nam Kôn Minh, cả được đào tạo trong nước và từng tu nghiệp ở nước ngoài. "Chúng tôi nhận thấy vô số sự khinh miệt của người địa phương dành cho những người hồi hương, rất nhiều sự chế nhạo họ", ông nói.

Xung đột có thể trở nên trầm trọng khi số lượng và chất lượng của những người trở về tăng cao. Năm 2003, các nhà quản lý tại Đại học Bắc Kinh, bản thân cũng là các học giả hồi hương, đã ủng hộ các cải cách tuyển dụng, vốn tạo lợi thế cho những ứng viên có kinh nghiệm làm việc ở ngoại quốc, có học hàm giáo sư bắt buộc,... để dạy bằng ngôn ngữ thứ hai.

Theo Stanley Rosen - giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Nam California, người đang theo dõi sát sao quá trình đổi mới ở Trung Quốc, những cải cách như vậy đã vấp phải sự phản đối kịch liệt trong đội ngũ giảng dạy được đào tạo tại địa phương đến mức Trường Đại học Peking phải huỷ bỏ một phần kế hoạch trên.

Cao Công, một nghiên cứu sinh tại Viện Levin thuộc Đại học bang New York và là tác giả một cuốn sách về tầng lớp khoa học ưu tú của Trung Quốc, cho biết thêm rằng thậm chí còn tồn tại việc đấu đá trong nội bộ của những người trở về. Khi ngày càng có nhiều học giả hồi hương, các chính sách tuyển dụng được siết chặt. Những người trở về sớm, đã giành được các vị trí quyền lực nhờ các chiến dịch tuyển dụng khoan dung, có thể khiến mọi thứ khó khăn hơn cho những lần hồi hương về sau của những người xứng đáng hơn. "Chính phủ tuyên bố họ thực sự muốn mọi người quay trở về, nhưng ở cấp độ đơn vị hoạt động hoặc cấp trường đại học, đó thực sự là một việc phức tạp", ông Cao nói.

Các học giả hồi hương cũng bị chỉ trích vì cống hiến quá ít. Các sinh viên cho hay, họ đánh giá cao thành tích tại ngoại quốc của những học giả trở về nhưng nhiều người trong số này đã dồn mọi tâm sức cho việc nghiên cứu và dành rất ít thời gian cho việc giảng dạy tại lớp.

Nghiệp Tân, một ứng viên tiến sỹ tại Khoa Cơ khí của Đại học Chiết Giang, Hàng Châu cho hay các học giả hồi hương duy nhất tại trường này là các giáo sư bán thời gian, những người vẫn giữ cương vị ở nước ngoài. "Họ giúp trường đánh bóng tên tuổi và có thể về nước, giảng bài một hay hai lần mỗi năm. Chúng tôi hiếm khi được gặp họ".

Kết thúc cơn sốt trở về?

Hy vọng lớn nhất cho việc giải quyết những khó khăn trên có thể nằm ở việc tiếp tục phát triển giáo dục sau đại học của Trung Quốc. Một số học giả cho rằng khi các trường đại học của Trung Quốc trở nên cạnh tranh hơn, đào tạo ra các cử nhân xuất sắc hơn thì việc chú trọng vào kinh nghiệm của nước ngoài sẽ giảm đi.

Trần Trí Mẫn, một giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Phúc Đán ở Thượng Hải, nói rằng trong khi các trường đại học hạng hai có thể vẫn duy trì các biện pháp tuyển dụng bất công bằng thì trường của ông đang tiến tới sự hợp lý.

Ông Trần, người đã theo đuổi một mô hình truyền thống hơn của một tiến sỹ người Trung Quốc từng giành được học bổng 18 tháng tại Đại học danh tiếng Havard, khẳng định: "Trước đây, chúng tôi từng có các chính sách vô cùng đặc biệt dành cho các học giả hồi hương. Ngưỡng tuyển dụng hiện đã được nâng lên cao hơn. Nếu bạn không hoạt động tốt ở ngoại quốc thì bạn sẽ không có được đối xử ưu đãi".

Theo ông Trần, càng ngày những người hồi hương muốn có được một vị trí trong đội ngũ nhân viên của trường Fudan phải cạnh tranh với số lượng lớn các đối thủ được đào tạo trong nước. Tuy nhiên, trước sức hút của một Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh, các học giả tu nghiệp ở nước ngoài vẫn tiếp tục trở về cùng với một bộ phận nhỏ nhưng ngày càng tăng các học giả ngoại quốc thích được làm việc ở đại lục.

"Chúng tôi vừa mới thuê một nhà nghiên cứu người Ireland để tới làm giảng viên, như phần còn lại trong chúng tôi. Chúng tôi coi đây là một xu hướng mới", ông Trần nói.

Thanh Bình -Báo Việt Nam Net Theo The Chronicle of Higher Education)

Người theo dõi